Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 20/4/2005.
Trái tim yêu dấu của Mẹ, trong chương trước [Xem quyển 2], thày có giảng cho con tiến trình qua đó mọi thứ trong vũ trụ vật chất đã được đem vào thị hiện. Thày có giảng là mọi thứ khởi đầu như một ý tưởng chung chung nơi cõi bản sắc, sau đó được hạ xuống thành một ý tưởng rõ ràng hơn nơi cõi tư tưởng, sau đó trở nên rõ ràng hơn nữa và nhận được động lượng và định hướng nơi cõi cảm xúc, và sau đó thể hiện như một hình tướng hay một hành động nơi cõi vật lý.
Thày có hứa là sẽ làm cho giáo lý này thực tiễn hơn, và thày sẽ làm điều này trong chương này bằng cách áp dụng nó cho câu hỏi làm sao con có thể thị hiện đời sống dồi dào cho con và mọi sự sống khác trên hành tinh này. Chúng ta hãy bắt đầu với một đề tài cốt yếu cho việc thị hiện đời sống dồi dào, đó là uy lực sáng tạo của con, uy lực thật giúp con thể hiện mọi thứ. Nếu con đã nghiên cứu các phương pháp dạy cách đạt phồn thịnh mà con tìm thấy trên hành tinh, thì con thấy nhiều phương pháp nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt mục đích, có một viễn quan rõ ràng về những gì con muốn đạt. Đây là một phần rất quan trọng trong việc thể hiện đời sống dồi dào, vì quả thật Thánh kinh có nói: “Khi không có viễn quan thì con người mạng vong” (Proverbs 29:18). Nếu con không biết mình muốn thể hiện gì, thì làm sao con có thể mang nó vào hiện thực, đặc biệt là khi con so sánh với lời giảng của thày là mọi thứ được cấu tạo từ Ánh sáng Mẫu-Vật đã khoác vào một hình tướng vì một tâm có tự nhận biết đã áp chồng một hình ảnh lên nó. Con có thể đã nghe nói đến quan niệm lập một bản đồ kho tàng, chỉ giản dị là một tập hợp hình ảnh minh họa điều con muốn thấy thể hiện trong đời mình, tỷ dụ như được giàu có hơn, có một căn nhà xinh đẹp để ở, hay các điều kiện khác. Đây quả thực là một phương pháp thể hiện dồi dào có giá trị, nhưng nó có một số giới hạn. Con có thể có viễn quan tốt nhất nhưng thiếu uy lực để mang nó vào thể hiện. Trong chương này, thày sẽ chú tâm vào khía cạnh uy lực và sau đó chúng ta sẽ nói đến cách con trong lọc viễn quan và có viễn quan cao nhất về khả năng sáng tạo của mình.
1.1. Chìa khóa của dồi dào là bốn thể phàm thanh khiết
Chìa khóa thật để thể hiện đời sống dồi dào là cho phép ánh sáng thuần khiết của Thượng đế tuôn chảy qua bốn thể phàm của con. Nếu ánh sáng có thể tuôn chảy mà không bị cản trở hay pha loãng, thì đời sống dồi dào của Thượng đế sẽ được thể hiện như hoàn cảnh vật chất của con. Nếu bốn thể phàm của con quả thật trong sạch, thì ánh sáng của Thượng đế sẽ tuôn chảy qua chúng mà không bị pha loãng. Con nhìn cuộc đời của Giê-su như thí dụ một người đã trong lọc bốn thể phàm của mình. Giê-su đã đạt được một trình độ biết là thày không hành động với uy lực của riêng thày. Thày không hành động chỉ bằng thân thể vật lý mà thôi. Thậm chí thày cũng không chỉ dùng năng lượng tâm lý, là năng lượng đã được đem vào các cõi bản sắc, tư tưởng và cảm xúc. Giê-su biết là riêng thày không làm gì được (John 5:30) vì chính đấng Cha trong thày đang làm công việc (John 5:17). Đấng Cha bên trong thày là Hiện diện TA LÀ của thày và ánh sáng của Thượng đế. Giê-su biết rằng nếu không có ánh sáng thuần khiết của Thượng đế thì thày sẽ không làm được điều gì có giá trị, không làm được điều gì có giá trị vượt thời gian.
Khi nhận biết điều này, Giê-su mở tâm ra và thanh lọc bốn thể phàm của thày do đó ánh sáng Thượng đế có thể chảy qua bốn thể này và được tâm vỏ ngoài của thày điều khiển. Lẽ dĩ nhiên, tâm của thày hoàn toàn thẳng hàng với sứ vụ thiêng liêng của thày trong kiếp hiện thân đó. Giê-su quả thực đã dùng cả bốn thể phàm của thày khi thày thị hiện điều gì đó. Ví dụ như khi Giê-su đánh thức Lazarus sống lại từ cõi chết (John 11:1), Giê-su còn không vào trong mồ. Thày đứng ngoài mồ, thày tập trung hết sức và thốt lên: “Lazarus, hãy bước ra!” (John 11:43). Khi nói câu này, thày không nói nhẹ nhàng. Thày không cầu nguyện, thày không đòi hỏi. Thực ra, thày chủ trì bốn thể phàm của thày và với tất cả sức mạnh từ toàn thể bản thể, thày ra mệnh lệnh. Mệnh lệnh này có toàn uy lực và cường độ của giọng nói của thày. Giọng nói của thày thấm đậm cường độ của xúc cảm của thày, của tình thương vô điều kiện của thày đối với Lazarus. Cảm xúc của thày biểu hiện trọn vẹn viễn quan tinh khiết thấy Lazarus tỉnh lại và được chữa lành, viễn quan mà thày giữ trong thể lý trí của thày. Giê-su biết một cách chắc chắn tuyệt đối là uy lực của Thượng đế có thể truyền sự sống trở lại cho một thân xác chết. Thể lý trí của thày có uy lực từ cảm nhận bản sắc biết rằng mình là con trai của Thượng đế, là người đồng-sáng tạo với Thượng đế có mặt ở đây để thị hiện đời sống dồi dào trong vũ trụ vật chất. Như Giê-su nói: “Ta tới đây để họ được sự sống, và để họ được sự sống hơn nữa” (John 10:10).
Vì bốn thể phàm của Giê-su thanh khiết, uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua chúng và đánh thức các tế bào và nguyên tử của xác thân Lazarus, thanh lọc chúng khỏi những hình tư tưởng không toàn hảo của bệnh tật và làm cho hồn của ông có thể nhập lại vào thân, lúc ấy đã được thanh lọc khỏi mọi bệnh tật. Thày biết rằng nhiều người ngày nay, ngay cả nhiều tín đồ Ki-tô không chú ý tới các phép lạ của Giê-su hay bác bỏ chúng coi là mê tín. Chúng không phải là sản phẩm của tưởng tượng, những người viết Thánh kinh cũng không thêm chúng vào để nâng cao Giê-su thành một người làm được phép lạ. Những phép lạ này quả thực có thật, chúng là kết quả của việc Giê-su đã thanh lọc bốn thể phàm của thày khiến cho uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua chúng với toàn lực. Qua Giê-su uy lực của Thượng đế có thể làm những điều mà người trong trạng thái tâm thức bình thường xem là phép lạ. Những điều này không là phép lạ, chúng chỉ là quy luật tâm linh cao được thực thi trong vũ trụ vật chất, do đó quy luật này thay thế các quy luật vật chất với những giới hạn của chúng.
Hãy để thày cho con một ý niệm đồng-đo lường uy lực của Thượng đế, uy lực mà bất cứ ai đi con đường quả vị Ki-tô mà Giê-su đã chứng minh đều có được. Một lần nữa, con hãy xem xét lời của Giê-su: “Những ai tin ta, những việc mà ta làm, họ sẽ làm được; và những việc lớn lao hơn thế nữa, họ cũng sẽ làm được” (John 14:12). Con nghĩ Giê-su hứa suông ở đây chăng? Rất nhiều tín đồ Ki-tô không chú ý tới lời nói này. Thày có thể bảo đảm với con là lời nói này mô tả sự thực là mỗi con người trên trái đất đều có tiềm năng Ki-tô. Nếu con muốn đi theo con đường Giê-su đã đi, con đường vượt qua ngã hữu diệt, đâm chết con rồng của ngã hữu diệt, lúc ấy con có thể làm những gì Giê-su đã làm. Thượng đế có thể làm cùng những việc qua con mà Thượng đế đã làm qua Giê-su. Khi uy lực của Thượng đế tuôn chảy không bị pha loãng xuyên qua bốn thể phàm của con, những điều Thượng đế có thể làm được không giới hạn.
1.2. Uy lực sáng tạo của Thượng đế không thể tuôn chảy qua tâm nhị nguyên tách biệt
Tâm nhị nguyên bắt nguồn từ cảm nhận tách biệt khỏi cội nguồn của con, khỏi Bản thể cao của chính con và Thượng đế. Vì tách biệt, con không tin là Thượng đế có thể làm việc xuyên qua con và do đó con bác bỏ khả năng Thượng đế có thể làm việc xuyên qua con. Các tin tưởng nhị nguyên chồng chất trong bốn thể phàm của con ngăn chặn dòng chảy của ánh sáng Thượng đế và do đó uy lực sáng tạo của con teo lại chỉ còn một phần li ti của tiềm năng thật của nó. Con được thiết kế để uy lực Thượng đế tuôn chảy qua bốn thể phàm của con và khi bốn thể này trong dạng thanh khiết của chúng, chúng có thể cầm giữ uy lực lớn lao như Giê-su đã chứng minh. Khi con đi xuống tâm thức tách biệt và nhị nguyên, uy lực không thể tuôn chảy nữa. Giờ đây, con tin rằng con là người hành động, con hành động với uy lực của chính mình và con có thể hành động độc lập với Thượng đế và ánh sáng của Thượng đế. Mọi thứ đều làm từ Ánh sáng Mẫu-Vật cho nên không thể làm bất cứ gì mà không có ánh sáng Thượng đế. Câu hỏi duy nhất là con hành động với ánh sáng thuần khiết của Thượng đế hay ánh sáng đã bị hạ xuống một quang phổ thấp hơn.
Đây là một sự khác biệt tinh tế mà hầu hết đã không chú ý tới, kể cả nhiều vị thày tâm linh. Khi cảm nhận bản sắc của con trụ vào thân vật lý, con chỉ có thể hành động bằng cách dùng năng lượng rung động trong quang phổ vật lý. Vì tâm thức của con không thể nhìn vượt quá quang phổ này, con không thấy được bất cứ liên hệ nào giữa năng lượng vật chất và Thượng đế. Con không thể thấy được là ngay cả chất vật lý cũng được cấu tạo bằng ánh sáng của Thượng đế, ánh sáng đã được hạ độ rung và khoác lên một hình dạng đặc thù. Con không thấy được là Thượng đế là nguyên nhân duy nhất đằng sau hằng hà biểu hiện. Vì những lời dối trá nhị nguyên đã được lập trình trong tâm con bởi ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian, con chối bỏ hiện diện của Thượng đế ngay nơi con. Sự chối bỏ này ngăn chặn không cho Thượng đế làm việc qua con, vì Thượng đế không bao giờ vi phạm chính Luật Tự quyết của ngài. Khi con vượt qua ảo tưởng tách biệt bằng cách cho phép tâm Ki-tô ở trong con, con nhận ra rằng con, có nghĩa là tâm vỏ ngoài và ngã hữu diệt, không phải là người hành động. Mọi chuyện đều được làm với năng lượng của Thượng đế cho nên Thượng đế luôn luôn là nguyên nhân tối hậu. Con có thể tiếp tục duy trì ảo tưởng tách biệt qua đó con giam mình trong một phần li ti của tiềm năng sáng tạo thực sự của con. Làm như thế là một chọn lựa, không phải là một điều kiện mà một Thượng đế giận dữ áp đặt lên con. Cũng có thể nói nó là một điều kiện mà một thượng đế giận dữ áp đặt lên con, thực ra là một thượng đế giả, sinh thể giận dữ ở trên trời, do ông hoàng thế gian và tâm thức tập thể của nhân loại tạo ra. Khi con bắt đầu nắm được chân lý của Ki-tô, con nhận ra con có tiềm năng lấy lại sứ vụ ban đầu của con là người đồng-sáng tạo với Thượng đế thật, chính là Thượng đế nội tại lúc nào cũng mong muốn con đồng sáng tạo đời sống dồi dào mà ngài hình dung cho con. Giê-su đã tới để giải thoát mọi người khỏi những hạn chế của ngã hữu diệt và lý luận nhị nguyên đã giới hạn uy lực Thượng đế nơi họ và ngăn cản Thượng đế làm việc xuyên qua họ.
1.3. Uy lực sáng tạo của người trung bình so với tiềm năng tối đa
Mọi sự đều là rung động, mọi sự đều là năng lượng. Các nhà khoa học của con đo sự rung động của năng lượng bằng cách tính số chu kỳ mỗi giây của sóng năng lượng, được chuyển thành một đơn vị đo lường gọi là Hertz. Thày không nói là những con số thày cho con ở đây nhất thiết là con số thật. Thày chỉ giản dị cho con một ví dụ để cho con thấy sự khác biệt và tỷ lệ giữa điều gì thực sự có thể làm được và điều mà đa số con người hiện nay làm được trên trái đất. Mọi thứ trong bốn tầng của vũ trụ vật chất được làm bằng năng lượng rung động ở một tần số nào đó. Hãy cho rằng ánh sáng thuần khiết của Thượng đế đi vào quang phổ vật chất ở tầng cao nhất của cõi bản sắc, nó rung động ở tần số 100,000 Hz hay chu kỳ mỗi giây. Chức năng tự nhiên của thể bản sắc của con là nó kết tinh năng lượng lỏng của Thượng đế thành một hình ảnh đặc thù hơn về điều nó muốn sáng tạo trong vũ trụ vật chất. Khi làm thế, thể bản sắc của con hạ thấp tần số của năng lượng. Trong kịch bản lý tưởng, năng lượng được hạ thấp xuống tần số 75,000 Hz, sau đó nó chảy xuống cõi tư tưởng, quang phổ lý trí. Lúc ấy tư tưởng của con lấy bản thiết kế tổng quát tạo ra trong thể bản sắc và tư tưởng làm cho nó đặc thù hơn nữa, qua đó bản thiết kế này được hạ tần số thấp hơn cho tới khi nó đạt tới mức rung động 50,000 Hz. Ở tần số này, nó chảy vào tầng cao nhất của cõi cảm xúc. Cảm xúc của con lúc ấy làm cho kế hoạch của tư tưởng đặc thù hơn nữa và cho nó một định hướng rõ ràng. Điều này hạ giảm tần số xuống 25,000 Hz, sau đó năng lượng đi vào cõi vật lý, quang phổ vật lý.
Cõi vật lý, quang phổ vật lý, bao gồm các rung động từ 1 tới 25,000 Hz. Có nghĩa là trong kịch bản lý tưởng, tâm ý thức của con sẽ đồng sáng tạo bằng cách điều khiển ánh sáng rung động ở tần số 25,000 Hz hay thấp hơn mức này một chút. Mọi thứ trong vũ trụ vật chất được tạo ra từ Ánh sáng Mẫu-Vật được khuấy động thành rung động bởi sức sáng tạo của Cha. Lực sáng tạo này tuôn chảy qua Giê-su khi thày đánh thức Lazarus tỉnh dậy từ cõi chết. Chính uy lực sáng tạo của Thượng đế đã tuôn chảy qua bốn thể phàm của Giê-su và tác động lên Ánh sáng Mẫu-Vật là chất cấu tạo các tế bào và phân tử của thân thể Lazarus. Vì uy lực sáng tạo có thể tuôn chảy không pha loãng, uy lực của Thượng đế đi vào cõi vật chất ở mức rung động tối đa 25,000 Hz. Do đó uy lực của Thượng đế có sức mạnh để truyền ánh sáng trở lại vào các tế bào chết của thân Lazarus.
Quả thực, một người có thể có uy lực điều khiển ánh sáng ở tần số 25,000 Hz. Đây là tiềm năng sáng tạo cao nhất của một người trên trái đất. Nếu con xem Ánh sáng Mẫu-Vật giống như đại dương và cách con thị hiện mọi sự trong vũ trụ vật chất là khuấy động đại dương của Ánh sáng Mẫu-Vật thì hiển nhiên là con càng có nhiều uy lực đằng sau các nỗ lực của con thì con có thể sáng tạo những ngọn sóng lớn hơn và do đó con có nhiều uy lực hơn để thị hiện mọi sự.
Để so sánh, uy lực mà Giê-su có để thị hiện điều gì đó là do tâm ý thức của thày có thể cầm giữ và điều khiển ánh sáng rung động ở tần số 25,000 Hz. Điều này đáng kể vì nếu con có thể điều khiển một sóng ánh sáng có tần số rất cao chĩa vào một dòng sóng ánh sáng có tần số thấp hơn hẳn, con có thể nâng độ rung của ánh sáng có tần số thấp. Khi Giê-su đánh thức Lazarus tỉnh dậy từ cõi chết, thày điều khiển một sóng ánh sáng có tần số rất cao vào các sóng ánh sáng cấu tạo nên thân thể Lazarus. Dù các sóng ánh sáng của thân thể Lazarus đã đi xuống một tầng rung động rất thấp là tầng rung động của vật chất chết cứng, uy lực của Giê-su mạnh đến độ nó có thể thay đổi mức rung động của các sóng tần số thấp này. Các sóng này trở lại rung động ở mức có thể hỗ trợ sự sống ý thức và điều này truyền lại sự sống vào thân thể Lazarus, khiến cho hồn của ông có thể đi vào thân thể trở lại. Nếu con có uy lực đó, con có thể truyền lại sức sống vào hoàn cảnh tài chánh của con và vượt qua bất cứ giới hạn nào mà con đang đối mặt.
Uy lực sáng tạo của Giê-su ở mức 25,000 Hz. Đây là mức tâm thức thày đạt được nhờ bốn thể phàm của thày thanh khiết và do đó chúng có thể là ống dẫn hay dụng cụ biến thế cho lượng uy lực tối đa. Để con có ý niệm so sánh, một người trung bình trên hành tinh trái đất hiện nay không có khả năng điều khiển ánh sáng rung động với tần số cao hơn 1,000 Hz với tâm ý thức của họ. Nhiều người không có khả năng cầm giữ ánh sáng rung động cao hơn 500 Hz trong tâm họ. Điều này cho thấy sự khác biệt lớn lao giữa uy lực sáng tạo của người trung bình và uy lực sáng tạo của Giê-su. Thày đang không tìm cách đưa Giê-su lên bệ cao. Ngược lại thày đang cố giúp con chấp nhận tiềm năng thực của con bằng cách đề cập tới Giê-su như một ví dụ của một người không giới hạn khả năng của Thượng đế làm việc xuyên qua mình. Có thể con nhìn vào sự khác biệt và nghĩ con không thể thu hẹp khoảng cách giữa mức nhận biết hiện tại của con và tâm thức Giê-su. Đây là một ảo tưởng bởi vì bốn thể phàm của con được thiết kế để cầm giữ ánh sáng rung động ở mức thày mô tả. Cho dù con chưa tưởng tượng mình có thể sử dụng uy lực mà Giê-su chứng tỏ, con nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu con nhân đôi mức uy lực hiện tại của con. Mục đích này phải là điều ai cũng làm được và lẽ hiển nhiên nó sẽ đẩy mạnh nỗ lực của con để thị hiện đời sống dồi dào. Thày cho con hai mục tiêu, tiềm năng cao nhất và mục tiêu trung gian. Con hãy nỗ lực để nhân đôi uy lực hiện tại của con, và sau đó dùng nó làm bàn đạp để đạt được nhiều hơn nữa.
Nhiều khoa học gia nói hiện nay con người dùng từ 5% tới 10% khả năng não bộ của mình. Nếu con lấy một thiết bị được thiết kế để dùng điện 220 Volt và cắm vào ổ điện 110 Volt, thì thiết bị sẽ không chạy được, giản dị vì không đủ năng lượng điện cho nó chạy. Có những trung tâm não bộ của con được thiết kế để hoạt động với năng lượng ở tần số cao, nghĩa là não bộ vật lý của con được thiết kế để làm ống dẫn cho năng lượng cao tới 25,000 Hz. Nếu không có năng lượng ở tần số đó đi vào não bộ vật lý của con từ thể tình cảm, các trung tâm não bộ này sẽ ngủ yên vì không có đủ điện lực cao để kích động chúng. Các chức năng cao của não bộ đang ngủ yên với hầu hết con người. Nếu con quả thực biểu hiện đời sống dồi dào, con cần tinh lọc bốn thể phàm để con có thể trở về trạng thái tự nhiên, khi uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua bốn thể phàm mà không bị pha loãng và hạ giảm thấp hơn mức rung động tự nhiên. Khi con thanh lọc bốn thể phàm của con, tâm ý thức của con sẽ nhận thêm nhiều năng lượng có tần số cao và do đó con gia tăng cường uy lực sáng tạo của con.
1.4. Mất kết nối với thực tại Ki-tô đưa tới đời sống vật lộn
Điều gì hạ giảm lượng uy lực tới được tâm ý thức của con? Nguyên nhân là những điểm tắc nghẽn nơi bốn tầng của tâm con, nơi các thể bản sắc, lý trí và cảm xúc và ở tâm vật lý của con – các tầng tâm mà một số tâm lý gia gọi là tâm tiềm thức của con. Những điểm nghẽn này sẽ ngăn cản ánh sáng tuôn chảy xuyên qua các thể này hoặc hạ độ rung của ánh sáng và do đó hạ giảm uy lực của ánh sáng. Có thể có những điểm tắc nghẽn ở mọi tầng của tâm phàm và đây quả thực là trường hợp của hầu hết mọi người trên hành tinh trái đất. Với hầu hết, vấn đề thực sự là các điểm tắc nghẽn trong thể bản sắc của họ. Nếu một người tin họ là một người hữu diệt, bị hạn chế trong những gì thân vật lý làm được, và nếu tin tưởng này ăn sâu trong thể bản sắc của họ, ánh sáng Thượng đế chảy xuyên qua thể bản sắc của người đó sẽ bị hạ giảm nhiều hơn rất nhiều so với sự hạ giảm tự nhiên từ 100,000 xuống tới 75,000 Hz. Hầu hết mọi người trên trái đất có những tin tưởng trong thể bản sắc hạ giảm rung động của ánh sáng Thượng đế từ 100,00 xuống tới dưới 2,000 Hz.
Điều gì giúp cho con sống, điều gì giúp bốn thể phàm hoạt động, chính là ánh sáng của Thượng đế tuôn chảy xuyên qua chúng. Ánh sáng thuần khiết của Thượng đế đi vào thể bản sắc ở độ rung 100,000 Hz. Nếu thể bản sắc thể hạ độ rung đó xuống 2,000 Hz, uy lực sáng tạo của con ngay từ đầu đã bị hạ giảm trầm trọng. Ngay cả trước khi năng lượng đi vào thể tư tưởng, nó đã bị hạ giảm xuống một mức rất thấp do đó tư tưởng con đã bị giới hạn trong khả năng của chúng. Sau đó tư tưởng của con sẽ hạ giảm rung động thêm nữa và do đó năng lượng đi vào thể cảm xúc ở một mức thấp hơn nhiều so với tự nhiên. Điều này hạ giảm uy lực cảm xúc của con. Vai trò của cảm xúc là đem lại định hướng và động lượng cho những gì tư tưởng của con thiết kế. Như thày đã giải thích trong trường hợp Giê-su vực Lazarus sống dậy, cần năng lượng ở một tần số cao để có thể truyền ánh sáng vào các tế bào chết. Nếu con không có tần số ánh sáng đó trong thể cảm xúc và tâm ý thức của con, thì có gì lạ không khi các mục tiêu của con không hiển thị được? Có gì lạ không khi các tế bào thân thể của con dần dà không còn khả năng cầm giữ sinh lực sống và do đó biểu hiện bệnh tật và tuổi già? Bệnh tật, tuổi già và cái chết vật lý một phần do sự hạ giảm uy lực ánh sáng khi nó xuống tới quang phổ của thân vật lý của con. Rốt cuộc thân thể hao mòn và không thể hoạt động đúng đắn thậm chí không thể sống còn. Hầu hết con người trên hành tinh này đã hạ giảm uy lực sáng tạo nhiều đến độ chỉ đủ ánh sáng tuôn chảy xuyên qua bốn thể phàm để sống còn. Đó là lý do tại sao rất nhiều người cảm thấy cuộc sống là một vật lộn, như là họ chỉ đang sống sót. Họ chỉ sống sót vì họ chỉ còn chút xíu ánh sáng tuôn chảy xuyên qua bốn thể phàm để giữ cho xác thân và tâm ý thức hoạt động.
Tình trạng tương tự một thiết bị mà dòng điện bị hạ giảm đến độ thiết bị hầu như không quay nổi. Con hãy tưởng tượng một máy giặt quay quá chậm tới độ cần hai ngày để giặt xong một tải đồ giặt. Con sẽ nói chắc chắn máy giặt bị hư nhưng vì hầu hết con người chưa bao giờ trải nghiệm tiềm năng thực của họ, chưa bao giờ thấy người nào sinh hoạt với tiềm năng thực, nên họ cho rằng tình trạng uy lực giảm thiểu của họ là bình thường. Họ nghĩ điều ấy không thể tránh, họ nghĩ đấy là tiềm năng thực của họ. Thực tế là nó thấp xa tiềm năng thực của họ đến độ một người thày tâm linh như thày đôi khi cảm thấy như muốn bóp chặt tay mình trong tuyệt vọng, đặc biệt khi nghe một số người nói rằng tình trạng vật lộn hiện thời của họ là bình thường, tự nhiên, không thể tránh hay thậm chí còn do Thượng đế muốn thế.
Điều này gần như không thể tin nổi và hơn lúc nào hết minh chứng điều gì có thể xảy ra khi con người đi xuống tâm thức nhị nguyên và đánh mất mọi cảm nhận nối kết với thực tại của tâm Ki-tô. Thực tại của tâm Ki-tô là con có khả năng sử dụng ánh sáng rung động ở mức 25,000 Hz. Với mức uy lực sáng tạo hiện nay của con, có thể là con chỉ sử dụng được ánh sáng trên 1,000 Hz và đấy chỉ là bốn phần trăm của tiềm năng trọn vẹn của con. Nếu con biết và thực sự tin là con có thể gia tăng uy lực sáng tạo tới mức mà Giê-su đã chứng minh, hiển nhiên là con sẽ cố gắng gia tăng uy lực sáng tạo của mình. Nguyên nhân duy nhất khiến con người chối bỏ tiềm năng tận dụng uy lực sáng tạo chỉ có thể là vì họ đã bị mắc kẹt quá sâu trong tâm thức nhị nguyên đến độ hoàn toàn đánh mất ý niệm đồng-đo lường. Họ đánh mất tiêu chuẩn Ki-tô minh chứng có cái gì đó khác với tình trạng vật lộn và khổ đau hiện thời của họ. Con thấy chăng sự trớ trêu khi rất nhiều tín đồ Cơ đốc tôn thờ Giê-su nhưng lại coi thày là người con trai duy nhất của Thượng đế và do đó là người duy nhất có thể đạt được uy lực sáng tạo đó. Mục đích chính của sứ vụ Giê-su là minh chứng mức uy lực sáng tạo bình thường và tự nhiên của tất cả mọi người. Coi Giê-su như người con trai duy nhất của Thượng đế là sự bẻ quẹo hoàn toàn ý định thực đằng sau sứ vụ Giê-su. Vì nó trực tiếp đi ngược sứ vụ Ki-tô, nên nó chỉ có thể phát xuất từ một chỗ, chính là tâm phản Ki-tô. Chỉ có tâm phản Ki-tô mới có thể phá hủy gương của Giê-su bằng cách biến thày thành một thần tượng và đặt thày lên cái bệ vượt khỏi tầm với của bất kỳ con người nào.
1.5. Con cần giải trừ cái mà con đã tạo ra
Con yêu dấu, con cảm nhận được chăng lòng từ bi và nhiệt huyết của thày về điều này? Có rất nhiều người cầu nguyện thày mỗi ngày và đọc các bài nguyện của thày. Họ cầu nguyện thày như cầu vị thần trong chai. Khi đọc bài nguyện, họ chờ đợi thày sẽ nhảy ra khỏi chai và giải quyết mọi vấn đề của họ thay cho họ. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết và thày không có thẩm quyền và thày cũng không có ý muốn phủ quyết quyền tự quyết của con. Thày không thể giải thể cái mà con đã tạo ra vì đấy là việc làm của con, và đấy là cách duy nhất để con học từ những quyết định quá khứ của mình và qua đó khắc phục hình ảnh giới hạn về mình. Làm sao con có thể trở thành một sinh thể tâm linh tự túc bằng cách để cho thày giải quyết mọi vấn đề hộ con? Điều thày có thể làm được là chỉ cho con cách tăng cường uy lực sáng tạo của mình để con có thể – xuyên qua uy lực Thượng đế bên trong con – khắc phục cảm nhận vật lộn. Con có thể thay thế tất cả những vật lộn bằng vòng xoáy đi lên mà con tạo dựng khi con nhân lên các khả năng mà Thượng đế đã ban cho con. Đây là điều thày có thể làm, nhưng nó đòi hỏi con phải bỏ phương pháp cầu nguyện thụ động và thụ động chờ đợi thày làm việc hộ con. Thay vì cầu nguyện xin thày giải quyết các vấn đề hộ cho con, con phải cầu nguyện thày và nói: “Mẹ Mary, hãy chỉ cho con cách tăng cường uy lực sáng tạo của con để uy lực Thượng đế bên trong con có thể loại bỏ giới hạn này.” Điều này thày có thể làm, điều này thày sẽ làm, nếu con chịu mở tâm và trái tim ra đón nhận sự hướng dẫn nội tâm của thày và sự hướng dẫn nội tâm của cái ta Ki-tô của con. Các thày sẵn sàng chỉ cho con làm sao bước được bước kế trên cầu thang xoắn ốc cho tới khi con trở lại đỉnh cầu thang và thấy ánh sáng của Hiện diện TA LÀ của con tỏa rạng xuyên qua bốn thể phàm. Ánh sáng này có thể tuôn chảy qua các thể phàm của con và tạo ra trong cõi vật chất những điều mà tâm nhị nguyên coi là phép lạ. Đây là ước muốn của thày, đây là tâm huyết của thày.
1.6. Ba tầng cao ngăn chặn viễn kiến có ý thức
Làm sao con bắt đầu tiến trình thanh tẩy bốn thể phàm? Con hãy để thày bắt đầu giúp con hiểu tận tường hơn cách bốn thể phàm chuyển hóa ánh sáng thành hình tướng vật lý. Hãy cho rằng con đi tới kết luận muốn biểu hiện nhiều dồi dào hơn trong cuộc sống và con quyết định dùng một phương pháp tích cực. Con đã học một số thuyết chỉ cách dùng uy lực của tâm để thu hút dồi dào. Con đã chọn một tâm thái tích cực, quy định tầm nhìn rõ ràng và vẽ ra bản đồ kho tàng về những gì con muốn. Giờ đây mỗi ngày con làm nghi thức chú tâm vào viễn kiến mà con nhắm tới. Con đọc lời khẳng định hay cầu nguyện để tạo ra làn sóng năng lượng sẽ giúp con biểu hiện điều con hình dung hay giúp con thu hút nó về con. Nhiều người đã dùng cách tương tự để đem lại dồi dào trong cuộc sống của họ, tuy họ có thể dùng vài bước khác với những gì thày vừa mô tả. Thày không nói cách này không có giá trị. Thày chỉ muốn con hiểu điều gì cần xảy ra để cách này hiệu nghiệm. Vũ trụ là một tấm gương cho nên nếu con phóng ra một sóng năng lượng tích cực kết tinh lại chung quanh một viễn kiến đặc thù thì viễn kiến này phải được tấm gương vũ trụ phản chiếu ngược lại cho con như là hoàn cảnh vật lý. Điều này đúng thực, nhưng chúng ta có thể có một cái nhìn sâu sắc hơn về tiến trình đó. Trước khi năng lượng được gửi trả về con như hoàn cảnh vật lý, nó phải đi qua bốn tầng của vũ trụ vật chất kể cả bốn thể phàm của con. Nếu ở bất cứ tầng nào có bất cứ điều gì có thể vô hiệu hóa năng lượng tích cực của con hay chống lại viễn kiến dồi dào của con, uy lực của nỗ lực của con có thể bị giảm thiểu hay hoàn toàn bị ngăn chặn. Nếu con là căn nhà bị phân rẽ, con có những tin tưởng hay năng lượng bị tha hóa nơi tâm bản sắc, tư tưởng, cảm xúc hay tâm tiềm thức của con và chúng sẽ chống lại viễn kiến mà con đã hình thành trong tâm ý thức của con. Trừ khi con gỡ bỏ những chướng ngại này, đơn giản là nỗ lực của con sẽ không thành công. Con có thể tiếp tục phóng năng lượng tích cực từ tầng tâm ý thức nhưng chúng đều bị vô hiệu hóa ở các tầng cao hơn của chính tâm con. Nó sẽ không bao giờ quay ngược trở về cõi vật lý dưới hình dạng hoàn cảnh mà con mong muốn.
Cho tới giờ thày đã cho con một hình ảnh khá đường thẳng về bốn thể phàm của con. Thày đã nói ánh sáng Thượng đế trước tiên chảy xuống thể bản sắc và độ rung của ánh sáng dần dần giảm xuống. Sau đó ánh sáng đi vào thể tư tưởng, rồi vào thể cảm xúc và cuối cùng xuống tới thể vật lý. Thày biết chắc nhiều người đọc bài giảng này sẽ mường tượng một tiến trình đường thẳng với ánh sáng tuôn chảy theo một đường thẳng. Nghĩa là sẽ có một khoảng trống giữa tâm ý thức và tâm bản sắc của con. Nhưng thực ra, cuộc sống không đường thẳng mà giống quả cầu và mọi thứ phụ thuộc nhau. Để cho con một hình ảnh khác, tuy vẫn là hình ảnh đường thẳng, thày đề nghị con mường tượng một mặt đồng hồ. Đường chỉ 12 giờ tượng trưng cho tầng cao nhất của thể bản sắc của con. Ánh sáng trước tiên đi vào bốn thể phàm ở đường chỉ 12 giờ. Nếu con vẽ một đường từ 12 tới 6, con chia mặt đồng hồ thành hai nửa. Nếu con vẽ một đường khác từ 3 tới 9, con chia mặt đồng hồ thành bốn phần. Bây giờ con tưởng tượng mỗi phần tư của mặt đồng hồ tượng trưng cho một trong bốn thể phàm của con. Phần tư đầu tiên giữa 12 tới 3 tượng trưng cho thể bản sắc và ánh sáng bắt đầu chảy vào số 1 và sau đó tới số 3. Sau đó nó đi vào thể tư tưởng, chảy từ 3 tới 6, rồi đi vào thể cảm xúc và chảy tới số 9, nơi đây nó đi vào thể vật lý hay đúng hơn tâm vật lý. Khi ánh sáng chảy từ 10 tới 11 và tiếp tục đi xa hơn, chuyện gì xảy ra? Con đi hết vòng tròn và con trở lại điểm 12, có nghĩa là tâm ý thức của con không tách biệt khỏi thể bản sắc bởi một hố ngăn cách. Bốn thể phàm nối kết nhau và một hình ảnh còn đúng hơn hình ảnh mặt đồng hồ là thể bản sắc là một quả cầu, thể tư tưởng là một quả cầu nhỏ hơn nằm trong quả cầu rộng hơn của thể bản sắc, và tiếp tục như thế tới tâm vật lý. Tâm ý thức là một quả cầu nhỏ hơn nằm bên trong các quả cầu lớn hơn của các tầng khác của tâm.
Con hãy tưởng tượng con bắt đầu ở mức tâm ý thức và tạo ra viễn kiến dồi dào mà con muốn biểu hiện trong cuộc sống. Sau đó con dùng các lời khẳng định và cầu nguyện để thấm đậm viễn kiến này với năng lượng. Muốn cho năng lượng con phóng ra được tấm gương vũ trụ phản ánh lại thành hoàn cảnh vật lý mà con hình dung, năng lượng này phải chảy xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Mỗi tầng mà năng lượng chảy qua, viễn kiến của con phải đi qua phin lọc của những niềm tin mà con cầm giữ ở tầng đó của tâm con. Rất có thể viễn kiến bị ngăn chặn hay bóp méo bởi các niềm tin này và sức mạnh của năng lượng bị hạ giảm bởi những năng lượng bất toàn được tích lũy nơi các tầng cao của tâm. Ví dụ, nếu thể bản sắc của con giữ hình ảnh con là người tội đồ khốn khó không xứng đáng được dồi dào của Thượng đế, viễn kiến ý thức của con có thể bị vô hiệu hóa hoàn toàn bởi tin tưởng đó trước khi nó bắt đầu đi xuống thấp hơn để tới biểu hiện vật lý. Các niềm tin ở mỗi tầng của tâm là khung tham chiếu quyết định có nên thực thi xung lực đó, có nên gửi xung lực đó xuống tầng kế tiếp. Khi con gửi viễn kiến từ tâm ý thức, đầu tiên hết nó đi qua thể bản sắc của con. Nếu thể này có niềm tin là viễn kiến của con không thể biểu hiện được, lẽ hiển nhiên nó không thể đi xa hơn nữa.
1.7. Bất toàn ở ba thể cao ngăn chặn hay giảm thiểu xung lực do tâm ý thức phóng ra
Khi con tạo ra viễn kiến dồi dào, viễn kiến này chỉ biểu hiện được nếu nó vượt quá tầng vật lý. Nếu ý niệm bản sắc của con hoàn toàn giới hạn trong tâm vật lý và thể vật lý, con chỉ có thể làm việc với năng lượng trong cõi vật chất. Viễn kiến về điều con muốn thành tựu không thể đi xa hơn tầng năng lượng mà con có thể tác động với thân vật lý và tâm vỏ ngoài của con. Làm sao các nỗ lực hình dung dồi dào của con đạt được bất cứ điều gì vượt quá những điều mà con có thể làm được rồi với thân vật lý của mình?
Khi con mở tâm ra để sử dụng uy lực của viễn kiến, con gửi ra ngoài một xung lực năng lượng vượt quá thân vật lý. Giờ đây con tin rằng đời sống nhiều hơn những gì thấy được nơi cõi vật lý và phải có một phương cách biểu hiện dồi dào cao hơn là dùng thân thể. Con tạo ra một xung lực năng lượng đi từ tâm ý thức của con vào thể bản sắc. Nếu xung lực năng lượng này có thể chảy qua các tâm bản sắc, tư tưởng, cảm xúc và vật lý của con mà không bị ngăn chặn hay pha loãng, viễn kiến mà con muốn đạt được sẽ được biểu hiện ngay tức khắc như một thực tại vật lý của con. Đó là điều con thấy trong cuộc đời Giê-su. Giê-su quả thật đưa ra mệnh lệnh vật lý muốn nước biến thành rượu và điều này hiện thực ngay lập tức, y như Lazarus ngay lập tức thức dậy từ cõi chết khi Giê-su ra lệnh. Khi con cố gắng biểu hiện dồi dào, con tạo ra một xung lực năng lượng chảy vào thể bản sắc của con. Nơi thể bản sắc, một trong hai điều có thể xảy ra. Nếu thể bản sắc của con trong sáng, nếu viễn kiến ý thức của con thẳng hàng với viễn kiến Ki-tô cho cuộc đời con, xung lực năng lượng của con sẽ thấm đậm uy lực không bị pha loãng của Thượng đế hiện hữu trong thể bản sắc của con. Xung lực năng lượng này mạnh hơn nhiều xung lực mà con có thể tạo ra với tâm ý thức của con.
Nếu thể bản sắc của con bị nhiễm bẩn bởi một hình ảnh bất toàn về mình, xung lực năng lượng của con sẽ yếu đi. Xung lực có thể bị hoàn toàn ngăn chặn bởi ý niệm mình là một con người hữu diệt không có uy lực biểu hiện dồi dào. Có thể con có ý niệm mình là người tội đồ khốn khổ không xứng đáng nhận được điều mà tâm ý thức của con mong ước. Hoàn toàn có thể là nỗ lực biểu hiện dồi dào của con, tất cả nỗ lực đầy tâm huyết và thiện ý của con khi dùng lời khẳng định, cầu nguyện và dùng uy lực hình dung đều bị ngăn chặn ở tầng thể bản sắc của con.
Cũng có thể là một phần năng lượng con tạo ra với tâm ý thức sẽ được gửi tới thể tư tưởng của con sau khi đi qua thể bản sắc. Năng lượng này có thể bị pha loãng, có thể được tăng cường nhưng nó đi vào được tầng tư tưởng. Chuyện gì xảy ra nếu con có ý tưởng không toàn hảo trong thể tư tưởng? Những ý tưởng này có thể ngăn chặn hoàn toàn năng lượng hoặc chúng có thể giảm thiểu hay thay đổi viễn kiến. Cũng vậy khi năng lượng xuống được tới thể cảm xúc của con, những cảm xúc bất toàn như sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hay hổ thẹn có thể ngăn chặn hay giảm thiểu xung lực năng lượng. Ở tầng tâm vật lý của con, những lớp tiềm thức có thể ngăn chặn hay bóp méo năng lượng. Nếu có phần nào của năng lượng đi qua được tất cả các tầng của tâm con, nó sẽ đi vào cõi vật lý nhưng nó có phải là một xung lực mạnh lơn xung lực con đã gửi ra lúc ban đầu?
Nhiều người đã tới kết luận họ cần và muốn biểu hiện nhiều dồi dào hơn và họ có thể dùng uy lực của tâm để thể hiện điều này. Hầu hết những người này có đôi phần tâm linh cho nên mức nhận biết của họ cao hơn người thường. Giả dụ một người có khả năng dùng tâm ý thức để phóng ra một xung lực năng lượng rung động ở mức 2,000 Hz. Mức này khá cao so với người trung bình hiếm khi đi quá 1,000 Hz. Xung lực năng lượng này giờ đây đi vào bản sắc thể của người đó và vì người đó tâm linh hơn, ta hãy nói rằng xung lực năng lượng được nhân lên gấp đôi như Giê-su đã hứa hẹn trong câu truyện ngụ ngôn về sự nhân lên các đồng ta-lăng (hay khả năng). Giờ đây năng lượng lên tới 4,000 Hz và nó đi vào thể tư tưởng của người đó. Tình trạng tự nhiên là năng lượng từ thể bản sắc đi vào thể tư tưởng ở tần số 75,000 Hz. Như vậy chúng ta vẫn có ở đây một sự khác biệt vĩ đại so với tiềm năng thật sự của người đó. Bây giờ ta hãy cho rằng người đó có một số niềm tin không toàn hảo trong thể tư tưởng khiến xung lực bị hạ giảm. Nó không bị ngăn chặn nhưng sức mạnh bị hạ xuống còn 3,000 Hz và sau đó nó đi vào thể cảm xúc. Nơi đây có một số vết thương cảm xúc hạ giảm năng lượng thêm nữa. Thêm vào đó còn có một số vấn đề chưa được giải quyết trong tâm tiềm thức. Khi xung lực năng lượng trở lại cõi vật lý, nó trở về mức 2,000 Hz. Người này không nhân lên được uy lực sáng tạo của xung lực năng lượng và do đó, người này đang thực sự dậm chân tại chỗ mà chẳng đi tới đâu cả.
1.8. Không có giải pháp nhanh chóng
Thày đã quan sát hàng triệu người thành tâm đã học hỏi một kỹ thuật dồi dào nào đó, đã áp dụng nó bằng cách hình dung, nói lời khẳng định hay cầu nguyện. Họ nghĩ chúng sẽ đem lại dồi dào cho họ như các đạo sư dồi dào đã hứa hẹn. Trong một thời gian, họ hăng say làm những bài hình dung, nói lời khẳng định, cầu nguyện và họ nuôi hy vọng rất cao là trong phút chốc sự dồi dào mà họ mong muốn sẽ được biểu hiện. Vô số đã thất vọng và tim thày đau nhói khi thấy lòng hăng hái của họ tan biến và họ rốt cuộc cảm thấy nản chí và vỡ mộng. Cuối cùng họ chấp nhận điều mà ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian đã nói với họ ngay từ đầu là, như những con người bình thường khác, họ không có uy lực biểu hiện dồi dào từ không khí.
Nỗi đau nhói trong tim thày đã là một trong những động cơ chính thúc đẩy thày cho ra đời khóa học này. Nếu những người đó chịu quyết tâm nỗ lực thanh lọc bốn thể phàm của họ, thì nỗ lực biểu hiện dồi dào của họ sẽ không bị chính tâm họ ngăn chặn. Họ sẽ gia tăng uy lực sáng tạo của họ và dù rằng họ cần thời gian, cuối cùng họ sẽ bắt đầu thấy kết quả thực sự của tiến trình này.
Nhiều người bắt đầu tiến trình biểu hiện dồi dào vì tuyệt vọng, vì cảm thấy bị dồn vào chân tường và cảm thấy cần làm gì khác hơn để thoát nợ nần hay thoát cơn khủng hoảng này hay cơn khủng hoảng nọ. Thày muốn con nhìn vào yếu tố tâm lý đang vận hành ở đây. Nhiều người đã chấp nhận mức dồi dào hiện nay của họ là tất cả những gì họ xứng đáng hoặc họ có khả năng có. Họ đã tới mức cam phận chịu tình trạng dồi dào hiện nay của họ, hay đúng hơn là tình trạng thiếu thốn. Họ chấp nhận địa vị của họ trong cuộc sống và nghĩ họ không thể có gì khá hơn. Những người này sẽ không làm gì hết để biểu hiện dồi dào và hiển nhiên họ không có hy vọng tăng cường uy lực sáng tạo của họ. Con cũng có một nhóm người khác tới điểm quyết định họ phải làm gì khác. Khi tới quyết định trong tâm thái tuyệt vọng, khi phải đối mặt một khủng hoảng, họ muốn có kết quả nhanh chóng và tức khắc. Nếu không toại nguyện ngay tức khắc thì họ thường nản chí.
Những người tuyệt vọng thường dễ tin lời hứa hẹn của những đạo sư dồi dào đã tìm ra cách bán hàng bằng cách thao túng thể cảm xúc con người. Một số các vị đó nhận thấy là khi con người tuyệt vọng, họ muốn chộp cơ hội thoát ra nhanh chóng. Đạo sư nào đưa ra hứa hẹn tỉ mỉ nhất sẽ thu hút những người tuyệt vọng nhất. Kỹ thuật của các đạo sư dồi dào này không hữu hiệu nên học viên càng tuyệt vọng thêm, nhưng ít nhất về phía đạo sư, ông đã được học viên chọn và ông cũng đã hưởng thù lao cho mình trên công sức học viên. Ông cũng đã chứng minh hệ thống của ông hiệu quả – cho ông.
Trong khóa học này, thày không có ý định cống hiến cho con một giải pháp đi tắt. Thày không cống hiến một giải pháp đi tắt vì không có giải pháp đi tắt. Nếu con muốn biểu hiện dồi dào thật sự trong cuộc sống, thì con chỉ có một cách. Đó là cách con thanh tẩy một cách có hệ thống bốn thể phàm của con, vứt đi những niềm tin không toàn hảo và những năng lượng không thanh khiết đang ngăn chặn dòng chảy của dồi dào Thượng đế vào cuộc đời con. Nếu con sẵn sàng đi vào tiến trình này, thày có thể và sẽ giúp con. Thày sẽ cho con những dụng cụ cần thiết để thanh lọc bốn thể phàm như thày đã làm với các bài thỉnh đã công bố trước đây.
Con sẽ cần thời gian để thanh tẩy bốn thể phàm và lý do là những điểm nghẽn ánh sáng trong đó không được tạo ra một sớm một chiều. Một số được tạo ra trong tuổi thơ ấu và được củng cố suốt đời. Một số khác được tạo ra từ các kiếp trước, có thể là nhiều kiếp trước và do đó chúng đã được củng cố qua nhiều thế kỷ và thiên niên kỷ trong hành trình của con trên trái đất. Một số điểm tắc nghẽn được tạo ra ngay lúc con bắt đầu đi xuống tâm thức nhị nguyên và một số điểm tắc nghẽn đã ở với con từ lúc ngã hữu diệt được tạo ra.
Không dụng cụ nào có thể thiêu rụi các điểm tắc nghẽn đó trong giây lát. Ngay cả nếu một dụng cụ như vậy hiện hữu, thì đốt tan các niềm tin bất toàn trong giây lát sẽ khiến ý niệm bản sắc của con vỡ tan và con rơi vào khủng hoảng bản sắc, không còn biết mình là ai nữa. Điều này quả thực đã xảy ra cho những người đã tìm cách ép uổng tăng trưởng tâm linh bằng những biện pháp bất quân bình. Những dụng cụ thày cho con rất quân bình và do đó rất an toàn. Thày cho con những kỹ thuật mạnh đến độ con có thể tiêu trừ những điểm tắc nghẽn đã có mặt trong bốn thể phàm từ cả ngàn năm và con có thể làm điều này trong vòng vài tháng hay vài năm.
Trên trái đất này không có kỹ thuật nào mạnh đến độ có thể biến con thành một người toàn hảo ngay tức khắc. Đó là lý do vì sao thày đề ra một con đường tâm linh. Đó là lý do vì sao thày nói cứ mỗi bước con đi xuống cầu thang xoắn ốc và đi sâu hơn vào tâm thức nhị nguyên, thì con phải bước một bước ngược trở lên và dần dần leo lên cao. Không có con đường tắt bởi vì những năng lượng đã bị niềm tin tưởng bất toàn tha hóa phải được hoàn nguyên về trạng thái thuần khiết ban đầu trước khi con thoát khỏi chúng, trước khi chúng không còn ngăn chặn sự biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong cuộc sống của con nữa. Điều này hoàn toàn khoa học, thậm chí nó là một tiến trình phần nào máy móc mà ai ai cũng hoàn tất được với những dụng cụ thích hợp. Tiến trình thanh lọc cần thời gian và do đó nó không thể đem lại kết quả ngay tức khắc cho hầu hết con người. Nó đòi hỏi con phải quyết tâm và với hầu hết nó đòi hỏi sự cam kết tu tập trọn đời. Thày không nói con cần hết quãng đời còn lại mới thấy kết quả. Thày muốn nói là tiến trình leo lên cầu thang xoắn ốc phải được tiếp cận như một công việc hứng thú trọn đời. Suốt quãng đời còn lại của con trên trái đất, con sẽ tiếp tục leo từng bước một trên cầu thang này.
1.9. Kiên định theo tiến trình lâu dài, có ý thức và cố ý
Có thể là con đã bắt đầu tiến trình này từ các kiếp trước và con đã gần tới đỉnh cầu thang hơn con tưởng. Cũng có thể là trước khi con rời trái đất, con sẽ có thể biểu hiện một mức tâm thức Ki-tô cao, ngay cả mức tâm thức Ki-tô trọn vẹn như Giê-su đã chứng minh. Khi đó con có thể đi trên mặt đất trong tự do tâm linh thật sự, nghĩa là con không còn các điểm nghẽn nữa trong bốn thể phàm. Trong trạng thái tâm của con hiện nay, con không thể biết còn bao xa con tới đỉnh cầu thang xoắn ốc và đó là lý do tại sao thày muốn con chú ý tới một trong những lời nói quan trọng nhất của Giê-su: “Nhờ kiên nhẫn mà con giữ được linh hồn” (Luke 21:19).
Thày đã thấy rất nhiều người bắt đầu con đường tâm linh, bắt đầu dùng một kỹ thuật tâm linh với lòng đầy hăng say và hy vọng. Khi họ không được toại nguyện ngay tức khắc thì họ nản chí. Thậm chí, một số còn thất vọng, giận dữ hay chua chát. Thái độ này tất nhiên không giúp họ gia tốc tăng triển tâm linh mà còn đưa họ xuống thấp hơn trên cầu thang xoắn ốc, đưa họ sâu hơn vào nhị nguyên và tuyệt vọng. Thày không muốn bất cứ ai học khóa học này đâm đầu vào bức tường thất vọng vì thất vọng là một trong những cạm bẫy mạnh mẽ nhất do hoàng tử thế gian và ngã hữu diệt giăng ra. Đầu tiên hết chúng tìm cách ngăn cản con tìm ra đường tu tâm linh hay chấp nhận đường tu. Nếu chúng không thể ngăn con bắt đầu tiến bước trên cầu thang xoắn ốc, thì mỗi bước con đi lên, chúng sẽ tìm cách khiến con cảm thấy con không đi nhanh đủ, con không đạt được những kết quả mà con được hứa hẹn, những mong chờ không thiết thực mà chúng đã lập trình vào tâm con. Chúng sẽ cố khiến con rơi vào thất vọng, tuyệt vọng, nghi ngờ hay nóng giận để con ngừng tiến bộ và té xuống cầu thang trở về mức mà chúng cảm thấy có thể kiểm soát được con. Đấy là kế hoạch của chúng, đấy là thiết kế của chúng. Chỉ có một cách duy nhất để không rơi vào bẫy này là con tập trung tâm mình kiên cố vào hình ảnh con đang theo một tiến trình lâu dài một cách có ý thức và cố ý. Nó lâu dài vì con hiểu con cần làm công việc khó khăn là thanh tẩy bốn thể phàm khỏi những rác rưởi mà con đã tích tụ từ nhiều ngàn năm. Con nhận ra việc này cần thời gian và nỗ lực từ phía con. Con cũng nhận ra nếu con ra sức làm việc thì kết quả chắc chắn sẽ hiện ra. Đây không phải là chuyện mơ tưởng hão huyền, kỳ vọng hay mộng tưởng. Đây là một tiến trình rất khoa học. Tiếc thay, hầu hết không hiểu được nhu cầu đem xung lực đi qua cả bốn tầng của cõi vật chất và do đó nhiều người chân thành đã bỏ cuộc trước khi xung lực của họ sẵn sàng xuống tới cõi vật lý.
Con hãy tưởng tượng con bất thần tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài và nhận ra mình đang ở trong một tòa nhà tăm tối. Có rất ít ánh sáng vào tòa nhà nhưng con nhận thấy có một cửa sổ trên mái nhà. Khi con nhìn kỹ hơn, con nhận ra cửa sổ trên mái đầy bụi nên hầu như không có ánh sáng nào lọt qua được. Không có gì huyền bí về sự kiện này. Tấm kính trên cửa sổ mái nhà hoàn toàn có khả năng cho phép ánh sáng đi qua; đơn giản là ánh sáng bị ngăn chặn bởi những vết bẩn trên mặt kính. Nếu con bắt đầu ở một góc kính và chùi sạch bụi bẩn một cách có hệ thống, thì con có thể chùi sạch toàn bộ cửa sổ và tất nhiên ánh sáng sẽ chiếu xuyên qua và làm căn phòng sáng hơn. Nếu con chùi sạch một cách có hệ thống những mảnh kính tượng trưng cho bốn tầng của tâm con, ánh sáng của Thượng đế tất nhiên sẽ chiếu rạng qua tâm con. Ánh sáng này sẽ biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong trải nghiệm vật lý của con và nó sẽ cho con một trải nghiệm về cuộc sống mở rộng bao la, kể cả cho con nhận biết bản chất tâm linh của mình và mục tiêu thật của con khi tới trái đất.
1.10. Quyết định dựa trên sự thật Ki-tô
Con cần làm gì để thanh tẩy bốn thể phàm của mình? Những bước thực tế con cần làm để hoàn thành công việc này là gì? Trước đây thày có gợi ý những điểm nào làm nghẽn ánh sáng không chảy được vào tâm con. Thày đã nói mọi thứ đều xoay quanh quyền tự quyết và những chọn lựa của con. Mỗi chọn lựa mà con lấy dựa trên mức nhận biết hiện thời của con, mức hiểu biết và kiến thức của con và các mức này được quy định bởi những niềm tin con cầm giữ trong bốn tầng của tâm mình. Ở tầng của thể bản sắc, mỗi niềm tin được quy định bởi cách con nhìn chính mình, nhìn thế giới và nhìn tiềm năng biểu hiện những điều con mong muốn. Ở tầng của thể bản sắc, chúng ta tìm thấy một số niềm tin mà con đã chấp nhận và cho phép chúng đi vào quả cầu cái ta của con. Nếu con có một niềm tin trong thể bản sắc bị giới hạn so với viễn kiến thuần khiết của Ki-tô về tiềm năng của con, thì niềm tin này sẽ có nhiều hậu quả như:
- Niềm tin đó sẽ giới hạn khả năng đem ánh sáng từ Hiện diện TA LÀ của con xuống thể bản sắc. Ví dụ, nếu con tin mình là một con người hữu diệt, làm sao con chấp nhận được một dòng ánh sáng vô hạn chảy từ cái ta tâm linh của con? Tất nhiên con sẽ giảm thiểu lượng ánh sáng chảy vào thể bản sắc của con.
- Niềm tin đó sẽ tạo một phin lọc. Khi ánh sáng Thượng đế đi qua phin lọc này, nó bị hạ độ rung nhiều hơn mức hạ giảm tự nhiên đáng lẽ phải xảy ra nơi thể bản sắc. Nhiều người có một ý niệm bản sắc giảm ánh sáng từ 100,000 Hz xuống dưới 2,000 Hz. Điều này sẽ giảm lượng ánh sáng và cường độ ánh sáng chảy vào thể tư tưởng, cho nên nó giảm uy lực tư tưởng của con. Độ mạnh của ánh sáng khi nó đi vào thể tư tưởng quy định tiềm năng của uy lực của tư tưởng của con. Tư tưởng của con không thể mạnh hơn sức mạnh của ánh sáng đi vào thể tư tưởng của con.
- Niềm tin đó sẽ tha hóa một số lượng ánh sáng sẽ tích đọng trong thể bản sắc của con. Khi nó tích đọng, nó sẽ tạo một rào cản làm nghẽn thể bản sắc thể. Cuối cùng tầng này của tâm con có thể đầy những rác rưởi đến độ không còn chỗ cho một ý niệm bản sắc cao hơn và không có chỗ cho ánh sáng đi qua từ bên Trên và không có khe mở qua đó tâm ý thức của con có thể nhìn quá cõi vật chất và có được trải nghiệm tâm linh.
Giờ đây con thấy được hậu quả của những niềm tin bất toàn trên thể bản sắc của con. Một người có thể có một số tin tưởng bất toàn trong thể tư tưởng, chúng cũng sẽ đưa tới những hậu quả tương tự. Lẽ dĩ nhiên, mảnh kính giữa thể tư tưởng và thể cảm xúc cũng có thể bị tắc nghẽn và thể cảm xúc cũng có thể bị nghẽn như vậy. Tới khi ánh sáng đến được tâm ý thức của con là tầng tâm thức nơi con điều khiển ánh sáng đi vào hành động có ý thức, thì có rất ít ánh sáng đi qua được. Hậu quả có hai khía cạnh. Một khía cạnh là nó giảm uy lực sáng tạo mà con có được ở tầng não bộ và thân vật lý. Nó cũng giảm viễn kiến của con, khả năng nhìn quá cõi vật chất của con. Điều này xảy ra vì bình thường con tìm cách có một viễn kiến cao hơn bằng cách nhìn xuyên qua bốn thể phàm cho nên khi các mảnh kính bị ô uế, con không thể nhìn xuyên qua chúng với tâm ý thức của con.
Để thanh tẩy bốn thể phàm của con, con phải làm hai điều. Con phải khám phá một cách ý thức những niềm tin bất toàn mà con đã chấp nhận ở mỗi tầng tâm của con. Sau đó con sẽ phải thay thế một cách ý thức những niềm tin bất toàn này, những niềm tin nhị nguyên này bằng cách lấy những quyết định dựa trên sự thật của Ki-tô. Khi con thay thế một niềm tin bất toàn, con gỡ bỏ một phin lọc đã khiến ánh sáng của Thượng đế bị giảm cường độ và tạo nên những rác rưởi khiến cho ánh sáng không tuôn chảy tự do được. Giờ đây con đã vứt đi những đống tro, những rác rưởi đã tích đọng trong bốn thể phàm của con. Việc thứ hai con cần hoàn tất là gỡ bỏ năng lượng bị tha hóa trong bốn thể phàm của con. Lẽ tất nhiên hầu hết không ý thức về tiến trình này vì cả các tôn giáo chính thống lẫn khoa học duy vật đều không thể giải thích cho họ nhu cầu và cách làm. Thày hy vọng là những điều thày đã trao cho con cho tới đây đã giải thích tại sao con cần thanh tẩy năng lượng bị tha hóa đã tích đọng trong bốn thể phàm của con. Thày hy vọng con cũng thấy được cách làm. Nó quả thực khá đơn giản và các nhà khoa học của con đã khám phá tiến trình này rồi trong phòng thí nghiệm của họ.
Năng lượng tích đọng trong bốn thể phàm mang hình dạng sóng năng lượng rung động ở những tần số rất thấp. Cách duy nhất để gỡ bỏ năng lượng như thế là nâng tần số của nó lên, để độ rung của nó trở về trạng thái thanh khiết nguyên thủy. Điều này làm được rất giản dị vì tâm con sẵn có khả năng cho phép ánh sáng có tần số cao từ cõi tâm linh chảy xuyên qua nó. Việc của con là tìm ra một phương pháp có hệ thống để cầu thỉnh ánh sáng có tần số cao từ cõi tâm linh, kéo ánh sáng này xuống bốn thể phàm và hướng ánh sáng này vào các năng lượng bị tha hóa đã tích lũy nơi đó. Nếu con chịu đi qua tiến trình này, con có thể và sẽ thanh tẩy bốn thể phàm của con.
1.11. Con người xứng đáng nhận được giáo lý tiết lộ tuần tự
Thày hy vọng con đã dùng các bài thỉnh của thày trong lúc con theo khóa học này. Bây giờ thày muốn cho con một hiểu sâu hơn để con nhận biết đầy đủ con cần làm gì để thanh tẩy bốn thể phàm. Thày cũng muốn con biết con cần làm gì để khắc phục một chướng ngại lớn khác cho sự biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong cuộc sống của con. Chướng ngại này là những nguyên nhân con đã khởi động trong quá khứ, những nguyên nhân này chắc chắn sẽ đi luân lưu qua bốn tầng của vũ trụ vật chất và do đó sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu trở lại con.
Thày biết khóa học này rất dài và thày cũng biết nó dẫn con đi xa hơn nhiều những gì con được dạy ở vườn trẻ hay trong các lớp dạy giáo lý Cơ đốc cho trẻ con. Thày tin rằng con đã chịu đựng học thày tới điểm này cho nên con sẽ muốn đi trọn đường và đạt được sự hiểu biết đầy đủ về cách vận hành của vũ trụ vật chất và con biết cách dùng hiểu biết đó để gỡ bỏ không những điểm nghẽn trong chính tâm con mà con cũng gỡ bỏ các điểm nghẽn đến từ những hành động quá khứ của con, những nguyên nhân con đã khởi động trong các kiếp trước và đã biểu hiện thành những hoàn cảnh vật lý mà con trải nghiệm trong kiếp sống này.
Con hãy theo thày khi thày giảng cho con những điều mà lẽ ra con phải được dạy tại vườn trẻ và trường dạy giáo lý cho trẻ em nhưng cả các giáo hội chính thống lẫn khoa học duy vật đều không muốn dạy con. Họ không dạy con những điều này vì họ đã bị thấm đẫm lý luận nhị nguyên của tâm phản Ki-tô nên họ không thể trao cho con giáo lý chân thực của Ki-tô mà Giê-su muốn con nhận được và vẫn còn muốn con nhận được trong thời đại này. Đó là lý do tại sao cả Giê-su lẫn thày và nhiều thày tâm linh khác đang phục vụ nhân loại nhận ra là các thày cần lên tiếng nói với con người trong thời đại này và tiết lộ tuần tự giáo lý vì con người đã nâng tâm thức lên một mức nhận biết cao hơn và xứng đáng nhận được tiết lộ tuần tự này. Ngày nay con người có thể hỏi những câu hỏi cụ thể hơn so với quá khứ. Nếu con hỏi, con sẽ được trả lời. Bởi vì có rất nhiều người đã chân thành đặt câu hỏi về những bí ẩn sâu xa của cuộc sống, đặt câu hỏi tại sao hoàn cảnh họ đang như vậy cho nên thày đã tới đây để trả lời. Con sẽ khám phá rằng ở một tầng nào đó của bản thể mình, con cũng đã đặt cùng những câu hỏi đó.