23 | Sẵn lòng chất vấn nhận thức của mình

Chương này là phần hai của bài truyền đọc “Khắc phục các tấn tuồng bằng cách chuyển từ phản ứng sang hành động” của chân sư thăng thiên Phật Gautama ngày 31/12/2009 qua trung gian Kim Michaels. Phần một của bài này là chương 21, “Cái ngộ then chốt để khởi sự tăng trưởng tâm linh”.

Cho nên đâu là chìa khóa để thăng vượt tâm thức phản ứng này? Đó là nhận ra rằng phản ứng của con phát xuất từ cách con nhận thức tình huống. Phản ứng là kết quả, là hậu quả, của nhận thức. Và như vậy khi con nhìn nhận tất cả đều là biểu hiện của tâm thức, con cũng nhìn nhận phản ứng của con đối với tình huống là sản phẩm của cách con nhận thức tình huống. Nhận thức ở đây, tất nhiên, đi xa hơn là nhận biết của giác quan, vì nó đi sâu vào phản ứng của cảm xúc, vào cách con suy nghĩ về tình huống, và vì vậy nó đi xa hơn thế nữa, tuốt vào bên trong cách con nhìn cuộc đời nói chung, cái tư duy vi tế, cái thế giới quan được lưu trữ trong thể bản sắc của con.

Cho nên cách đây 2500 năm, thày đã nói thế này ngay đoạn mở đầu của Kinh Pháp cú:

Preceded by perception are mental states.
For them is perception supreme.
If with perception polluted one thinks or acts,
suffering follows.

Nhận thức đi trước, các trạng thái của tâm đi sau.
Đối với chúng, nhận thức là tối cao.
Nếu nói hoặc làm vời nhận thức ô nhiễm,
đau khổ sẽ theo sau.

Nhận biết ô nhiễm với nhận biết thuần khiết khác nhau thế nào? Phải, thày vừa gợi ý cho con đó. Bất cứ khi nào con phản ứng trước một tình huống, con biết là con đang nhận thức tình huống đó với nhận biết ô nhiễm. Nhưng làm thế nào vượt qua được nhận biết ô nhiễm để có nhận biết thuần khiết? Bằng cách con nhận ra bất kỳ nhận biết nào khởi lên từ nhị nguyên thì nó vốn đã ô nhiễm trong bản chất. Điều này tất nhiên thật là khó. Bởi vì hầu hết mọi dòng sống trên địa cầu đã ngụ trong tâm thức nhị nguyên từ quá lâu đến độ họ mất hết mọi ý niệm về nhận biết thuần khiết. Nhưng như thày đã giải thích nhiều lần, cốt lõi của Bản thể con chính là trạng thái tâm thức thuần khiết đó. Suốt bao nhiêu thời đại, tâm thuần khiết này đã được mọi truyền thống thần bí và tâm linh giảng dạy, xưa hơn cả kinh Veda, trở ngược về thời Atlantis và Lemuria, thậm chí cả những nền văn minh xưa cổ hơn nữa.

Các nhà thần bí mọi thời đều biết khi con vượt ngoài nhận biết giác quan – sự nhận biết đến từ tâm vỏ ngoài do cảm xúc chi phối, sự nhận biết ở mức ý tưởng, ngay cả sự nhận biết đến từ ý niệm bản sắc là mình sống trong thế gian này – khi con vượt qua tất cả những thứ đó thì con chứng nghiệm nhận biết thuần khiết. Con có thể gọi đó là cái ta ý thức, cái Ta Biết, hay bất cứ tên gọi nào con muốn. Nhưng thực tế là khi con vượt khỏi mọi ý niệm bản ngã thì đó là nhận biết thuần khiết.

Nhận biết thuần khiết này không thể bị bất cứ gì trong cõi nhị nguyên, bất cứ gì trong thế giới hình tướng làm ô nhiễm. Và như vậy con có khả năng hòa điệu với cốt lõi của bản thể con. Và khi con chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết và biết con là nhiều hơn cái ta vỏ ngoài chỉ biết nhận thức thế gian theo một cách nào đó, thì con sẽ bắt đầu neo trụ nhiều hơn vào nhận biết thuần khiết. Và khi đó con cũng bắt đầu nhận thức thế gian mà không rời nhận biết thuần khiết của con.

23.1. Duy trì sự nhận biết thuần khiết

Con không thấy hay sao, nhiều người chỉ kinh nghiệm được nhận biết thuần khiết trong một hé thoáng ngắn ngủi, xong ngay sau đó, có khi chỉ ít hơn một giây, họ lại trở về nhận thức thế giới qua nhân cách vỏ ngoài? Trong nhiều trường hợp, họ còn áp chồng các niềm tin tôn giáo của họ lên trên nhận thức thuần khiết, cứ đinh ninh rằng kinh nghiệm ngắn ngủi kia xác nhận điều này hay điều nọ trong giáo lý hay giáo điều của tôn giáo họ. Con thấy có những nhà thần bí đạo Cơ đốc sau khi trải nghiệm nhận biết thuần khiết, lại cắt nghĩa kinh nghiệm này trong cái nhìn cố hữu của tín điều đạo Cơ đốc mà chính họ chưa thăng vượt được. Con cũng thấy những sự kiện tương tự trong đạo Phật, đạo Ấn, đạo Hồi và tất cả mọi nơi khác. Thậm chí con còn thấy những người tự nhận là vô thần trải qua một kinh nghiệm nhận biết thuần khiết xong cố cắt nghĩa từ một quan điểm khoa học nào đó rằng đấy chỉ là trò ảo thuật của bộ não, hay là một phản ứng hoá học hay điện từ hên xui may rủi.

Nhưng khi con sẵn lòng tra vấn nhận thức hiện thời của mình, sẵn lòng nhận ra là có nhiều cách để nhìn một tình huống hay nhìn thế giới, khi con sẵn lòng nhận ra là các chân sư thăng thiên có nhận biết thuần khiết, con sẵn lòng kêu gọi các thày giúp đỡ, thì các thày chắc chắn sẽ giúp con phơi bày bợn nhơ nơi nhận thức của con. Và khi con sẵn lòng nhìn thẳng vào những bợn nhơ này và thăng vượt chúng, sẵn lòng đi muốt tiến trình mà chân sư đã mô tả là con đường tâm linh chân chính, thì con sẽ lần hồi đến được một điểm nơi con có thể duy trì nhận biết thuần khiết mà không bị lập tức rơi trở lại nhận thức vỏ ngoài.

Và điều này có nghĩa là bây giờ con có thể bắt đầu nhìn vào chính mình, cơ thể mình, tình cảnh riêng của mình và thậm chí cả thế giới, qua nhận biết thuần khiết. Con bắt đầu thấy có một cách khác để nhìn cuộc sống, khác hẳn cái nhìn của ngã vỏ ngoài, của nhân cách vỏ ngoài, của phin lọc nhận thức vỏ ngoài, của nhận thức ô nhiễm. Lúc đầu, đó sẽ là một tiến trình dường như phân liệt (schizophrenic) vì có lúc con có cái nhìn thăng vượt rồi chỉ lúc sau con lại trở về cái nhìn vỏ ngoài, khiến con nghi ngờ những gì con thấy. Cái này có thật không? Liệu thực tại của chân sư thăng thiên có khác hẳn những gì mình đã được nuôi dạy để tin tưởng, những gì mình đã nhìn thấy từ bao năm, thậm chí cả những gì mình tin là chân lý của một tôn giáo hay lời dạy công truyền?

Con thấy đó, con yêu dấu, có nhiều người tự xem mình là học trò của chân sư thăng thiên nhưng trong suốt bao nhiêu thập niên đã chỉ học những giáo lý công truyền vỏ ngoài, họ không có khả năng hay mong muốn đi xa hơn để chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết. Họ đã dùng giáo lý vỏ ngoài đó để tạo ra một hộp tư duy mới, một thế quân bình mới như Giê-su đã giải thích tường tận. Và bây giờ khi họ chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết, họ phải đối diện với thực tế là cái nhìn của các chân sư thăng thiên khác xa cái nhìn cố hữu của họ dựa trên một giáo lý bên ngoài mà chính các chân sư đã ban ra.

Tuy nhiên họ chưa hề đi xa hơn giáo lý! Họ đã không vươn lên cao hơn trạng thái tâm thức của họ, đã không chất vấn nhận thức của họ. Cho nên họ đã hình thành một nhận thức dựa trên giáo lý công truyền thay vì Tánh linh vượt trên mọi chữ nghĩa vỏ ngoài. Và do đó, bây giờ họ mới nhận ra là các thày không nhìn như cách họ đã học nhìn. Và họ phải đối mặt với thử thách – liệu họ sẽ chất vấn, không cứ là giáo lý công truyền, nhưng chất vấn cả nhận thức của họ về giáo lý công truyền? Liệu họ sẽ sẵn lòng từng bước đạt tới nhận biết thuần khiết hầu vượt xa hơn cái nhận thức về giáo lý công truyền mà họ đã dần dà xem là chân lý tuyệt đối không thể nào sai sót?

Đó là làm thế nào ngay cả giáo lý của chân sư cũng có thể trở thành một cái bẫy cho những học trò nào không sẵn lòng liên tục chất vấn nhận thức của mình. Vì con thấy đó, con có thể là thành viên của một tổ chức hay giáo lý bên ngoài mà không cần chất vấn nhận thức của mình – như con bắt buộc phải làm trước khi được gia nhập tăng đoàn của Phật, hay trước khi con được bước vào lớp nhập thất của Đại đoàn Chưởng giáo như các thày đã mô tả nhiều lần.

23.2. Làm thế nào người ta bị kẹt trong nhận thức

Nếu con không chịu tra vấn nhận thức thì hiển nhiên con tin rằng nhận thức của mình hoàn toàn chính xác, hoàn toàn thực. Con đâu làm gì khác được? Thày tin cậy hầu hết các con đều thấy được điều này. Nếu con không chất vấn nhận thức, con sẽ tin là nhận thức hiện thời của con về cuộc sống – hay về một tình huống cụ thể nào đó – là thực, trọn vẹn, chính xác. Thày tin cậy con cũng phải thấy được là nếu con không chất vấn nhận thức thì con không thể vượt lên trên nhận thức đó. Mà nếu con không vượt lên trên nhận thức thì làm sao con nhận ra sự thật mà thày đã bày tỏ trong Kinh Pháp cú 2500 năm về trước – rằng nhận thức xuất phát từ một trạng thái của tâm sâu xa hơn nữa, thể bản sắc, là cái nhìn của con nơi tầng bản sắc về chính mình và cuộc sống?

Chính nhận thức sâu xa này nơi bản sắc đã nhào nặn cách con tiếp cận cuộc sống qua lý trí và cảm xúc. Cách tiếp cận qua lý trí và cảm xúc này khiến con nhìn các tình huống một cách nào đó, và điều này khiến con bước vào một trạng thái tâm nào đó, chẳng hạn con cảm thấy mình bị kết án bất công, cảm thấy mình cần phải phê phán người khác, cần phải phản ứng giận dữ khi tình thế không đúng ý hay bất cứ trạng thái tâm nào khác. Và khi con ở trong một trạng thái tâm thấp như vậy, nếu con không chịu chất vấn nhận thức của mình thì đối với trạng thái tâm đó, nhận thức của con là tối cao.

Và nếu nhận thức của con tối cao, con sẽ không thể lên cao hơn nhận thức của con, con không thể vượt lên trên trạng thái tâm thấp đó. Con không thể phát hiện cái trạng thái cao hơn kia để nhận ra chính nó đã làm ô nhiễm nhận thức của con và nó đã khiến con nhìn cuộc đời với nhận thức ô nhiễm. Và nhận thức ô nhiễm này thì lại sản xuất trạng thái tâm thấp kém nơi con bị kẹt. Thế là trạng thái tâm này trở thành một hệ thống khép kín, một vòng phản ứng luẩn quẩn nơi con không ngừng phản ứng lại với cuộc đời.

Như thày đã nói ở phần đầu, con đang phản ứng lại những gì con phóng ra tấm gương vũ trụ. Con phản ứng lại những phản ứng của chính con do cái nhìn của con về cuộc đời tạo ra. Cho nên con bị kẹt trong một vòng xoắn ốc bất tận, phản ứng lại phản ứng của con lẫn phản ứng của người khác. Tất cả đều là phản ứng của nhau. Làm sao con bao giờ thoát ra khỏi tình trạng này? Làm sao CON bao giờ thoát khỏi vòng xoáy phản ứng của CON?

Con sẽ chỉ tự do khi nào con ngừng nhìn vào người khác hầu tìm cách thay đổi tâm thức họ, và nhìn nhận rằng chìa khóa cho tự do của CON là thay đổi tâm thức của CON. Và chìa khóa để thay đổi tâm thức của con là chất vấn nhận thức của con – là đi sâu vào tầng mức của nguyên nhân và nhìn xa hơn tầng mức của kết quả, đi vào tầng mức của hành động và nhìn vượt khỏi tầng mức của phản ứng. Bởi vì con sẽ không thể thay đổi phản ứng cho đến khi con thay đổi hành động. Có thể nói phản ứng là nhận thức ô nhiễm và trạng thái tâm phát xuất từ nhận thức mà con có ở tầng cảm xúc lẫn lý trí. Đó là phản ứng.

Còn tầng mức của hành động là thể bản sắc của con, là cách con nhìn cuộc đời và chính con, là quan hệ của con với cuộc sống, quan hệ của con với mọi người, quan hệ của con với Ánh sáng Mẫu-Vật, quan hệ của con với Thượng đế. Đây là nhận thức sâu sắc của con, là cái khiến con hành động bằng cách phóng ra một hình ảnh vào tấm gương vũ trụ ở ngoài tầng cảm xúc, ở ngoài tầng tư tưởng – tức là ở ngoài tầm mức mà hầu hết mọi người có thể nhận biết y thức. Và làm sao con có thể nhận biết ý thức những gì nằm ngoài cảm xúc và tư tưởng nếu con không bắt đầu chất vấn nhận thức của mình? Chuyện này giản dị không thể làm được, và đó là tại sao cái bẫy thật trọn vẹn.

Những kẻ cáo buộc người anh em biết rõ là một khi chúng có thể ép buộc mọi người, ép buộc các dòng sống bước vào chu kỳ phản ứng bất tận này, thì họ sẽ không bao giờ thoát ra được – trừ khi họ chịu chất vấn nhận thức của họ. Và bằng cách khiến cho mọi người luôn luôn bận rộn lo phản ứng lại cuộc đời, chúng có thể tạo ra một vòng xoáy hướng hạ vũ bão đến độ hầu hết mọi người không bao giờ có được phương tiện để chất vấn nhận thức của mình, do mình quá chắc chắn nhận thức này đúng đắn và không cần chất vấn. Vả lại ai ai cũng đều có cùng cái nhìn như thế.

Cho nên một khi phần lớn dân cư trên một hành tinh xem cuộc đời là sự vật lộn không ngừng thì làm sao có ai sẽ bước lui lại để chất vấn cách nhận thức này? Có ai sẽ đứng ra đặt câu hỏi: “Cuộc đời có thật là vật lộn không? Cuộc đời có bắt buộc phải như thế không? Hay chỉ nhận thức của chúng ta về vật lộn đã tạo ra vật lộn, bằng cách phóng chiếu hình ảnh cuộc đời vật lộn ra tấm gương vũ trụ?”

23.3. Nhận thức thuần khiết là gì?

Hẳn con đã nghe truyện kể rằng xưa kia thày là con vua, lớn lên trong một khung cảnh bảo bọc nơi thày không có dịp nhận thức về bệnh và chết. Cho nên thày lớn lên với một nhận thức hạn hẹp, một chiều, có thể gọi là trong lành hơn nhận thức của hầu hết mọi người trên địa cầu. Con đã nghe là nhận thức của thày về một cụ già đã khiến thày ngộ ra là nhận thức cố hữu của mình thật giới hạn. Và tuy rằng nhận thức đó thuần khiết hơn một người trung bình, cuối cùng thi nó không thuần khiết lắm vì giản dị thày đã bỏ qua không biết đến một số thực tế tạm thời của hành tinh. Đó không thật sự là nhận thức thuần khiết.

Nhận thức thật sự thuần khiết không đạt được bằng cách gạt bỏ những bất toàn, mà nhìn xuyên qua bất toàn, nhìn xa hơn bất toàn, và nhìn xem có gì vượt cả sự nhận thức – ngay cả nhận thức rằng cuộc đời là sự vật lộn. Con cũng biết là sau khi nhận ra điều này, thày đã rút vào rừng, sống một cuộc đời khổ hạnh, hành hạ thân tâm, tìm cách rèn luyện tâm. Cho tới khi thày ngộ ra rằng ngay cả những thứ đó cũng sẽ không dẫn thày đến nhận thức thuần khiết.

Điều gì đã khiến thày vượt xa hơn mức đó và chứng đạt quả vị Phật? Đó là vì thày đã tới điểm sẵn sàng chất vấn TỪNG khía cạnh của nhận thức – nhận thức mà thày đã có khi lớn lên, nhận thức về lối sống và triết lý khổ hạnh. Thày sẵn lòng đặt lại vấn đề tất cả mọi thứ, và khi thày bắt đầu đặt lại vấn đề mọi thứ, thày cũng bắt đầu nhận ra những mô thức vận hành khiến cho nhận thức ô nhiễm trở thành một chu kỳ bất tận không dẫn tới đâu. Đó là lúc thày bắt đầu chiêm nghiệm tâm thức thuần khiết mà trong đạo Phật gọi là Samadhi, hay Nirvana. Rồi nhờ thế thày lần hồi duy trì được sự nhận biết thuần khiết cho dù mình vẫn làm lụng công việc hàng ngày, và như vậy thày có thể nhận thức thế gian từ tầng mức của nhận biết thuần khiết.

Cho nên thày nhìn thấy, thày bắt đầu nhìn thấy rằng nhận thức ô nhiễm chính là nhận thức nhị nguyên khi có hai đối cực phải hiện diện. Trông ra thì tưởng chừng chúng hoàn toàn có thực, cái đối cực này không thể hiện hữu mà không có cái kia. Và do đó theo một nghĩa nào đó, cái này cũng thực như cái kia, tạo ra cảm tưởng là cái ác cũng thực như Thượng đế, rằng ác quỷ có quyền năng – nó có thường hằng, nó có thực thể. Và như vậy, thày bắt đầu nhìn vượt lên trên nhận thức nhị nguyên. Thày bắt đầu thấy được là có một cách tham gia vào cuộc sống – ngay cả cuộc sống năng động trong một thế gian tràn đầy bất toàn – mà vẫn không bị cuốn hút vào nhận thức nhị nguyên nơi người ta phải dán nhãn cho mọi thứ theo một thang điểm nhị nguyên tương đối với hai đối cực – một cái là thiện, cái kia là ác; cái này là đúng, cái kia là sai; cái này là thật, cái kia không thật hoặc giả; cái này là đẹp, cái kia là xấu; cái này dễ chịu, cái kia khó chịu.

Điều xảy ra là thày bắt đầu thấy được có gì vượt ngoài nhận thức nhị nguyên, và nhận thức nhị nguyên là nhận thức ô nhiễm khi người ta nhận biết một cái gì nhưng không thật nhận biết vì sự nhận thức đã bị ô nhiễm. Và do đó, người ta không thể tách rời hành động nhận thức với hành động dán nhãn, lượng định, phê phán. “Hãy đừng xét đoán để mình khỏi bị xét đoán, vì con đo lường người ta với thước đo nào thì con cũng bị đo lường thế nấy”. Con có thấy chăng là con sẽ bị chính con xét đoán qua tâm thức của con? Và như vậy, cách con xét đoán người khác khi con đang đầu thai trên địa cầu cũng là cách con sẽ xét đoán chính mình khi con bước ra khỏi kiếp đầu thai và duyệt lại đời mình – là khi con nhìn vào chính mình qua cái tâm thức mà con đã nhìn người khác. 

Thày bắt đầu nhìn ra là vượt lên trên cách nhận thức này – cái nhận thức khiến mình như phải phê phán, dán nhãn và đánh giá tất cả – có nhận thức thuần khiết, một cách nhận thức mà qua đó thày không gạt bỏ những bất toàn trên địa cầu, không gạt bỏ tính không thực trên trái đất, nhưng thày không phán xét nó, không dán nhãn nó. Và như vậy, thày không phản ứng lại nó trong sự cảm xúc, như cảm thấy bị đe dọa, cảm thấy khó chịu hay ghê tởm, hay cảm thấy nó không được có mặt ở đó. Thực sự, thày nhìn vượt khỏi nó. Và vượt khỏi hình tướng bên ngoài, thày nhìn thấy Phật tánh, Ánh sáng Mẫu-Vật, sự THANH TỊNH, thực tại rằng tất cả được sinh tạo từ ánh sáng của Thượng đế. Và vì vậy nó có tiềm năng rũ bỏ hình ảnh ô uế, hình tướng ô uế, để được gia tốc vào thuần khiết – là thuần khiết của tâm thức Ki-tô, thuần khiết của tâm thức Phật, thuần khiết của tâm thức Thượng đế.

Và như vậy, thày đến được một điểm của tâm thức Phật nơi thày có thể duy trì Nirvana, duy trì Samadhi, cho dù thày đang tham gia vào mọi sinh hoạt đời sống. Con không cần phải ngồi đó thiền định với mắt nhắm chặt để trụ trong Samadhi hay Nirvana. Con luôn mang nó theo con, và con nhìn tất cả xuyên qua tâm thức thuần khiết. Con vẫn thấy mọi bất toàn của thế gian, nhưng con không dán nhãn chúng, con không phê phán chúng, con không phản ứng lai chúng. Con chỉ nhìn thấy chúng, nhưng con thấy chúng là tạm thời, con thấy chúng là không thực. Và con không phản ứng lại cái không thực, cái bất toàn. Thay vào đó, con HÀNH ĐỘNG dựa trên sự chứng ngộ là mỗi bất toàn có thể được gia tốc vào thuần khiết, vào một trạng thái cao hơn. Khi đó, con có thể bước ra ngoài và hành động để nâng cao mọi sự sống, thay vì tìm cách kết án một sắc thái nào đó của sự sống rồi tìm cách tiêu diệt nó đi.

23.4. Sự lừa dối đằng sau mọi tấn tuồng

Con có thấy đây là sự lừa dối của kẻ cáo buộc người anh em hay không? Đây là sự lừa dối nền tảng đằng sau tất cả những tấn tuồng cuồng đại mà cho tới nay các thày đã phơi bày một cách rất cẩn trọng. Tấn tuồng cuồng đại khiến con tin rằng có cái gì đó xấu xa hay ác hại, và cái đó cần bị triệt tiêu. Nhưng khi con muốn triệt tiêu xấu ác thì con đã khởi đầu một phản ứng chống lại xấu ác – và điều này sẽ không thể xóa bỏ khổ đau trên địa cầu mà sẽ chỉ gia tăng khổ đau. Và vì vậy, cách duy nhất để “xóa bỏ xấu ác” là thăng vượt tâm thức nhị nguyên hầu con có thể hành động trong tâm thức bất nhị, và do đó con tìm cách gia tốc các điều kiện mà người ta gọi là xấu ác, gia tốc nó vào thanh tịnh bằng cách nâng cao mọi sự sống thay vì lên án, chê trách, miệt thị, tiêu diệt.

Đây là sự khác biệt giữa những ai đã thăng thiên và những ai chưa thăng thiên. Là sự khác biệt giữa những ai đi theo con đường của tình thương và những ai còn bị mắc kẹt trong cái nhìn sợ hãi khi họ cảm thấy nhu cầu phải phê phán, kết tội, bài bác, tiêu diệt.

Làm thế nào con thăng thiên? Bằng cách tự gia tốc và tới điểm con có thể nói cùng với Giê-su: “Còn ta, khi ta thăng lên khỏi địa cầu, ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta.” Thế Giê-su có nói, ta sẽ chỉ kéo những người tốt lên với ta và đuổi người xấu xuống địa ngục? Không, Giê-su không nói vậy, mà thày nói: “Ta sẵn lòng gia tốc để nâng cao mọi sự sống”, và đó là tại sao thày đã có thể thăng thiên. Vì thày đã tự gia tốc khỏi tâm thức cáo buộc vốn phân chia cái không hề phân chia – sự duy nhất bất khả phân chia của Thượng đế – thành hai đối cực rồi dán nhãn cho một đối cực là tốt, được vào Nước Trời, còn đối cực kia là xấu, không được vào Nước Trời và do đó phải bị tiêu diệt bởi những ai muốn vào Nước Trời. Bởi vì khi tiêu diệt xấu ác, con tưởng là con sẽ đủ tư cách để vào Nước Trời. Đó chính là sự lừa dối của các tấn tuồng cuồng đại. Có quá nhiều người đã từng tin vào và vẫn tin vào lời dối gạt đó. Họ vẫn tin là họ có thể tìm đường để được chấp nhận vào Nước Trời bằng cách khăng khăng giữ lấy tâm thức nhị nguyên – nghĩa là họ từ chối khoác vào cái áo cưới nơi họ hoàn toàn không bạo động, không nhị nguyên, không phê phán, không lên án, không hạ thấp, mà chỉ cố gia tốc mọi sự sống vào thanh tịnh.

Con thấy chăng là thày không yêu cầu con trở nên đui mù? Thày không yêu cầu con nhắm mắt phớt lờ những bất toàn đầy rẫy trong thế gian, nhưng thày yêu cầu con đừng khiến chúng trở thành trường tồn trong tâm con. Bởi vì khi con phản ứng lại chúng thì con làm gì? Phải, nếu con biết cái gì đó là không thực và con là thực, tại sao con lại có nhu cầu phản ứng hay chống đối lại? Tại sao con có nhu cầu phản ứng lại một cái gì không thực? Cho nên con không phản ứng với cảm giác mình bị đe dọa, tức giận, sợ hãi hay bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào khác. Con chỉ đơn giản nhìn nó, và con hành động – bằng hành động không dựa trên dáng vẻ bề ngoài hay hình tướng vỏ ngoài, mà dựa trên nguồn sáng tạo nội tâm tự phát từ cái ta cao của con, từ Hiện diện TA LÀ của con, từ tất cả mọi tầng của chuỗi sinh thể tâm linh ở ngay trên con cho tới Đấng Sáng tạo.

Thay vì phản ứng, con hành động trong một hành động được tưới bởi nguồn suối sáng tạo đó. Và vì con không phản ứng lại hình tướng, cho nên con không ban cho nó sự trường tồn, con không ban cho nó thực chất. Và như vậy hành động của con không nhằm triệt hạ hay hủy diệt, mà chỉ nhằm gia tốc vào sự thuần khiết mà con thấy vượt khỏi hình tướng. Đây là nhận thức thuần khiết. Con nhìn gì đó và thấy cái đó là một biểu hiện không thực, nhưng con không bị lôi cuốn vào phản ứng muốn dán nhãn nó là xấu, dở hay ác – như người đời thường làm.

Con yêu dấu, các thày đã cho con nhiều lời dạy để giúp con vươn lên khỏi tâm thức cáo buộc, tâm thức của những tấn tuồng cuồng đại. Đúng một năm trước đây, các thày đưa ra khái niệm về những tấn tuồng và chỉ ra sự cần thiết phải thăng vượt chúng nếu con muốn bước lên cao hơn, nếu quả thật con mong muốn trở thành một sức mạnh gia tốc địa cầu vào vòng xoắn ốc thăng thiên vào năm 2012 và xa hơn nữa. Nếu con thực sự muốn hình thành tăng đoàn của Phật, con cần phải thăng vượt các tấn tuồng của con, như thày và các chân sư khác đã chỉ ra rõ ràng, và cả Saint Germain nữa trong bài giảng quan trọng của thày. Đối với các con tha thiết muốn vượt qua tấn tuồng của mình, rất có thể con sẽ có lý do để học lại bài đó một lần nữa.

Bởi vì dĩ nhiên các thày nhận thấy trong số các con có những người không sẵn lòng khắc phục tấn tuồng của mình và thậm chí đã bác bỏ toàn bộ khái niệm đó, bác bỏ nhu cầu phải vượt qua tấn tuồng, hay từ chối nhìn nhận là mình có những tấn tuồng cần vượt qua. Tất nhiên theo Luật Tự quyết, điều này các thày hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng các thày chỉ muốn nói: Nếu thế thì các thày không thể nhận con vào tăng đoàn mà các thày đang thiết lập. Khi cách đây 2500 năm học trò xin gia nhập tăng đoàn của thày, họ phải khảo thí, tức là có một quá trình lựa lọc, phân loại giữa những người sẵn sàng chất vấn nhận thức và tấn tuồng của mình, với những người không sẵn sàng. Những người không sẵn sàng phải đứng lại bên ngoài. Họ đã phản ứng bằng nhiều cách, một số cảm thấy mình bị hất hủi, một số khác thì công kích Phật cùng các đệ tử của Phật bằng đủ mọi cách mà kinh sách Phật giáo không ghi lại cho nên người đời sau không biết rõ.

Nhưng thày có thể cam đoan với con yêu dấu, tất cả mọi việc thày làm hay những lời thày nói vào thời đó đã không được các Bà la môn trong đạo Ấn chấp nhận hay chấp thuận. Họ cảm thấy bị đe dọa bởi thày, hay bởi những người trong số đệ tử của họ không chịu chất vấn nhận thức của mình. Đã có rất nhiều cãi vã, công kích, buộc tội đối với thày, đối với sinh mạng của thày và các đệ tử của thày. Có rất nhiều chuyện xảy ra, như con thấy với Giê-su cũng từng bị công kích, lên án. Bởi vì như thày đã nói, tâm thức này đã có từ ngàn xưa. Con đừng nghĩ là thày đã tránh né được nó, bởi vì nó có mặt. Nhưng tất nhiên thày không bận tâm vì nó, thày không dính mắc với nó, cho nên thày không phản ứng lại nó. Thày chỉ đơn giản giảng dạy để cố giúp những ai chịu thăng vượt tầng mức tâm thức đó, và thày đặt trọng tâm giúp đỡ những ai thày có thể giúp bởi vì họ sẵn lòng tự giúp họ. Họ sẵn lòng nhìn vào chính họ, tra vấn nhận thức của họ thay vì coi đó là tối cao, vượt ngoài mọi chất vấn.

23.5. Hình tư tưởng tia chớp từ Đông sang Tây

Và bây giờ như thông lệ, thày sẽ kết thúc bài giảng hôm nay bằng một hình tư tưởng có thể giúp con có một vai trò đắc lực hầu đưa nhân loại qua cuộc điểm đạo của Ngôi Con, Tâm thức Ki-tô – là tâm thức phân biện giữa chân và bất chân, và tất nhiên điều này đòi hỏi con có nhận thức thuần khiết không dán nhãn và không phê phán mà thày vừa trình bày ban nãy.

Thày mong muốn con hình dung Ki-tô đang bước vào thế gian này như Giê-su đã nói – tựa như tia chớp từ Đông sang Tây. Và tia chớp phóng vào thế giới như một thanh gươm hai lưỡi chém xuyên qua những tấm màn ảo ảnh, tấm màn của Maya. Những tấm màn này có thể xem là những tấm rèm mà các thày giả và sa nhân đã treo lên để chúng có thể ẩn nấp đằng sau. Có những tấm rèm cứng đặc đến độ không thể nhìn xuyên qua, và cũng có những tấm khác đã trở nên phần nào trong suốt khiến con có thể nhìn thấy những cái bóng đang di chuyển đằng sau.

Con hãy hình dung Thanh gươm của Ki-tô, Lời Hằng sống, sẽ phóng ra và chặt đứt những sợi dây dùng để treo rèm, và những tấm rèm rơi xuống, để lộ những gì đằng sau. Phơi bày tầng lớp thượng tôn quyền lực, phơi bày những kẻ đang khuynh loát bằng đủ mọi cách, vì chúng đã có thể giấu mặt khỏi loài người thì nay chúng sẽ bị phơi trần. Tấm rèm sẽ rơi xuống và mọi người sẽ thức tỉnh và nói, “Nhìn kìa, hoàng đế không mặc quần áo gì hết. Bây giờ chúng ta thấy rõ y rồi – y không còn trùm trong tấm màn ảo ảnh của y được nữa, trong hỏa mù của Maya, của gian trá và lừa gạt.”

Con hãy giữ hình tư tưởng này, con yêu dấu! Con hãy nhớ đến nó mỗi khi con gặp một tình huống mà con biết có sự lừa dối. Và con hãy gọi lên một lời gọi ngắn gọn do con nghĩ ra, gửi về Ki-tô và Phật. Con hãy thỉnh Thanh gươm của Ki-tô sẽ tách chân ra khỏi bất chân, sẽ cắt những tấm màn để chúng rơi xuống, và mọi người thấy phơi ra cái thực và cái không thực – và như vậy, cái không thực sẽ đứng đó trần truồng cho cả thế giới được thấy. Thày khuyên con hãy hình dung như vậy.

Và với lòng biết ơn đối với các con đã kiên trì giữ vững sự quân bình cho bài giảng này, thày nói: “Tốt lắm, những con người phụng sự tốt lành và trung thực, các con đã trung thực trong một số công việc, thì thày sẽ nỗ lực cho con cai quản nhiều điều trong những năm tới.” Và như vậy, hãy được niêm phong trong nhận thức thuần khiết vô biên bất nhị của Phật. Hãy gọi thày để thày ban cho con nhận thức thuần khiết của Tâm Phật, là tâm biết tất cả đều là Phật tánh và do đó thấy được sự khác biệt giữa sự thực thuần khiết của Phật tánh và sự không thực của các ảo tưởng Maya luôn đến cám dỗ con – cám dỗ con làm điều gì? Cám dỗ con phản ứng lại cái không thực bằng đủ cách! Bởi vì bất kỳ phản ứng nào cũng khiến con kẹt lại trong vòng xoắn ốc của không thực. Cho nên con hãy là Phật – nhất định không phản ứng, nhất định bước vào con đường tâm linh hầu thày có thể dạy con cách HÀNH ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG từ nhận thức thuần khiết.

Vậy hãy được niêm phong trong an bình của thày, trong sự an bình không hề thụ động, và không là cái an bình mà nhiều người cho là an bình, mà là an bình năng động, vô hạn, không để cho mọi sự đứng yên, không để cho con người bị kẹt trong vòng xoắn ốc nơi họ nghĩ cuộc đời là đau khổ. Và đó là lý do thày đã bước ra khỏi Nirvana – để giảng dạy cho loài người là có một chọn lựa khác hơn là khổ đau. Và thày khuyên CON hãy làm tương tự. Hãy dạy dỗ họ, hãy chứng tỏ cho họ là có một chọn lựa khác hơn khổ đau. Các con đều có khả năng đạt được thanh thản trong tâm, khả năng nhìn cuộc sống với một niềm vui vô biên, bất tận! Hãy được niêm phong trong niềm vui của Phật. Vì khi con thấy được Phật tánh, làm sao con không vui được? Cho nên TA LÀ Niềm vui Bất tận.