5 | Giải quyết nỗi đau xúc cảm

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 22/4/2005.

Trái tim yêu dấu của thày, con hãy để thày tập hợp lại một số điều chúng ta đã bàn thảo trong các chương vừa qua để con có một cái nhìn tổng quát về những gì con cần hoàn tất để thanh lọc bốn thể phàm của con, khắc phục hậu quả của các hành động quá khứ và biểu hiện đời sống dồi dào. Để bắt đầu, chúng ta hãy nói tới sự kháng cự các nỗ lực thanh tẩy bốn thể phàm của con.

5.1. Chướng ngại cản trở nỗ lực thanh tẩy

Nhiều người đã trải qua những hoàn cảnh chấn thương nặng trong kiếp này và những tình huống này có thể dính liền với một nỗi đau đớn xúc cảm lớn. Khi thày nói để có thể giải thoát mình khỏi những điểm nghẽn trong cảm thể thì con cần xem xét các niềm tin đằng sau những điểm nghẽn đó, thày biết nhiều người sẽ ngay lập tức không muốn làm việc này. Họ biết là nếu họ nhớ lại những tình huống quá khứ thì họ bị chìm đắm trong một trạng thái khó chịu và đau đớn xúc cảm. Thày không hề đổ lỗi cho họ vì họ phản ứng như thế, việc họ tìm cách né tránh nỗi đau cảm xúc hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng con nghĩ sao nếu thày có thể chỉ cho con một phương pháp hạ giảm cường độ của nỗi đau trước khi con thực sự bắt đầu nhìn vào các tình huống đau lòng trong quá khứ? Nếu cường độ đau lòng giảm xuống, khi nhìn lại quá khứ, con chỉ khó chịu tạm thời và mức khó chịu này có thể chịu đựng được. Trong trường hợp đó, chịu một sự khó chịu tạm thời hầu giải thoát mình vĩnh viễn khỏi một niềm tin bất toàn đã ảnh hưởng mình 24 giờ một ngày là một việc bõ công sức. Đây sẽ là một khoản đầu tư rất tốt giống như con mua cổ phiếu đầu tư mà lời gấp đôi.

Một cản trở lớn khác mà mọi người phải đối đầu khi bắt đầu thanh tẩy bốn thể phàm là sức mạnh của thói quen. Để đơn cử một hình ảnh, con hãy hình dung một dòng nước chảy xuống sườn đồi. Nước có khuynh hướng đào những rãnh nhỏ trên sườn đồi và một khi một cái rãnh bắt đầu hình thành, nó sẽ dẫn nhiều nước hơn qua rãnh đó. Rãnh sẽ càng ngày càng sâu hơn cho tới khi nó chứa cả một dòng sông. Đấy là cách thói quen thành hình trong bốn thể phàm của con. Khi ánh sáng chảy qua bốn thể phàm của con, nó đi theo con đường dễ đi nhất.

Nếu con có tin tưởng bất toàn trong trí thể, tin tưởng và năng lượng bị tha hóa bởi tin tưởng này sẽ tạo nên rào cản khiến ánh sáng khó chảy qua. Ánh sáng sẽ có khuynh hướng chảy chung quanh rào cản, do đó tư tưởng của con sẽ đi vào một khuôn nếp, cũng sẽ kéo theo tình cảm của con. Hậu quả là những chọn lựa mà con có thể thấy được bị giới hạn và do thế sự biểu hiện sáng tạo của con bị giới hạn. Tất cả điều này khiến con tạo lập một thói quen tư tưởng và cảm xúc, giống như một lập trình buộc con phản ứng một cách đặc thù trước một số hoàn cảnh. Ở tầng tâm ý thức, con không kiểm soát được phản ứng của con trước một số hoàn cảnh đặc thù. Phản ứng của con được quy định trước bởi các thói quen nằm trong thể cảm xúc, lý trí và bản sắc của con cũng như trong tâm vật lý của con.

Nếu con nhìn vào những người con biết và hoặc chính đời mình, con sẽ thấy đây là một vấn đề rất phổ biến. Thật vậy nhiều người không có tự do chọn lựa phản ứng của họ trước một tình huống đặc thù. Do những thói quen thiết lập trong quá khứ, họ không tránh được phản ứng nổi giận trong một số tình huống. Đơn giản là họ không thể ngăn cản mình tức giận và thường khi mối quan hệ giữa hai người bị kẹt cứng trong một khuôn nếp phá hoại và không xây dựng. Một người này nói điều gì mà người kia không thích. Người thứ nhì phản ứng một cách giận dữ và không ai có đủ sức mạnh để thoát ra khỏi cơn giận và chọn một phản ứng thương yêu hơn trong hoàn cảnh đó.

Một dạng cùng cực của thói quen là ghiền một chất vật lý như ma túy hay rượu. Có rất nhiều thói quen khác vi tế hơn và kỳ thực mọi khuôn nếp cư xử đều bắt đầu ở các thể phàm cao như một thói quen tư tưởng và cảm xúc. Vấn đề khi muốn bỏ một thói quen là có một lực kháng cự khá lớn. Rãnh đã được khắc sâu vào các tầng của tâm và năng lượng sẽ có khuynh hướng chảy theo các rãnh đó. Cần nhiều nỗ lực để thay đổi những khuôn nếp ở các tầng cao của tâm. Nhiều người đã cố thay đổi một thói quen đặc thù nhưng không thành công. Họ thấy là họ có thể thay đổi thói quen trong một thời gian nhưng nó đòi hỏi một cuộc chiến nhọc nhằn. Ngay khi buông lơi một chút thôi là họ rơi tụt lại lề thói cũ.

Người khác thay đổi được hành động bên ngoài nhưng họ phải chiến đấu liên tục, có khi suốt quãng đời còn lại để giữ mình không quay trở về khuôn nếp hành động cũ. Đây không phải là đời sống dồi dào bởi vì làm sao con vui hưởng cuộc sống được khi phải liên tục chiến đấu với chính mình? Thày hiểu tại sao nhiều người không sẵn lòng giải quyết thói quen vì kinh nghiệm cho họ biết gỡ bỏ một thói quen lâu đời rất khó. Con nghĩ sao nếu thày chỉ cho con một phương cách giảm thiểu lực kháng cự khi bỏ một thói quen, giảm thiểu lực từ tính lôi kéo con vào những khuôn nếp suy nghĩ, cảm xúc và hành động đặc thù?

5.2. Làm sao giải thoát mình khỏi quá khứ

Cái làm con đau lòng khi nhớ lại một hoàn cảnh chấn thương quá khứ là những năng lượng đã tích đọng trong các thể cao của con, đặc biệt là thể tình cảm. Cái khiến việc bỏ thói quen rất khó cũng là năng lượng tích đọng trong cảm thể, trí thể và ngay cả bản sắc thể của con. Thật vậy năng lượng này tạo nên một trường năng lượng có tác động giống như một từ trường. Từ trường chung quanh một thỏi nam châm sẽ thu hút vật kim khí có mặt trong phạm vi của nó. Nếu con có những “từ trường” như vậy trong bốn thể phàm của con, chúng sẽ lôi kéo tư tưởng và cảm xúc của con. Chúng quả thật lôi kéo tư tưởng và cảm xúc của con vào một khuôn nếp đặc thù và đó là lý do tại sao phản ứng của con trước một số tình huống được định sẵn, được lập trình sẵn.

Khi con dùng một kỹ thuật mạnh mẽ để thanh tẩy năng lượng tha hóa và qua đó nâng cao độ rung của nó, thì cường độ của nỗi đau dính liền với hoàn cảnh quá khứ sẽ giảm xuống. Giờ đây con có thể nghĩ tới những hoàn cảnh đó mà không bị cơn đau làm choáng ngợp. Con có thể nhìn hoàn cảnh một cách khách quan, gần giống như con đang giải quyết chuyện của người khác. Giải quyết chuyện người khác luôn luôn dễ dàng vì con không đặt tình cảm mình vào đó. Con có thể nhìn hoàn cảnh với con mắt khách quan và thấy được giải pháp mà đương sự không thấy vì nó bị che giấu sau tấm màn năng lượng xúc cảm.

Khi con hạ giảm lực hút từ tính khiến con tuân theo một số khuôn nếp hành động, con có thể phá bỏ một thói quen dễ hơn nhiều và thường không bị triệu chứng phản ứng giống như khi cai thuốc. Khi con đã gỡ bỏ năng lượng tồn đọng, con sẽ khiến việc xét lại những hoàn cảnh đau lòng của quá khứ dễ hơn hẳn. Con có thể tìm ra những quyết định mình đã lấy khi ở trong hoàn cảnh đó. Con có thể thay thế những quyết định này một cách ý thức bằng những quyết định tốt hơn dựa trên tầm nhìn sáng suốt hơn mà con có hiện nay. Khi con gỡ bỏ lực hút từ tính của một thói quen cũ lâu đời, việc phơi bày những quyết định đằng sau thói quen đó dễ hơn hẳn. Con có thể thay đổi những quyết định đó và tạc ra một lối đi mới hữu dụng hơn trong tâm tiềm thức của con. Con có thể xây dựng một thói quen tích cực thay vì một thói quen giới hạn. Thày chỉ ra ở đây cho con ba thành phần trong việc giải thoát mình khỏi quá khứ:

  • Một là yếu tố nội tại khắc phục những quyết định và tin tưởng bất toàn được cất giữ trong các tâm bản sắc, lý trí, tình cảm và vật lý của con. Điều này bao gồm những quyết định trong tâm dài hạn của con, là tâm mà con mang theo mình từ kiếp này sang kiếp khác và trong tâm ngắn hạn của con, là tâm dính liền với thể vật lý hiện nay của con
  • Thành phần thứ nhì là con phải chuyển hóa năng lượng tha hóa lưu trữ trong bốn thể phàm của con. Nhờ vậy con phá bỏ những thói quen giới hạn mình dễ hơn và con chữa lành những vết thẹo từ chấn thương quá khứ dễ hơn.
  • Thành phần thứ ba là con phải tiêu hủy xung lực năng lượng, tức là nghiệp, được tấm gương vũ trụ phản chiếu trở về đúng theo hành động quá khứ của con.

Khi con tìm được và áp dụng một kỹ thuật mạnh mẽ có thể thực hiện ba mục tiêu này (như các bài thỉnh của thày), ngay lập tức cuộc đời của con sẽ xoay chuyển tốt đẹp hơn và con thể thiết lập nhanh chóng một vòng xoáy đi lên. Khi con quyết tâm nỗ lực trong một thời gian, thì con có thể khiến vòng xoáy này tự duy trì và tự tăng cường.

5.3. Vòng xoáy đi xuống

Con hãy để ý là con người rất dễ tạo cho chính mình một vòng xoáy đi xuống. Họ đã chấp nhận một số tin tưởng tiêu cực khiến họ tha hóa năng lượng. Những tin tưởng và năng lượng tha hóa này kéo tư tưởng và cảm xúc của họ vào một số khuôn nếp đưa họ tới những hành động không đem lại lợi ích tốt nhất cho họ. Những hành động này có hậu quả và khi họ trải nghiệm những hậu quả tiêu cực đó, các khuôn nếp trong các thể phàm cao của họ khiến họ phản ứng với tư tưởng và xúc cảm tiêu cực. Phản ứng này tha hóa nhiều năng lượng hơn nữa và củng cố những tin tưởng tiêu cực của họ, lẽ tất nhiên làm cứng đặc các khuôn nếp lý trí và tình cảm. Dĩ nhiên năng lượng càng bị tha hóa hơn nữa và một vòng xoáy đi xuống có thể nhanh chóng tạo ra. Vòng xoáy này trở nên tự tăng cường, tự duy trì và nó có thể kéo con người xuống thấp tới điểm họ cảm thấy bị tê liệt trong tư tưởng và tình cảm.

Họ biết đi đâu, họ không cục cựa được, họ bị giam mọi phía và cảm thấy không còn chọn lựa nào cả trong đời sống. Sự thực không phải là họ không có chọn lựa nhưng các tin tưởng bất toàn và năng lượng tha hóa đã ngăn họ thấy những chọn lựa đó hay thực thi viễn quan của họ. Họ nghĩ họ không thể thay đổi chính họ và do đó họ không thể thấy cách thay đổi hoàn cảnh bên ngoài của họ. Dĩ nhiên đây là tâm trạng mà các nhà tâm lý gọi là trầm cảm và nó có thể phát triển dễ dàng thành một bệnh tâm thần trầm trọng hơn.

Hầu hết con người trên hành tinh này đã lớn lên trong những hoàn cảnh khiến họ tạo ra một vòng xoáy đi xuống như thế, và con không thể chờ đợi có thể phá vỡ vòng xoáy này một sớm một chiều mà không cần quyết tâm nỗ lực. Nếu con quyết tâm và sẵn lòng làm việc cần làm, con có thể phá vỡ vòng xoáy đi xuống và thay vào đó tạo ra một vòng xoáy đi lên, tự duy trì. Một khi con đã thay đổi nếp cũ, đúng thực là cuộc đời của con sẽ mang một chiều kích mới lạ hoàn toàn. Lúc ấy con sẽ bắt đầu trải nghiệm cuộc sống dồi dào, không những về mặt vật chất mà còn về mặt tâm linh. Khi thày nói dồi dào tâm linh, thày muốn nói hạnh phúc hơn, tâm bình an hơn, một tầm nhìn mở rộng hơn về những cơ hội trong đời sống và cảm nhận đời mình có phương hướng, có ý nghĩa và mãn nguyện. Tất cả những thứ này gom lại để đem lại điều mà trước đây thày gọi là cảm giác trọn vẹn.

Phá vỡ vòng xoáy đi xuống và tạo ra vòng xoáy đi lên rất đáng làm. Giờ đây thày đã cho con hiểu biết mà con cần có về cách hoàn tất công việc này và thày hy vọng thày cũng đã cho con động cơ cần có để con lấy quyết định sẽ thực sự làm công việc đó. Nếu con đã đọc bài thỉnh kèm theo bài giảng của khóa này, con đã chuyển hóa rất nhiều năng lượng và đã tra vấn nhiều tin tưởng tiềm thức. Nếu con đã đọc tới điểm này mà chưa đọc thỉnh, thì quay trở lại và bắt đầu đọc các bài thỉnh cũng chưa muộn.

5.4. Tháo gỡ quyết định cũ

Thày muốn đề cập tới một chủ đề mà nhiều người trong lãnh vực tự giúp mình, thậm chí luôn cả nhiều người gia nhập con đường tăng triển tâm linh, có khuynh hướng bỏ qua. Vì họ không hiểu khái niệm này, việc tăng trưởng cá nhân của họ khó khăn hơn rất nhiều tuy không cần như thế . Đã có một điểm khi con, nghĩa là cái Ta Biết, quyết định quay lưng lại vị thày tâm linh của mình. Đã có một điểm khi con quyết định không muốn lấy quyết định nữa vì con đã lấy một số quyết định sai lầm. Quyết định này sinh ra ngã hữu diệt và từ lúc đó ngã hữu diệt đã lấy nhiều quyết định trong đời con. Chính việc con cho phép ngã hữu diệt lấy quyết định hộ con đã tạo ra vòng xoáy đi xuống. Ngã hữu diệt sinh ra từ nhị nguyên và những quyết định của nó chỉ có thể dựa trên nhị nguyên. Những quyết định nhị nguyên đó nhất định giới hạn quyền năng sáng tạo của con và tạo ra những hậu quả bất toàn do tấm gương vũ trụ phản chiếu lại con.

Điều gì cần xảy ra để có thể đập tan gông cùm mà ngã hữu diệt đã đặt trênt Cái Ta Biết và quả cầu của cái ta của con? Chỉ một cách thôi là cái Ta Biết phải tách ra khỏi ngã hữu diệt. Cái Ta Biết phải tẽ ra và trở thành “những người” được Thượng đế chọn, có nghĩa là con đã chọn với lên thực tại cao hơn của Ki-tô thay vì cái được gọi là thực tại nhị nguyên, là thần tượng mà ngã hữu diệt và hoàng tử thế gian đã bày ra cho con. Con phải ngưng đồng hóa mình với, hay là, ngã hữu diệt.

Con phải làm một số chuyện để điều này xảy ra. Trước tiên con phải lấy một quyết định tổng quát là con muốn lấy lại toàn bộ trách nhiệm về cuộc đời, định mệnh, và sự cứu rỗi của mình. Sau khi lấy quyết định tổng quát đó, con phải quyết định con sẵn lòng xem xét mỗi quyết định khiến con bước xuống một bực trên cầu thang xoáy ốc. Con phải muốn hiểu tại sao những quyết định nhị nguyên này giới hạn quyền năng sáng tạo của con. Cuối cùng con phải thay thế những quyết định này bằng cách với lên hiểu biết cao hơn của tâm Ki-tô sẽ cho con sức mạnh để lấy quyết định tốt hơn.

Con hãy để thày nêu lên một khác biệt tinh tế ở đây. Sau khi quyết định không lấy quyết định nữa, con đã cho phép ngã hữu diệt lấy nhiều quyết định trong đời con. Tất cả những quyết định của ngã hữu diệt đều nhị nguyên. Thày không nói là con phải phơi bày một cách ý thức, nhìn thấu suốt và thay thế mỗi quyết định nhị nguyên mà ngã hữu diệt đã lấy trong mọi kiếp sống của con. Mỗi lần con bước xuống một bực của cầu thang xoáy ốc, con lấy một quyết định đẩy con xa hơn khỏi Thượng đế. Ai đã lấy quyết định đó? Cái Ta Biết đã lấy quyết định đó! Quyết định này luôn luôn bị ảnh hưởng bởi một hay nhiều lời dối trá mà ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian trình bày nhưng con đã cho phép các lời dối trá này ảnh hưởng mình vì con không thực sự muốn lãnh trách nhiệm về mình và tìm cách có một cái nhìn sáng suốt về hậu quả của quyết định.

Con hãy tưởng tượng thay vì đi xuống một cầu thang không gián đoạn, con đi xuống cầu thang trong một tòa nhà có nhiều tầng. Con quyết định đi xuống một số bực cho tới khi con xuống tới lầu bên dưới. Khi tới đó, con đi vòng quanh và khám phá mỗi phòng ở lầu này. Bất kể con làm gì ở lầu này, con không đi xuống thấp hơn. Để xuống thấp hơn, con phải trở về cầu thang và đi xuống những bực kế tiếp. Để đi xuống lầu thấp hơn, con, có nghĩa là cái Ta Biết, phải lấy một quyết định. Khi lấy quyết định này, con chấp nhận một ý niệm bản sắc mới phóng chiếu con tách rời khỏi Thượng đế xa hơn nữa so với khi con ở lầu cao hơn. Một khi con xuống lầu thấp hơn này, ngã hữu diệt sẽ tiếp quản và lấy nhiều quyết định dựa trên ý niệm bản sắc mới mà con đã xây dựng. Những quyết định này sẽ không kéo con xuống thấp hơn tuy chúng sẽ tạo thói quen mạnh hơn khiến con khó leo lên trở lại và dễ lấy quyết định đi xuống thấp hơn.

Ngã hữu diệt rất giống máy tính. Nó được lập trình để lấy một loại quyết định nhưng nó không thể tự nó thay đổi lập trình. Muốn thay đổi lập trình thì cái Ta Biết phải nhập cuộc giống như cần một thảo chương viên để thay đổi lập trình của máy tính. Tuy ngã hữu diệt không thể tự nó chấp nhận một ý niệm bản sắc mới, nó dễ bị ảnh hưởng bởi các lực bên ngoài như người khác, hệ thống tin tưởng hay thậm chí ảnh hưởng trực tiếp của ông hoàng thế gian. Quả vậy ngã hữu diệt có thể thôi thúc con chấp nhận một ý niệm bản sắc thấp hơn nhưng lúc nào con cũng là người quyết định đi xuống lầu thấp hơn. 

Như một ví dụ, con hãy nghĩ cảnh hồi nhỏ khi con vẽ một tấm hình và đưa cho một người lớn xem. Người lớn phản ứng tiêu cực và con mất hứng thú vẽ. Chuyện thực sự xảy ra là vì phản ứng không vui của người lớn, cái Ta Biết quyết định: “Tôi không phải là người sáng tạo.” Để tránh bị tổn thương trong tương lai, con quyết định không bao giờ biểu hiện tính sáng tạo của mình nữa. Dù quyết định này có vẻ tương đối nhỏ, nhưng nó có thể có tầm ảnh hưởng sâu đậm trên cuộc đời con. Con có thể đã đánh mất mọi cơ hội có một việc làm đòi hỏi khả năng sáng tạo và do đó ngăn cản con hoàn thành kế hoạch trọn đời của mình và trải nghiệm niềm vui sáng tạo. Ngã hữu diệt của con có thể lấy nhiều quyết định dựa trên tin tưởng con không vẽ được, tỷ dụ như quyết định đeo đuổi nghề nào hay học ngành gì, hay không học ngành gì, trên đại học. Quyết định quan trọng con cần tháo gỡ một cách ý thức là quyết định khởi thủy đã khiến con xây dựng một ý niệm bản sắc là một người không có khả năng sáng tạo. Con hãy xem xét những quyết định sâu xa hơn thế, như ý tưởng con là một người hữu diệt thay vì là người tâm linh, hoặc con là một cá nhân tách biệt có thể làm bất cứ gì mình muốn vì con quan trọng hơn người khác. Con hãy tưởng tượng những quyết định tương tự mà con lấy từ nhiều kiếp trước đã có thể ảnh hưởng mọi khía cạnh của ý niệm bản sắc hiện tại của con, khiến con chối bỏ tiềm năng thật của con như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế.

Tin vui là con không cần thay thế một cách ý thức từng quyết định mà ngã hữu diệt đã lấy. Con chỉ cần đảo ngược những quyết định khiến con đi xuống một bực hay một lầu trên cầu thang vũ trụ. Một khi con đã đảo ngược một trong những quyết định này, con có thể dễ dàng bỏ lại đằng sau tất cả những quyết định phát sinh từ quyết định lớn hơn này. Con vẫn phải thanh lọc năng lượng tha hóa do các quyết định tạo ra nhưng chính các quyết định thì đã tiêu trừ. Tin buồn là con sẽ phải đảo ngược mỗi quyết định đã kéo con xuống một bực thang thấp hơn và để làm chuyện này con sẽ phải khắc phục cái mà ta có thể gọi là thói quen nguyên thủy, thói quen chủ chốt.  

5.5. Thói quen trốn chạy cái khó chịu

Có một cơ chế vi tế vận hành ở đây. Sự kiện đơn giản là khi ngã hữu diệt được tạo ra và con cho phép nó kiểm soát ít nhất một phần nào cuộc đời con, thì con đã thiết lập một khuôn nếp phủ nhận, một khuôn nếp chạy trốn những tình huống hay quyết định có vẻ khó chịu hay choáng ngợp. Cơ bản là cái Ta Biết quyết định nó không muốn trải nghiệm một số tình huống, nó không muốn trải nghiệm hậu quả của những chọn lựa quá khứ của nó và nó không muốn trải nghiệm sự dày vò khi phải lấy quyết định mới trong một tình huống đã bị ảnh hưởng sâu xa bởi chọn lựa bất toàn trong quá khứ, khiến cho có vẻ không còn lựa chọn nào tốt cả.

Đó là lý do tại sao cái Ta Biết rút lui khỏi những tình huống như thế và cho phép ngã hữu diệt lấy quyết định phản ứng một tình huống khó chịu. Hành động này của cái Ta Biết đã thiết lập một khuôn nếp rất thâm sâu và rất vi tế, khuôn nếp chạy trốn những quyết định khó chịu hay có vẻ khó khăn. Đây là một khuôn nếp nghĩ con có thể né tránh một trải nghiệm bằng cách lờ nó đi hay chối bỏ nó. Nếu con muốn đảo ngược những lựa chọn nhị nguyên đã tạo ra ngã hữu diệt, giữ cho nó sống và cho nó quyền điều khiển, thì con phải phá vỡ thói quen này, khuôn nếp này, thói quen quay lưng lại bất cứ gì làm con khó chịu hay choáng ngợp. Con phải ngưng chạy trốn việc lấy quyết định. Con phải sẵn lòng quay đầu lại và đối diện với những gì con đã không chịu đối diện trước đây.

Thày đã quan sát rất nhiều người tầm đạo đã thực tỉnh nhận ra khía cạnh tâm linh của cuộc sống sau khi khám phá một tôn giáo, một triết lý tâm linh hay một vị thày tâm linh. Họ rất phấn khởi và ngay lập tức lao mình vào một giai đoạn nỗ lực học hỏi giáo lý mới và thực tập các kỹ thuật giúp họ tăng triển. Quả thật giai đoạn này mở tâm họ tới hiểu biết mới và cao hơn và họ thật sự tiến bộ khi tu tập. Sau một thời gian, nhiều người tới điểm họ không thể tiến hơn nữa nếu họ không phá vỡ khuôn nếp trốn chạy những quyết định khó khăn. Đây là một điểm rất then chốt trên đường tu và thày bảo đảm với con rằng ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian biết rất rõ tầm quan trọng của thử thách đó. Nếu con phá vỡ được khuôn nếp chạy trốn, chúng sẽ không còn kiểm soát được con nữa. Chúng vẫn có thể ảnh hưởng con trong một thời gian ngắn và khiến con tiến bộ chậm đi, nhưng một khi con vượt điểm then chốt đó và lấy lại trọn vẹn trách nhiệm về tâm mình, chúng sẽ không thể hoàn toàn kiểm soát con nữa. Chắc chắn sẽ có lúc chúng hoàn toàn mất hết ảnh hưởng trên con. Một khi con vượt quá điểm then chốt, con sẽ tạo ra một vòng xoáy đi lên mà ngã hữu diệt và các lực thế gian không thể đảo ngược.

Ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian sẽ làm mọi cách để ngăn cản con phá vỡ khuôn nếp bỏ chạy. Họ làm điều này bằng cách thiết lập con đường giả, con đường có vẻ đúng cho con người nhưng cuối đường là cái chết. Họ nói con không cần phải đối diện cái khó chịu, con quả thực không cần lấy những quyết định khó khăn. Thay vào đó, con chỉ cần đi theo một thày giả, một thẩm quyền bên ngoài. Con cần tin giáo lý của một tôn giáo đặc thù, con cần thực tập theo giáo lý này, con cần làm những gì họ bảo con làm và tránh những gì họ bảo con tránh. Con cần đi theo một người lãnh đạo bên ngoài, một thày bên ngoài thay vì huớng vào nội tâm và vật lộn với công việc nhìn thấu các dối trá nhị nguyên của ngã hữu diệt và với lên hiểu biết cao hơn của cái Ta Ki-tô. Họ nói là dù con đã tìm ra một giáo lý tâm linh và bắt đầu tu tập, con vẫn có thể duy trì thói quen trốn chạy. Bằng cách làm đúng tất cả những điều vỏ ngoài, con có thể được cứu rỗi mà không thực sự thay đổi chính mình, thay đổi cách tiếp cận cuộc sống, đảo ngược các quyết định quá khứ.

Lời hứa hẹn này hoàn toàn dối trá. Giản dị là con không thể biểu hiện cuộc sống vĩnh cửu khi con chưa giải thoát mình khỏi mọi sự đồng hóa với ngã hữu diệt. Giê-su đã cho chúng ta một câu truyện ẩn dụ quan trọng khi thày nói tới bữa tiệc cưới mời tất cả mọi người (Matthew 22:2). Thày mô tả cảnh một người đi dự tiệc mà không mặc áo lễ và người đó bị trói cả chân lẫn tay, quăng ra ngoài nơi tăm tối nơi đó có khóc lóc và nghiến răng.

Đây là một cách kể truyện gây ấn tượng nhưng sự thật đằng sau câu truyện là để vào được cõi tâm linh, con phải mặc áo lễ. Điều này có nghĩa con phải thanh tẩy bốn thể phàm khỏi mọi yếu tố nhị nguyên, mọi yếu tố phản-Ki-tô. Con phải mặc chiếc áo lễ của tâm thức Ki-tô. Nếu con chưa khoác lên tâm thức cao hơn đó, con không thể đi vào tâm thức của sự sống dồi dào và do đó con sẽ bị trói cả chân lẫn tay bởi những tin tưởng nhị nguyên của mình. Con sẽ ở trong tăm tối bên ngoài của tâm nhị nguyên, nơi đó sự sống là một đấu tranh liên tục. Đây không phải là hình phạt của một Thượng đế giận dữ, đây chỉ đơn giản là hậu quả của những chọn lựa của con, hay không chịu chọn lựa. Giản dị là con không thể đạt được cứu rỗi, đạt được cuộc sống vĩnh cửu, không thể biểu đạt cuộc sống dồi dào trừ khi con phá vỡ thói quen trốn chạy cái gì khó chịu.

5.6. Con cần nhận trách nhiệm về những gì tồn trữ trong bốn thể phàm

Con cần làm gì để phá vỡ thói quen đó? Con hãy để thày cho con những hiểu biết có thể giúp con. Mọi chuyện đều tùy thuộc quyền tự quyết của con. Để có thể giải thoát mình khỏi một tin tưởng bất toàn ở trong một trong bốn thể phàm của con, con phải lấy quyết định buông bỏ, vứt đi tin tưởng này. Con phải khắc phục ảo tưởng cho rằng tin tưởng này là sự thật và vì lý do nào đó nó cần thiết hay không thể tránh. Con phải khắc phục sự dính mắc tình cảm vào tin tưởng này để có thể sẵn lòng buông bỏ nó. Con quả thật phải sẵn sàng cho khía cạnh này của ngã hữu diệt của con chết đi.

Con phải bỏ đi tin tưởng bất toàn, nhưng vấn đề là con không thể bỏ đi cái mà con không sở hữu. Kinh nghiệm sống thường ngày cho con thấy điều này hợp lý. Nếu con không có một món đồ chơi, con không thể cho nó cho em bé. Nếu con không có tiền, con không thể trang trải các hóa đơn. Trước khi con có thể bỏ đi một tin tưởng bất toàn, con phải công nhận mình có tin tưởng đó và nhìn nhận mình đã cho phép nó nhập vào quả cầu cái ta của mình. Làm sao con công nhận mình có một tin tưởng khi con còn duy trì thói quen chạy trốn những điều khó chịu hay phức tạp? Thói quen này đúng thực sẽ ngăn cản con công nhận mình có những chọn lựa quá khứ, ngăn cản con lấy lại trách nhiệm về những chọn lựa quá khứ của mình và do đó nó ngăn cản con làm đúng điều là chìa khóa chủ yếu giải thoát con khỏi những chọn lựa này.

Khi con còn duy trì thói quen chạy trốn, thói quen không nhận lãnh trách nhiệm về những tin tưởng và quyết định tồn giữ trong bốn thể phàm của con, thì con sẽ giữ mình trong thế bí. Đúng là con không có lối thoát khi con còn chạy trốn. Con đường giả do ông hoàng thế gian và ngã hữu diệt trình bày dựa trên ý tưởng là có lối thoát, có sự cứu rỗi máy móc và bảo đảm. Một số tôn giáo tuyên bố nếu con tiếp tục nghe theo họ, một ngày kia con sẽ tỉnh dậy trên thiên đường. Một số tôn giáo khác tuyên bố một vị cứu tinh bên ngoài, như Giê-su, sẽ giải quyết vấn đề giùm con và một ngày kia, con sẽ tỉnh dậy trên thiên đường. Điều này giản dị không thực hiện được. Làm sao con có thể tỉnh dậy ở một nơi nào khác ngoài nơi con đang ở hiện thời? Con sẽ không tỉnh dậy nếu con không quyết định là con sẵn sàng tỉnh dậy ngay bây giờ, ngay ở đây.

Điều chúng ta đang nói tới ở đây là cái bẫy toàn hảo do ông hoàng thế gian giăng ra. Đầu tiên hết, y nói dối với con để con phạm một lỗi lầm. Sau đó ý lừa con để con lập ra khuôn nếp chạy trốn những quyết định quá khứ của mình. Cuối cùng, y bày ra con đường giả biện minh cho khuynh hướng chạy trốn bằng cách nói rằng con có thể được cứu rỗi bằng cách đi theo một thẩm quyền bên ngoài. Tựu trung lại, tất cả gom lại thành cơn bão toàn hảo và cái Ta Biết giống y như con tàu không bánh lái, không la bàn, con tàu “bị gió thổi và nhồi” (James 1:6). Để khắc phục lời dối trá này, con chỉ cần thấy là sự cứu rỗi thật sự là hợp nhất với nguồn cội của con. Làm sao con có thể trở về hợp nhất với nguồn cội khi con còn chạy trốn Thượng đế? Làm sao chạy trốn nhà có thể đem con trở về nhà?

Đấng Cha hoan hỉ cho con vương quốc, nhưng để nhận được con phải chấp nhận những gì Thượng đế cho con không điều kiện. Con đã chấp nhận một hình ảnh hoàn toàn giả về Thượng đế, một thần tượng mà ông hoàng của thế gian đã cẩn thận vẽ ra để ngăn cản con tự do chấp nhận món quà cuộc sống dồi dào của Thượng đế. Con đã bị ngã hữu diệt lập trình để coi Thượng đế là một Thượng đế giận dữ muốn trừng phạt con vì đã làm lỗi. Điều này đưa tới tin tưởng vi tế mà nhiều tôn giáo dựa trên đó – cho dù các lãnh đạo tôn giáo hay tín đồ không ai nhận ra điều đang xảy ra – là con có thể mua sự cứu rỗi của mình, con có thể mua bán với Thượng đế. Tin tưởng này khiến con người cảm thấy họ phải làm gì đó để trả nợ Thượng đế vì đã làm lỗi, làm như thể một Thượng đế vô tận và toàn năng cần con người phải hy sinh gì đó cho ngài. Đó là lý do vì sao rất nhiều tôn giáo trong quá khứ đã tế thần bằng máu, thậm chí bằng máu con người để làm vừa lòng thần linh. Đây là họ tìm cách mua vé tàu lên thiên đàng.

Lối suy nghĩ nhị nguyên này sinh ra từ ý niệm tách biệt khỏi Thượng đế. Tư duy này mô tả Thượng đế như một Thượng đế bên ngoài, xa cách, và vương quốc của ngài đâu đó ngoài kia. Giê-su nói vương quốc Thượng đế ở trong con, nghĩa là không gì có thể cản con vào vương quốc, ngoại trừ những điều kiện nội tại trong tâm con. Con hãy tưởng tượng đang đi dưới đường và con thấy một gian hàng đầy quần áo thật đẹp. Con thấy món hàng con thích và hỏi: “Giá bao nhiêu?” Ông bán hàng nói: “Miễn phí, bạn có thể lấy nó!” Con không chịu tin và đưa tiền cho ông. Nhưng ông không nhận tiền của con vì nó không có giá trị đối với ông. Con càng cả quyết hơn và nghĩ ông đang từ chối những gì con cống hiến, nhưng con càng muốn trả tiền thì ông càng cả quyết từ chối. Ông ta tuyệt đối từ chối lấy tiền của con cho nên cách duy nhất để con có được bộ quần áo là nhận nó như một món quà. Nếu con không buông bỏ ý niệm phải trả tiền, thì làm sao con nhận được đây?

Bây giờ con thử tưởng tượng một người cả đời sống trong hang động tăm tối. Con nói cho ông ta biết về những đặc tính tuyệt vời của mặt trời và khuyến khích ông bước ra ngoài hang để nhìn thấy mặt trời. Ông có vẻ muốn đi theo con nhưng tới ngưỡng cửa ông thốt lên: “Phải trả bao nhiêu tiền?” Con trả lời: “Không tốn đồng xu nào, nhìn mặt trời hoàn toàn miễn phí!” Ngay lập tức ông tỏ vẻ nghi ngờ và từ chối không tin là mặt trời miễn phí. Nếu mặt trời tuyệt vời như con tả, chắc chắn phải trả tiền để thấy nó. Về phía con, con thấy thật là kỳ cục khi một người khăng khăng đòi trả tiền để nhìn mặt trời. Con yêu dấu, nhân loại giống như ông đó. Hầu hết con người đã sống toàn cuộc đời, thậm chí nhiều kiếp, trong hang đá của ngã hữu diệt và họ chưa bao giờ thấy mặt trời của cái ta cao của họ. Thượng đế gửi cho họ những vị thày và sứ giả nói cho họ biết ngoài hang đá có mặt trời, nhưng khi họ cố gắng đi theo vị thày đó, người gác cửa, là ông hoàng thế gian giả trang, nhất quyết đòi họ trả tiền trước khi được rời hang động. Thay vì đơn giản bước qua ngưỡng cửa, con người cuống cuồng cố gắng trả tiền và qua đó họ giữ họ lại mãi mãi bên trong hang động vì làm sao họ có thể trả món tiền mà không cần trả?

Có một sự phân biệt vi tế ở đây. một giá phải trả vì con chịu trách nhiệm về những chọn lựa con đã lấy và năng lượng con đã tha hóa. Con phải đảo ngược những chọn lựa này và nâng cao rung động của năng lượng tha hóa. Đây không phải là điều có thể làm một cách máy móc bằng cách nhắm mắt đi theo một lãnh đạo bên ngoài. Con không thể làm điều này bằng cách chạy trốn quá khứ của con, con không thể làm điều này mà không nhìn vào cái đà trong mắt mình. Nếu con tiếp tục nghĩ chỉ làm những hành động vỏ ngoài để chiều lòng Thượng đế là đã trả tiền vào thiên đàng, thì con sẽ không bao giờ vào dự tiệc cưới được.

Làm sao con dự tiệc cưới được khi cánh cửa nằm ngay trong tâm con và con cứ tiếp tục tìm cánh cửa bên ngoài con? Con đang tìm cách mua vé vào thiên đàng qua một cánh cửa bên ngoài không có thật. Trên thực tế, cánh cửa vào thiên đàng ở bên trong con và tất cả những gì con cần làm là vứt đi những rác rưởi trong bốn thể phàm đang ngăn cản con thấy cánh cửa. Con phải gỡ bỏ lực lôi kéo từ tính khiến con bị trói vào một ý niệm bản sắc trần tục và do đó cản con bỏ lại đằng sau ý niệm cuộc sống hữu diệt. Con không thể đem những tin tưởng nhị nguyên của con lên thiên đàng. Con quả thật không thể làm bất cứ gì với tâm nhị nguyên có thể ép và buộc Thượng đế phải cho con vào thiên đàng. Ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian, kể cả nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo, sẽ kịch liệt chối bỏ sự thật này. Họ là nạn nhân của chính những tin tưởng nhị nguyên của họ và họ đang tìm cách dùng tâm phản Ki-tô để giải thoát họ khỏi tâm phản Ki-tô, một nỗ lực hoàn toàn bất khả thi. Con lạc đà đi xuyên qua lỗ kim dễ hơn phú ông đi vào thiên đàng (Matthew 19:24). Phú ông giàu vì ông nghĩ ông sở hữu con đường cứu rỗi và ông dính mắc với “của cải” của ông.

Không ai có thể giải thoát con khỏi một tin tưởng bất toàn nếu con không muốn. Con phải quyết định buông bỏ tin tưởng bất toàn này và con không thể buông bỏ khi con không sẵn sàng nhận trách nhiệm chính mình đã cho phép tin tưởng này đi vào bốn thể phàm của mình. Nếu con không nhận lãnh trách nhiệm, đơn giản là con không có uy lực để giải thoát mình. Khi không lãnh trách nhiệm, khi duy trì thói quen chạy trốn, con quả thật đang để các tin tưởng bất toàn cầm tù con trong bốn thể phàm. Đây là một phương trình rất giản dị và thày hy vọng con thấy được hệ quả lớn lao của nó trên cuộc đời của con. Nếu con phá tan thói quen chạy trốn, con có thể vĩnh viễn xoay chuyển cuộc đời mình và đặt nó vào đường rày tích cực. Năng lượng tha hóa tồn trữ trong bốn thể phàm khiến con cảm thấy đau đớn hay khiến con mắc kẹt trong một số khuôn nếp, và chính năng lượng này khiến con khó từ bỏ một thói quen, kể cả thói quen chạy trốn cái gì khó chịu. Một lần nữa gỡ bỏ năng lượng tha hóa này sẽ khiến con dễ buông bỏ các tin tưởng bất toàn của con.

5.7. Con phải nhận trách nhiệm về đời mình

Chúng ta hãy tóm tắt những ý tưởng này. Vấn đề chúng ta cần đối diện là con đã xây đắp một thói quen rất thâm sâu chạy trốn việc lấy quyết định khó khăn. Cốt lõi của thói quen này là con không có khả năng thấy quyết định tốt nhất có thể có vì con đã đi xuống tâm thức nhị nguyên và không còn viễn kiến hợp nhất của tâm Ki-tô. Trong tâm thức nhị nguyên lúc nào cũng có nhiều chọn lựa và chọn lựa nào cũng có luận cứ ủng hộ nó. Cho nên khó chọn được cái tốt nhất. Trên thực tế, tất cả mọi chọn lựa mà con thấy đều do tâm thức nhị nguyên quy định và chúng đều đưa tới những hậu quả khó chịu. Con ở trong hoàn cảnh mà câu nói xưa mô tả: “Bạn bị đày đọa nếu bạn làm và bạn bị đày đọa nếu bạn không làm.” Một khi con trải nghiệm là tất cả chọn lựa của mình đều đưa tới hậu quả khó chịu, có gì lạ không khi con không còn muốn lấy quyết định nữa?

Chìa khóa để phá vỡ bế tắc này là gì? Nếu con có viễn kiến rõ ràng cho phép con thấy chọn lựa tốt nhất trong mỗi hoàn cảnh, thì bỗng nhiên lấy quyết định không còn khó nữa. Dù con đã chọn đi vào rừng rậm của tâm thức nhị nguyên, Thượng đế không để con thiếu an ủi. Như Giê-su đã nói, Thượng đế đã gửi cho con đấng an ủi (John 14:26) dưới dạng cái Ta Ki-tô của con. Đây là vị thày nội tâm của con có mặt trong con để hướng dẫn con leo lên lại cầu thang xoáy ốc. Mỗi bước con cần bước lên, cái Ta Ki-tô sẽ cho con hướng dẫn cần thiết để lấy quyết định tốt nhất. Hầu nhận được hướng dẫn nội tâm này, con phải hỏi với tâm thái đúng. Con phải nhận hoàn toàn trách nhiệm về cuộc sống mình. Con phải sẵn lòng thay đổi mình, có nghĩa là con phải sẵn lòng nhìn thấy từng tin tưởng nhị nguyên mà con cần khắc phục. Con phải cho phép vị thày phơi bày cho con tất cả những tin tưởng giả mà con có dù chuyện này tạo khó chịu cho con.

Thày đã thấy nhiều người đã khám phá khía cạnh tâm linh của cuộc sống và biết khái niệm hướng dẫn từ cao. Một số người ấy cầu nguyện Giê-su hay chính thày, một số cầu nguyện những vị thày tâm linh khác và một số cầu nguyện chính cái ta cao của họ. Ngày nào con người không thể nhìn quá thói quen trốn chạy, đơn giản là họ không thể hay họ sẽ không nhận được những câu trả lời mà các thày gửi tới họ. Quy luật của Thượng đế là khi con hỏi, con sẽ được trả lời. Vấn đề là có quá nhiều người xin trợ giúp nhưng họ không thật sự muốn sự giúp đỡ để tự giúp mình. Họ không muốn nhận hướng dẫn giúp họ lấy quyết định đúng, họ muốn một lọai giải pháp thần diệu nào đó cho phép họ không phải lấy quyết định. Họ không muốn được giúp đỡ để trở thành những người đồng-sáng tạo tự túc, hoàn toàn chịu trách nhiệm cuộc đời mình. Họ muốn các thày giải quyết vấn đề giùm họ để họ có thể tiếp tục trốn chạy.

Con hãy để thày cho con một tiêu chuẩn tuyệt đối. Một người thày giả sẽ vui lòng giúp con duy trì thói quen chạy trốn việc lấy quyết định. Một vị thày chân chính sẽ không làm bất cứ gì để củng cố thói quen này và thực ra sẽ làm mọi chuyện có thể làm để lay chuyển con thoát khỏi thói quen này. Khi con đặt câu hỏi trong tâm thái vẫn còn muốn trốn chạy lấy quyết định, con không thể nghe thấy vị thày chân chính. Thay vào đó, con nghe thấy các thày giả của ngã hữu diệt của con hay một đạo sư bên ngoài muốn con theo vị ấy thay vì lấy quyết định của mình.

Giê-su phác họa trách nhiệm của con như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế khi thày nói:   “Cha ta làm việc cho đến bây giờ, nay ta cũng làm việc như vậy (John 5:17)”. Thượng đế đã làm việc bằng cách sinh tạo ra con với một cá tính độc đáo, cho con quyền tự quyết và tạo ra cả một vũ trụ trong đó con có thể thực thi quyền tự quyết của mình. Con có trách nhiệmtiếp tục xây dựng trên nền móng đó bằng cách lấy những chọn lựa liên quan tới những gì con sẽ đồng-sáng tạo. Con không bao giờ có thể chạy trốn chọn lựa; đây là một giấc mơ bất khả thi do ngã hữu diệt của con tạo ra và cổ súy vì nó muốn lấy quyết định giùm con. Nếu con thấy trốn chạy là một tin tưởng sai lầm và nếu con lấy quyết định sẵn sàng làm việc để phá tan thói quen đó, thì con sẽ thấy là con nghe được chỉ đạo nội tâm rõ hơn. Khi con tuân theo lời chỉ đạo nội tâm này bằng hết khả năng của con, con sẽ tăng cường khả năng nghe thấy vị thày nội tâm của mình. Dần dà con sẽ thấy là giờ đây con có thể lấy những quyết định giúp con tăng triển thay vì quyết định đưa tới những hậu quả giới hạn tăng trưởng của con. Đây là cách duy nhất để xoay chuyển cuộc đời con thành vòng xoáy đi lên bằng cách lấy quyết định dựa trên sự chỉ đạo của một vị thày chân chính. Ngày nào con còn tiếp tục đi tìm một vị thày lấy quyết định giùm con, con sẽ ở lại trong vòng xoáy đi xuống và cuộc đời của con sẽ là một sự vật lộn không ngừng.

5.8. Thượng đế không đòi hỏi con toàn hảo

Con có thể khiến việc nhận trách nhiệm cuộc đời mình dễ dàng hơn bằng cách xây đắp trên nền tảng thày đã nói với con trong các chương trước, đấy là Thượng đế không có ý muốn chê trách con về những chọn lựa quá khứ của con. Nhiều người có vấn đề với hổ thẹn, mặc cảm tội lỗi và tự trọng thấp. Họ cảm thấy nếu họ nhìn nhận mình đã có những chọn lựa sai lầm trong quá khứ, thì họ sẽ rơi vào mặc cảm tội lỗi hay hổ thẹn mãnh liệt đến độ nó sẽ phá hủy bất cứ mức độ tự trọng nào mà họ có.  Một lần nữa, cường độ của bất kỳ cảm xúc nào do năng lượng bị tha hóa tồn đọng trong thể cảm xúc gây nên. Khi con tháo gỡ năng lượng này thì con hạ giảm cường độ. Con cũng có thể giúp mình bằng cách nhận ra Thượng đế không bao giờ đòi hỏi con phải toàn hảo. Thượng đế cho con quyền tự quyết và quyền thử nghiệm dùng quyền tự quyết đó. Thượng đế không chê trách con vì con đã lấy một số chọn lựa. Thượng đế giản dị muốn con học hỏi từ những chọn lựa đó và giải thoát mình khỏi các quyết định và hậu quả của chúng. Con không cần cảm thấy hổ thẹn hay tội lỗi vì đã phạm lỗi lầm trong quá khứ. Những cảm xúc này chỉ ngăn cản con học bài học và giải thoát mình khỏi những lỗi lầm đó. Điều con cần làm là thẳng thắn nhận đã phạm lỗi, học bài học cần học và sau đó buông bỏ các tin tưởng nhị nguyên đã khiến con phạm lỗi.

Có một sự phân biệt vi tế khác ở đây. Mỗi sai lầm con từng phạm đều bị ảnh hưởng bởi tâm nhị nguyên hay hoàn toàn dựa trên tâm nhị nguyên, tâm phản Ki-tô. Tâm thức này không là một phần của bản thể thật của con, nó không là một phần tất yếu của quả cầu cái ta của con. Cái ta thật của con, sinh thể tâm linh bất diệt mà con thật sự là, không phạm những sai lầm đó. Sai lầm xảy ra vì con đã xây đắp một ý niệm bản sắc tạm bợ dựa trên tâm thức nhị nguyên và ý niệm bản sắc này tối hậu không có thật.

Con không thể dùng lập luận này đến cùng cực và bảo rằng cái Ta Biết không chịu trách nhiệm về những quyết định đó. Nếu thế, con cũng nói là cái Ta Biết không có khả năng giải thoát chính nó khỏi quá khứ. Cái Ta Biết lấy quyết định đó nhưng nó làm vậy vì nó không còn tự đồng hóa như người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Cái Ta Biết phạm những lỗi lầm này dựa trên một thế giới quan đặc thù bị ảnh hưởng bởi tâm thức nhị nguyên. Cái Ta Biết nhìn qua phin lọc của một ý niệm bản sắc thấp hơn. Phin lọc này, ý niệm bản sắc này dựa trên sự tách biệt với Thượng đế, ý niệm bản sắc này tối hậu không thật và không phải là một thành phần của con. Cái Ta Biết có thể tách ra khỏi ý niệm bản sắc đó bằng cách với lên trên và nối kết lại với bản sắc bất diệt của nó. Muốn làm vậy đòi hỏi một hành động ý chí có ý thức. Con phải muốn ngưng trốn chạy việc lấy quyết định và con phải muốn cho ý niệm cái ta hữu diệt chết đi.

Con không thể chịu nổi tình trạng không có bản sắc. Con không thể cho ý niệm bản sắc hữu diệt chết đi nếu chưa có cái gì khác thay thế nó. Đó là lý do vì sao thày nhấn mạnh bắt đầu với việc thanh lọc thể bản sắc là quan trọng. Chỉ khi con tìm ra ý niệm bản sắc cao nhất của con, con mới có một cái gì thay thế ý niệm bản sắc hữu diệt. Chỉ khi nào con biết và hoàn toàn chấp nhận con là người đồng-sáng tạo với Thượng đế, con mới thực sự có thể để cho ý niệm bản sắc hữu diệt chết đi. Đây là cách duy nhất để xây đắp lòng tự trọng thật, lòng tự trọng xây dựng trên tảng đá của Ki-tô khi con biết mình là ai. Con biết con là người đồng-sáng tạo với Thượng đế và con biết đấng Sáng tạo cho con quyền cai quản trái đất và thị hiện vương quốc của ngài.

Ai ai cũng lớn lên với chờ mong cuộc sống phải như thế nào. Mỗi người đã xây dựng một số mong chờ qua nhiều kiếp sống. Nếu con có thể thay đổi mong chờ của con về cuộc đời mình, thì cuộc sống của con dễ dàng hơn nhiều. Một trong những chờ đợi vi tế nhất chính là ý tưởng Thượng đế đòi hỏi con phải toàn hảo. Đây là tin tưởng con phải đạt một tiêu chuẩn siêu phàm, siêu trần thế để được chấp nhận bởi Thượng đế. Những người đã thăng thiên không phải là những người không bao giờ phạm sai lầm. Những sinh thể con tìm thấy trong cõi tâm linh, những sinh thể đã tốt nghiệp khảo hạch cuối cùng trên hành tinh trái đất không phải là những sinh thể toàn hảo, không bao giờ sai lầm, khi họ đi trên trái đất. Ngược lại, nhiều sinh thể ngày nay đã thăng thiên đã từng phạm nhiều lỗi lầm khi sống trên trái đất. Điều này thậm chí cũng áp dụng cho Giê-su, một người mà rất nhiều tín đồ Cơ đốc xem là toàn hảo. Những sinh thể đã thăng thiên không phải là những người không bao giờ phạm lỗi nhưng là những người sẵn sàng nhìn nhận mình đã sai lầm, sẵn sàng học bài học từ đó và sau đó buông bỏ chúng.

Điều duy nhất, hơn là mọi điều khác, giữ con đứng bên ngoài thiên đường, giữ con ở bên ngoài cuộc sống dồi dào là con nắm chặt điều gì đó, con bám cứng vào quá khứ. Điều duy nhất, hơn là mọi điều khác, sẽ giúp con lao mình vào sự sống dồi dào và bắn con lên thiên đường là con sẵn sàng buông bỏ mọi bất toàn, buông bỏ quá khứ. Ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian muốn con tin là con không bao giờ thoát khỏi quá khứ. Đây là lời dối trá quỷ quyệt và sự thật là con có thể giải thoát mình khỏi mọi bất toàn quá khứ. Để có thể giải thoát mình khỏi những bất toàn như thế, con phải sẵn sàng buông bỏ chúng. Con yêu dấu, con hãy giữ nằm lòng câu nói giản dị sau: “Con không lên thiên đàng vì con nắm giữ bao nhiêu mà vì con buông bỏ bao nhiêu.” Quả vậy đó là lý do tại sao Giê-su nói người nào tìm cách cứu sự sống mình sẽ mất sự sống trong khi người chịu mất sự sống –  nghĩa là mất ý niệm bản sắc nhị nguyên để có thể bước lên cao hơn – sẽ tìm được sự sống vĩnh cửu (Matthew 16:25).

5.9. Kiêu hãnh trước khi sa ngã

Thày đã giải thích cho con một trong những yếu tố đã khiến rất nhiều người ôm ghì quá khứ. Đó giản dị là khuôn nếp tránh né, muốn trốn chạy quá khứ. Đó là nỗi sợ đau đớn. Con người tránh không nhìn vào những quyết định bất toàn trong quá khứ của họ vì họ sợ nỗi đau của sự hổ thẹn, mặc cảm tội lỗi và hối tiếc khi xem xét mình. Còn một lý do khác ảnh hưởng tất cả mọi người, tuy một số kẹt vào đó nhiều hơn những người khác. Đó là ý niệm không cần thay đổi, không cần buông bỏ quá khứ, không cần nhìn nhận đã làm lỗi và không cần hiểu tại sao đã làm lỗi. Tâm thái này có thể tóm tắt trong một chữ, đó là “kiêu hãnh.”

Kiêu hãnh quả thực xảy ra trước khi sa ngã nhưng thày quan tâm tới sự kiêu hãnh ngăn cản con đứng lên sau khi té ngã. Loại kiêu hãnh này nói rằng con không cần với lên sự thật cao hơn của tâm Ki-tô bởi vì con đã biết những điều cần biết để được cứu rỗi. Con đã có chân lý do một tôn giáo vỏ ngoài, học thuyết vỏ ngoài hay hệ thống tin tưởng vỏ ngoài cho con. Con không cần hạ mình và xin sự hướng dẫn từ một vị thày tâm linh chân chính, thật ra con không cần thày.

Có cả triệu người bị kẹt trong dạng kiêu hãnh này dù họ hoàn toàn không thấy được đó là kiêu hãnh. Họ tin chắc là họ thuộc vào tôn giáo chân chính duy nhất hay hệ thống tin tưởng chân chính duy nhất, tỷ dụ khoa học duy vật hay Cơ đốc giáo chính thống. Họ hoàn toàn không muốn xem xét để thấy là hệ thống tin tưởng của họ, toàn bộ cách tiếp cận sự sống của họ có thể giới hạn, thiếu sót hay sai lệch vì chúng dựa trên tâm thức phản Ki-tô. Lẽ tất nhiên thái độ này chính là điều mà ngã hữu diệt của họ và ông hoàng thế gian muốn họ nghĩ. Ác ma không thích gì hơn là khi hắn có thể khiến cho con người tin một lời dối trá và sau đó khiến họ tin lời dối trá thứ nhì là lời dối trá đầu là sự thật tuyệt đối không thể sai lầm sẽ bảo đảm đưa họ lên thiên đàng, miễn là không ai tra vấn nó.

Các lực của thế gian muốn con người cảm thấy họ đã biết hết mọi chuyện rồi, họ đã hiểu hết sự vận hành của cuộc sống. Họ không cần với lên vị thày chân chính là một đại diện của tâm Ki-tô hoàn vũ. Bước ngoặt thật sự đưa con xuống cầu thang xoáy ốc đi xuống không phải là khi con thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Vấn đề chính là sau khi con mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên, con quyết định không muốn trở về với vị thày chân chính là người đại diện cho tâm Ki-tô hoàn vũ cho cá nhân con. Từ ngày đó, con đã đi theo các đạo sư giả là ngã hữu diệt và nhiều đại diện khác của ông hoàng thế gian, tâm thức phản Ki-tô. Các đạo sư giả là những người kẹt trong tâm thức nhị nguyên, nhưng như Giê-su nói, họ thường xuất hiện ngụy trang. Họ là những con chó sói xuất hiện dưới bộ lông cừu (Matthew 7:15). Thậm chí họ còn xuất hiện như ác ma chuyển hóa thành thiên thần ánh sáng (2Corinthians 11:14). Họ xuất hiện như những tiên tri giả tuyên bố là họ đại diện Thượng đế hay Ki-tô nhưng trên thực tế họ sẽ đưa con vào con đường giả của phản Ki-tô. Họ quả thật là những lãnh đạo mù và nếu con muốn cuộc sống dồi dào, con phải mở mắt và ngưng đi theo họ (Matthew 15:14).

Những người kẹt trong trạng thái tâm thức này có một đặc tính chính là họ tin chắc họ không thể nào sai. Đặc tính này liên kết với khuynh hướng chạy trốn lấy trách nhiệm cho sự cứu rỗi của mình. Nếu con muốn giải thoát mình khỏi một quyết định bất toàn trong quá khứ, con phải nhìn nhận quyết định đó sai, nó không phải là quyết định tốt nhất có thể có và con cần thay thế nó bằng một quyết định tốt hơn. Nếu con kẹt trong kiêu hãnh, con sẽ không sẵn sàng thú nhận mình sai, con sẽ không sẵn sàng hạ mình mà nói: “Tôi không có hiểu biết để lấy quyết định tốt nhất có thể có, bằng không tôi đã không phạm sai lầm trong quá khứ. Tôi cần với lên hiểu biết này và cách để đạt hiểu biết là tôi tìm sự giúp đỡ của một vị thày có khả năng đại diện thật sự cho tâm Ki-tô và có thể thấy điều tôi không thể thấy.”

5.10. Chỉ có một cách là nghe theo sự thật Ki-tô

Vấn đề thực sự duy nhất trên hành tinh trái đất là con người đã quay lưng lại với vị thày chân chính và thay vào đó đi theo đạo sư giả. Giải pháp thật sự duy nhất là con người nhận ra sai lầm đó, tách mình ra khỏi các đạo sư giả và một lần nữa chấp nhận hướng dẫn thương yêu của một vị thày chân chính. Con hãy suy xét ẩn dụ cỏ dại lẫn lộn trong lúa mì (Matthew 13:24). Nó minh họa sự kiện có quá nhiều người trên trái đất đã cho phép mình vướng mắc trong tâm thức phản Ki-tô và vướng mắc với những người thể hiện tâm thức đó, cho nên Thượng đế không thể gỡ bỏ những đại diện của phản Ki-tô trên trái đất mà không bứng theo cây lúa mì là những người còn dốc tâm theo tâm linh chân chính.

Con cần tách mình ra khỏi tâm thức phản Ki-tô và tâm ngạo mạn là nét đặc trưng của tâm thức này. Tâm thức phản Ki-tô đích thực tin chắc nó biết cách điều hành vũ trụ giỏi hơn Thượng đế, cho nên trạng thái tâm này không chấp nhận bất cứ thẩm quyền nào trên nó hay vượt quá nó. Nó không chấp nhận Thượng đế là thẩm quyền tối hậu, nó sẽ không chấp nhận tâm Ki-tô hoàn vũ và không chấp nhận người thể hiện tâm này là người đại diện chân chính của Thượng đế trên thế gian này. Nó sẽ không chấp nhận bất kỳ sinh thể tâm linh nào hay bất kỳ sinh thể hiện thân nào là đại diện cho tâm Ki-tô hoàn vũ và quả thực đấy là lý do con thấy một số người hoàn toàn bác bỏ Giê-su khi thày đi trên trái đất bằng xương bằng thịt. Những người như thế muốn đuổi Ki-tô hiện thân ra khỏi thế gian này để Ki-tô hiện thân không thể giải thoát con người khỏi tù ngục của họ.

Một số trong họ tuyên bố rất ngoan đạo hay rất tâm linh. Họ thường tuyên bố là đại diện của tôn giáo chân chính duy nhất. Khi Ki-tô Hằng sống đứng trước mặt họ bằng xương thịt, họ chối bỏ thày, âm mưu hại thày và rốt cuộc đưa thày vào chỗ chết. Điều này cho con thấy những người thể hiện tâm thức phản Ki-tô sẽ làm gì để ngăn cản chân lý Ki-tô được rao giảng trên trái đất. Lòng ngạo mạn, kiêu căng của họ sâu đến độ họ khó lòng giải thoát mình khỏi tâm thái này. Con có thể nhanh chóng giải thoát mình khỏi lòng kiêu mạn nếu con sẵn lòng nhìn thấy nó như nó là và nhận ra nó đã cầm tù con trong một hộp tư duy rất chật hẹp.

Làm sao con giải thoát mình khỏi lòng kiêu hãnh của phản Ki-tô? Nguyên tắc hoàn vũ là con không thể giải quyết một vấn đề với cùng tâm thức đã tạo ra vấn đề. Con không thể giải thoát mình khỏi tâm thức phản Ki-tô bằng cách dùng lô-gíc và khả năng suy luận của tâm phản Ki-tô. Đây là con đường đưa đến thất bại của những người kẹt trong trạng thái tâm thức này. Lòng ngạo mạn khiến họ nghĩ tâm thức phản Ki-tô cao trội hơn tâm thức Ki-tô, thậm chí cao hơn cả tâm Thượng đế. Họ nghĩ đã chứng minh điều này bằng cách dùng lô-gíc nhị nguyên, có thể “chứng minh” bất cứ gì. Họ mù quáng không thấy sự thật là tâm thức phản Ki-tô và lý luận nhị nguyên của nó không thể nắm bắt chân lý tối hậu của tâm Ki-tô. Họ nghĩ bằng cách dùng lô-gíc của trí năng và tâm suy luận, họ có thể tạo ra một hệ thống tin tưởng đúng tuyệt đối.

Nhưng sự thực là mọi hệ thống tin tưởng do tâm thức nhị nguyên tạo ra đều sai tuyệt đối. Tâm nhị nguyên luôn luôn có thể đưa ra một lập luận có vẻ như chứng minh được điều nó muốn tin. Người bị kẹt trong tâm thức phản Ki-tô luôn luôn có thể định ra một lập luận thuyết phục chính họ là họ đúng. Nếu họ đúng, tại sao họ cần đến một đại diện tâm Ki-tô, tại sao họ cần đến một vị thày tâm linh, đặc biệt là nếu vị thày đó chất vấn các tin tưởng “tuyệt đối” của họ? Tại sao lại cần đến một vị thày đã thăng lên một cõi cao hơn trong khi họ đã có chân lý tuyệt đối ngay đây trong cõi vật chất này? Tại sao họ lại cần công nhận bất cứ thẩm quyền nào cao hơn họ khi mà họ biết hết mọi chuyện hơn bất cứ ai khác?

Nếu con muốn giải thoát mình khỏi tâm thức nhị nguyên, tâm thức phản Ki-tô, thì con chỉ có một cách. Con phải sẵn sàng lấy trách nhiệm về những quyết định con đã lấy trong quá khứ. Sau đó con phải sẵn lòng nhận ra con đã lấy những quyết định đó vì con không có tầm nhìn sáng suốt và sự hiểu biết của tâm Ki-tô. Mọi quyết định bất toàn mà con đã từng làm dựa trên lý luận nhị nguyên của tâm phản Ki-tô. Cách duy nhất để giải thoát mình khỏi quyết định đó là vươn lên viễn kiến nhất nguyên, viễn kiến của con mắt đơn nhất của tâm Ki-tô. Ngày nào cái Ta Biết còn mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên thì con không thể tự mình thấy được chân lý cao hơn đó. Đó là lý do tại sao con cần một vị thày có thể cho con một mảnh chân lý từ tầm nhìn cao hơn của tâm Ki-tô.

Con hãy tưởng tượng lớn lên trong một mê cung. Thế giới của con là những bức tường xanh lá tạo thành những lối đi có vẻ chẳng dẫn tới đâu cả. Nếu con sinh ra trong một mê cung như vậy, thì con sẽ nghĩ thế gian là một mê cung và bên ngoài chẳng có gì cả. Điều này giống sự kiện con người nghĩ không có gì ngoài vũ trụ vật chất hay không có gì ngoài những tin tưởng nhị nguyên mà họ được dạy là không thể sai. Khi con tỉnh ngộ và nhận ra cuộc sống có một khía cạnh tâm linh, có một con đường có hệ thống dẫn tới một trạng thái tâm thức cao hơn, thì con nhận ra có gì khác bên ngoài mê cung. Từ đó con nảy sinh ý tưởng có con đường thoát khỏi mê cung nhưng bởi vì con vẫn còn ở trong mê cung, con không gần hơn việc tìm ra lối thoát. Con chưa thấy được tổng thể vì còn chú tâm vào chi tiết, con chưa thấy con đường thoát ra mê cung. Bỗng nhiên, con nghe một giọng nói gọi con và khi ngước lên, con thấy một người đứng trong một cái giỏ của một quả bóng bay lơ lửng trên mê cung. Người này nhìn mê cung từ trên cao và có thể thấy rõ vị thế của con so với lối đi ra duy nhất. Con có nhận sự hướng dẫn của người đó hay con nhất quyết mình có thể tự tìm ra lối thoát?

Lẽ dĩ nhiên con có thể phớt lờ người hướng dẫn và dò dẫm tìm đường đi trong mê cung với hy vọng một ngày kia tự mình tìm ra lối thoát. Nếu mê cung là một mê cung lừa lọc không có lối ra bình thường thì sao đây? Nếu con cứ tiếp tục đi theo những con lộ có sẵn, thì con sẽ chỉ quay trở về nơi con khởi đầu. Cách duy nhất ra được là tìm tới được một trong những bức tường bên ngoài và đâm mạnh xuyên qua những bụi cây tạo thành bức tường đó. Con có bao giờ nghĩ tới chuyện làm như vậy chăng? Không người nào kẹt trong tâm thức nhị nguyên có thể dùng lô-gíc của trạng thái tâm này để lý luận rằng y cần vượt lên trên tâm thức nhị nguyên để đột phá thoát khỏi mê cung. Chỉ có viễn quan cao hơn của tâm Ki-tô mới có thể cho con khái niệm này. Con yêu dấu, xin con lắng nghe tiếng nói của vị thày chân chính luôn có mặt để hướng dẫn con. Xin con nhận ra rằng vị thày chân chính luôn luôn tìm cách giúp con thoát khỏi hộp tư duy hiện thời của con. Vị thày chân chính sẽ nói với con điều con cần nghe, không phải điều ngã hữu diệt muốn con nghe. Do đó, ngã hữu diệt của con sẽ luôn luôn phản đối điều mà vị thày chân chính bảo con và nó luôn luôn tìm cách khiến con lờ đi hay chối bỏ hướng dẫn của vị thày chân chính.

5.11. Cái Ta Ki-tô là vị thày nội tâm

Cách duy nhất để bắt đầu tiến trình leo lên trở lại cầu thang xoáy ốc là con nhận ra sự thật là con không có những hiểu biết mà con cần, do đó con cần khiêm tốn và với lên một vị thày tâm linh để xin giúp đỡ. Quy luật hoàn vũ là khi con hỏi, con sẽ được trả lời. Có những vị thày tâm linh trên cõi cao hơn đang chờ lời kêu gọi của con. Con có một vị thày riêng của con, mà thày gọi là cái Ta Ki-tô sẵn sàng giúp con từng bước trên con đường dẫn con trở về sự sống dồi dào.

Cái Ta Ki-tô của con được tạo ra như một sự đối trọng với ngã hữu diệt. Ngã hữu diệt được xây dựng từ sự tích lũy nhiều quyết định nhị nguyên dần dần đưa con đi xuống cầu thang xoáy ốc. Cái Ta Ki-tô đi theo con từng bước con đi xuống và do đó vị thày nội tâm của con biết từng quyết định nhị nguyên con đã lấy, từng tin tưởng nhị nguyên con đã chấp nhận. Cái Ta Ki-tô có thuốc giải độc cho mỗi quyết định này. Cái Ta Ki-tô có chân lý phản bác từng lời dối trá nhị nguyên tạo thành ngã hữu diệt. Cái Ta Ki-tô có chân lý sẽ giải thoát con. Một khi con xin được giúp, con sẽ bắt đầu nhận được sự giúp đỡ. Con cần luôn giữ trong tâm ý tưởng rằng khi vị thày xuất hiện, con cần nghe theo thày và làm theo hướng dẫn của thày. Con cần nhận ra khi vị thày chân chính xuất hiện, thày đến để cho con sự thật vượt quá những tin tưởng nhị nguyên của ngã hữu diệt. Ngã hữu diệt sẽ chế ra một lập luận rất tinh xảo để khiến con bác bỏ chân lý này.

Ngã hữu diệt không muốn con thay đổi, nó không muốn con chấp nhận chân lý cao hơn do một vị thày tâm linh chân chính trao cho con. Vị thày tâm linh chân chính muốn con thay đổi, muốn con thoát khỏi quá khứ, muốn con tiến lên cao hơn. Điều làm con kẹt trong trạng thái tâm thức hiện nay của con là sự dính mắc vào các tin tưởng nhị nguyên. Khi vị thày chân chính đến với con, thày tới để cho con sự thật sẽ phá vỡ một trong những tin tưởng nhị nguyên đó, có thể đôi khi làm con bị cú sốc. Chính thực bản chất của vị thày chân chính là phá rối tính kiêu căng, ngạo mạn của con, phá vỡ thái độ cho rằng con biết hết mọi chuyện hay con không thể thay đổi hay con không cần thay đổi. Vị thày chân chính sẽ chất vấn tin tưởng cho rằng tôn giáo hay hệ thống tin tưởng hiện thời của con có thể giải thích mọi chuyện. Như Giê-su đã chứng minh, vị thày chân chính không đến để xác chứng những tin tưởng hiện thời của con. Thày đến để thách đố bất kỳ khía cạnh nào của các tin tưởng hiện thời của con dựa trên lý luận nhị nguyên của tâm phản Ki-tô. Con không bao giờ cho phép mình đi vào lề lối suy nghĩ cho rằng một vị thày chân chính phải hoàn toàn đồng ý với những lời dạy của một tôn giáo bên ngoài hay kinh điển.

Điều này sẽ gây sốc cho một số người Cơ đốc nhưng nếu con chờ đợi vị thày chân chính chỉ nói với con những điều hoàn toàn phù hợp với Thánh Kinh hay đúng hơn cách diễn giải Thánh Kinh đặc thù của con, thì chắc chắn con sẽ cản vị thày chân chính giúp con. Giê-su nói và làm nhiều chuyện chất vấn người Do thái chính thống và sự diễn giải Kinh Torah của họ. Nếu con xin vị thày tâm linh chân chính giúp đỡ, con phải chờ đợi là thày sẽ tra vấn nhiều tin tưởng hiện hành của con. Nếu con không sẵn sàng công nhận chân lý thày trao cho con, dù chân lý đó nói ngược lại tin tưởng hiện hành của con, con sẽ không thể nhận được sự giúp đỡ của thày. Con sẽ kẹt lại trong sự ngạo mạn và kiêu hãnh khiến con nghĩ chân lý tuyệt đối của Thượng đế có thể giới hạn trong bất kỳ kinh điển hay hệ thống tin tưởng nào tìm thấy trên trái đất. Cốt lõi của thái độ này là lòng ngạo mạn vi tế khiến con, hay đúng hơn là ngã hữu diệt tin rằng nó biết hơn Thượng đế cái gì là thật và cách con được cứu rỗi.

Hàng triệu người tuyên bố họ là tín đồ tôn giáo sùng đạo nhưng họ bị kẹt trong bẫy kiêu căng vi tế, kiêu căng tâm linh đó. Họ nghĩ sự diễn giải kinh điển đặc thù của họ, được đưa ra trong quá khứ xa xôi, hay hơn bất kỳ lời giảng nào của một vị thày tâm linh ngày nay. Kiêu căng này có nhiều dạng vi tế khác nhau. Ví dụ, nhiều người có lòng tự trọng thấp và xem mình là người phạm  tội khốn khổ hay không có khả năng làm bất cứ điều gì đúng. Thoạt nghe không có vẻ kiêu căng, nhưng đằng sau khuynh hướng đè bẹp mình, đằng sau tự ti mặc cảm là lòng kiêu căng nghĩ mình biết hơn Thượng đế. Sự thật là Thượng đế sinh tạo con như một cá nhân độc đáo, tuyệt vời một cách độc đáo, có khả năng làm bất cứ gì con muốn trong phạm vi quy luật của Thượng đế. Nếu con thay thực tế này với một hình ảnh về mình thấp kém hơn hình ảnh Thượng đế đã tạo ra, quả thực con đang nói con biết hơn Thượng đế con là ai. Nghĩ rằng mình biết hơn Thượng đế chỉ có thể đến từ lòng kiêu căng của ngã hữu diệt.

5.12. Hãy khiêm tốn nghe lời con kiến

Thày thấy hàng triệu người đi tới kết luận họ bị kẹt, họ cần thay đổi cuộc đời họ. Thày thấy nhiều người kêu cứu xin giúp đỡ và lời kêu cứu thường chân thành. Họ thật sự muốn thay đổi, nhưng lại bị kẹt trong sợ hãi hoặc kiêu ngạo. Họ không muốn xem xét một hiểu biết mới ngược lại hay đi quá xa hệ thống tin tưởng hiện hành của họ. Cả triệu lần, thày trải nghiệm một người kêu cứu xin giúp đỡ. Thày cho họ hiểu biết cao hơn và họ bác bỏ hiểu biết này.

Có nhiều người bắt đầu học khóa này nhưng khi gặp một câu nói đi ngược lại hệ thống tin tưởng vỏ ngoài của họ, họ sẽ dùng làm cớ để bác bỏ toàn bộ khóa học. Đây quả thực là một trong những vấn đề lớn nhât mà chúng tôi, những vị thày tâm linh gặp phải. Các thày muốn giải thoát con người, nhưng không làm được vị họ quá dính mắc một số tin tưởng nhị nguyên. Một trong những lý do chính khiến họ dính mắc những tin tưởng hiện hành của họ chính là lòng kiêu căng và ngạo mạn của tâm phản Ki-tô khiến họ tin họ đã biết hết mọi chuyện, họ đã có chân lý tối hậu, tôn giáo tối hậu. Ngay cả khi con người kêu lên cầu cứu, họ muốn câu trả lời phù hợp với hộp tư duy của họ. Làm sao câu trả lời có thể giải thoát con khỏi nhà tù tư tưởng hiện thời của con khi câu trả lời đó phù hợp với những tin tưởng tạo nên hộp tư duy đó? Điều này giản dị không xảy ra được; nó là vòng luẩn quẩn bế tắc.

Giê-su nói kẻ nhu mì sẽ được thừa kế trái đất (Matthew 5:5) và người nhu mì là những ai sẵn sàng hạ mình và nhận ra họ không biết hết mọi chuyện, họ không có hiểu biết cần có để giải thoát họ khỏi những hạn chế hiện hành của họ. Người nhu mì là người sẵn sàng xin sự giúp đỡ từ Trên cao, sự giúp đỡ từ vị thày biết nhiều hơn họ, sự giúp đỡ từ vị thày đã thoát khỏi sức lôi kéo của tâm phản Ki-tô. Con muốn một vị thày đã vươn lên quá nhị nguyên và do đó có thể cho con chân lý một của tâm Ki-tô. Những ai đi theo một vị thày tâm linh chân chính cuối cùng sẽ thừa kế trái đất vì những người kẹt lại trong tâm phản Ki-tô chắc chắn sẽ tự hủy diệt. Họ sẽ bị chính niềm kiêu hãnh và sự tiêu cực tiêu hủy nên sẽ không thể tiếp tục ở trên trái đất và phải đi xuống một cõi thấp hơn.

Khi con chìm sâu vào tâm thức nhị nguyên, trạng thái tâm này sẽ lôi kéo con về một trong hai cực đoan. Dù con rơi vào cực đoan nào, thì lực co lại của Mẹ sẽ tạo ra lực đối nghịch kéo con trở về trung đạo. Thật là một điều đáng buồn là có nhiều người trên trái đất sống cuộc đời bị kẹt trong niềm kiêu ngạo vi tế tin rằng họ đã hiểu mọi chuyện. Họ không sẵn sàng xin hiểu biết cao hơn, họ không sẵn sàng xin sự giúp đỡ của một vị thày tâm linh chân chính.

Điều gì có thể đưa họ tới điểm hạ mình để có thể xin giúp đỡ? Trên thực tế điều duy nhất có thể đưa họ tới điểm này là một khủng hoảng khốc liệt đến độ rốt cuộc nó phá tan sự cao ngạo của họ và khiến họ chịu hạ mình xin giúp đỡ. Nếu con nhìn một cách trung thực những người con biết, con sẽ thấy sự vận hành của khuôn nếp đó. Con sẽ thấy nhiều người sống trọn đời mà không hề chú ý tới khía cạnh tâm linh của sự sống. Bất thình lình, họ trải qua một cơn khủng hoảng có thể là một căn bệnh ngặt nghèo, sự qua đời của một người thân hay những thảm họa khác, và bây giờ họ hướng tới Thượng đế và cầu cứu.

Rất nhiều khi, những người này không thật sự hạ mình. Họ đơn giản xem Thượng đế là ông thần trong cái lọ và họ chờ đợi ông thần nhảy ra giải quyết vấn đề và tháo gỡ nỗi đau của họ. Họ vẫn kẹt trong khuôn nếp chạy trốn vị thày chân chính và do đó họ không sẵn sàng được hướng dẫn để thay đổi chính mình. Họ không sẵn lòng thấy chính họ đã tạo ra khủng hoảng bằng cách đi vào một đối cực nhị nguyên và vì vậy nó kích động lực đối nghịch từ Ánh sáng Mẹ. Họ càng chống trả lực này, khủng hoảng càng sâu đậm hơn. Họ thấy mình là nạn nhân của hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của họ và họ không sẵn lòng nhìn nhận là đằng sau tình huống đó, có một thông điệp, chính là họ cần thay đổi chính mình. Thày thành thật hy vọng con sẽ chọn một cách sống khác. Thày thành thật hy vọng con không đợi rơi vào khủng hoảng mới xoay chuyển và xin sự giúp đỡ của một vị thày chân chính. Thày hy vọng con chọn phương pháp sẵn sàng được Thượng đế dạy dỗ, con sẵn sàng quay lưng lại đạo sư giả và một lần nữa đối mặt với vị thày chân chính mà con đã từ bỏ lâu trước nhưng thày thì không bao giờ từ bỏ con.

Thày hy vọng con cũng theo một trong những phương châm của các vị thày tâm linh của nhân loại. Nó là: “Nếu vị thày là con kiến, hãy nghe theo thày!” Vị thày chân chính sẽ không dạy những điều phù hợp với các tin tưởng con đang có nhưng sẽ chất vấn những kỳ vọng của con. Trong nhiều trường hợp, một vị thày chân chính sẽ không xuất hiện dưới dạng một sinh thể trên trời cho con chân lý viết bằng chữ lửa. Một vị thày tâm linh rất có thể xuất hiện ngụy trang khiêm tốn như một người con nghĩ không phải là một vị thày tâm linh hay cũng có thể con nghĩ người ấy ở một địa vị thấp kém hơn con và chẳng có gì để dạy con. Người đó hay cuốn sách đó quả thực có một thông điệp mà con cần và nếu con kẹt trong sự kiêu căng nghĩ rằng vị thày chân chính không thể nào xuất hiện dưới dạng này hay dạng kia, con sẽ hụt thông điệp. Con nghĩ đi tại sao Giê-su lại sinh ra trong hoàn cảnh hèn mọn và không thuộc về giới chức tôn giáo? Tại sao thày rất thường xuyên phá vỡ mong chờ của người khác? Con nghĩ xem tại sao Kinh Thánh nói: “Chớ quên tiếp người lạ: có khi kẻ làm điều đó đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết” (Hebrews 13:2).

5.13. Với lên bản thể tâm linh thật của con

Con yêu dấu, thày khuyến khích con lấy thái độ là dù con là ai và dù con hiểu biết bao nhiêu chăng nữa, con luôn luôn sẵn sàng với lên hiểu biết cao hơn về bất kỳ lãnh vực nào của sự sống. Nhiều người đã được nuôi dạy để nghĩ rằng một tôn giáo hay một hệ thống tin tưởng đặc thù là chân lý tuyệt đối. Thày khuyến khích con vượt quá lời dối trá này vì nó thực sự dựa trên sự kiêu hãnh nảy sinh từ tâm phản Ki-tô. Chân lý tuyệt đối của Thượng đế vượt lên trên những gì được biểu lộ bằng từ ngữ trong vũ trụ vật chất. Vũ trụ vật chất hiện nay có quá nhiều bóng tối nên giản dị là không thể trao truyền chân lý tuyệt đối của Thượng đế dưới hình thức một tôn giáo hay hệ thống tin tưởng đặc thù. Nếu con muốn biết chân lý, con phải sẵn sàng vươn lên quá bất kỳ những gì tìm thấy trong thế giới vật chất, kể cả kinh điển hay hệ thống niềm tin vỏ ngoài. Con phải sẵn sàng vươn lên quá tâm thức nhị nguyên và tìm vị thày chân chính có thể cho con chân lý của Ki-tô, cho dù chân lý đó không thể biểu lộ bằng lời nói. Nếu con muốn chân lý, con phải ngưng tìm nó bên ngoài con. Con phải sẵn sàng dùng Chìa khóa Hiểu biết để tìm thấy chân lý trong vương quốc Thượng đế bên trong con. Không phải là chân lý chỉ tìm được bên trong cái ta cao của con. Giản dị là cái Ta Biết chỉ có thể tìm thấy chân lý bằng cách nhìn vào bên trong chính nó.

Thày không nói các tôn giáo tìm thấy trong thế gian này hoàn toàn giả hay không có chân lý. Nhiều tôn giáo trên hành tinh này có một mức chân lý cao và đưa ra một con đường có giá trị dẫn tới tự thăng vượt là chìa khóa của cứu rỗi. Không có gì sai trái khi tự coi mình là tín đồ Cơ đốc hay Phật giáo hay Ấn độ giáo. Nhưng khi con rơi vào cái bẫy nghĩ rằng tôn giáo của con là tôn giáo chân chính duy nhất và nó có hiểu biết đầy đủ, tuyệt đối và không bao giờ sai về sự sống, con đã cắt mình khỏi vị thày tâm linh chân chính. Con đã chối bỏ vị thày chân chính và con đã nói là con thà giới hạn tìm cầu chân lý trong một khung sườn vỏ ngoài đặc thù hơn là với lên Chân lý Hằng sống.

Cốt lõi của Thượng đế là tự thăng vượt. Tạo vật của Thượng đế là Dòng sông sự Sống luôn tuôn chảy và do đó chân lý của Thượng đế là luôn luôn tự thăng vượt. Nếu con giới hạn tìm cầu chân lý vào một khung sườn cố định bên ngoài, con sẽ không bào giờ tìm thấy Chân lý Hằng sống. Chân lý này không thể bị giam hãm trong một giáo điều hay hệ thống tin tưởng do con người tạo ra. Một hệ thống như vậy quả thực đã trở thành một hình ảnh khô chết, một hình ảnh đứng yên che mờ Thượng đế thật, Thượng đế Hằng sống. Con sẽ kính thờ một Thượng đế giả và ngày nào con còn nhất quyết nhảy múa chung quanh con bê vàng, các thày chân chính phải để yên con. Khác với các đạo sư giả, các thày chân chính luôn tôn trọng quyền tự quyết của con. Quy luật của họ là: “Nếu con hỏi thì con sẽ nhận.” Nếu con không hỏi hay nếu con không hỏi với tâm và trái tim cởi mở sẵn sàng nhìn quá những tin tưởng hiện hành của mình, các thày chân chính không thể dạy con bất cứ gì.

Con yêu dấu, thày không ở đây để bảo con phải trở thành thành viên của một tôn giáo đặc thù nào. Thày không ở đây để bảo con phải chấp nhận một hệ thống tin tưởng hay giáo điều bên ngoài nào. Thày không mấy quan tâm nhiều đến những gì con đang tin ngay lúc này. Quan tâm thực sự của thày là con sẵn sàng vượt thăng những tin tưởng hiện hành của con bằng cách với lên hiểu biết cao hơn. Ngày nào con còn duy trì ý muốn vươn lên một viễn kiến cao hơn, con đang ở trên con đường dẫn tới cuộc sống dồi dào. Ngay lúc con đóng tâm và trái tim lại với hiểu biết cao hơn, con rút mình ra khỏi Dòng sông sự Sống và do đó con ngăn chặn sự sống dồi dào đi xuống xuyên qua bốn thể phàm của con.

Chìa khóa để xoay chuyển cuộc đời của con vào vòng xoáy đi lên là với lên một cái gì cao hơn. Cái Ta Biết phải với lên thành phần cao hơn của Bản thể con, thành phần neo trụ trong tâm Ki-tô hoàn vũ. Chỉ khi con nối kết với Hiện diện TA LÀ này và nhận ra nó là cái ta thật của con, thì con mới có thể tách mình ra khỏi sự mắc kẹt vào ngã hữu diệt. Không dòng sống nào hiện hữu được mà không có ý niệm bản sắc. Con không thể buông bỏ ý niệm bản sắc hữu diệt nếu không có gì khác để thay thế nó. Con không thể chịu đựng được ý tưởng hiện hữu trong hư không, mình không là gì, mình không là ai. Để có thể hoàn toàn giải thoát khỏi sự đồng hóa với ngã hữu diệt, cái Ta Biết phải tái lập lại nối kết của nó với cõi tâm linh, với Hiện diện TA LÀ của con để con biết Bản thể con nhiều hơn là ngã hữu diệt.

Con phải bắt đầu bằng cách với lên quá ngã hữu diệt. Cái Ta Biết có khả năng làm thế vì cái Ta Biết có thể bất cứ lúc nào quyết định thay đổi ý niệm bản sắc của nó, ngưng đồng hóa với một giới hạn hữu diệt nào đó và thay vào đó, nó với lên một ý niệm bản sắc cao hơn xây dựng trên tảng đá của Ki-tô. Thày hy vọng đã cho con hiểu biết sâu xa về những gì con cần để vươn lên tới và xây đắp một ý niệm bản sắc mới. Giờ đây thày sẽ tiến thêm bước nữa và cho con một số dụng cụ thiết thực sẽ cho con quyền năng để tái sinh trong bản sắc chân chính của con là người đồng-sáng tạo với Thượng đế của con.

3 | Tâm hơn não bộ

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 21/4/2005.

Con tim yêu quý của mẹ, thày muốn xây dựng trên những giáo lý mà thày đã trao truyền trong chương trước. Trước hết, thày muốn nói thêm về phần vật lý của tâm, mà trước đây thày có đề cập đến nhưng chưa thưc sự mô tả rõ.

4.1. Não bộ không tạo ra trải nghiệm tâm linh

Các khoa học gia y học đã làm một số thí nghiệm trên não bộ để tìm hiểu não bộ và khám phá các chức năng cao hơn của nó. Tỷ dụ, họ khám phá là khi họ kích động một số hóa chất trong não bộ thì họ kích hoạt trải nghiệm rất giống những gì con người mô tả khi họ có trải nghiệm tâm linh hay trải nghiệm cận tử. Từ đó một số khoa học gia đã kết luận rằng mọi trải nghiệm tâm linh, và mọi tôn giáo, bắt nguồn từ một số tiến trình hóa học và điện từ trong não bộ. Họ kết luận là không có gì bên ngoài não bộ và mọi tôn giáo được tạo dựng trong não bộ. Một số nhà giải phẫu đã làm phẫu thuật não mở và khám phá rằng họ có thể kích thích một số khu vực của não và kích hoạt một số trải nghiệm. Một lần nữa, kết quả này đã khiến các khoa học gia duy vật kết luận rằng mọi trải nghiệm tâm linh đều được tạo dựng trong não bộ – rằng Thượng đế là sản phẩm của tế bào nơron trong não bộ hoạt động lệch lạc.

Ta có thể hiểu là một người đã quyết định rằng không có gì ngoài cõi vật chất sẽ đi tới kết luận đó. Viễn quan thiếu sót này là kết quả của sự kiện người đó đã chọn lựa giới hạn tâm mình vào cõi vật chất. Tâm ý thức của người đó giản dị không thể thấy ngoài cõi vật chất và không chịu chấp nhận là có thể có một giải thích sâu xa hơn. Lý do vì sao con người chỉ sử dụng khoảng 5-10 phần trăm tiềm năng của bộ não là các định khu cao hơn của não bộ chỉ được kích hoạt bởi một dạng năng lượng cao hơn. Các định khu này có thể được kích hoạt một cách giả tạo bởi một số hóa chất hay kích thích từ bên ngoài. Nhưng điều này không có nghĩa là sự kích thích các định khu não bộ tạo ra trải nghiệm tâm linh, mà chỉ có nghĩa là các định khu não bộ được thiết kế để giúp đem lại trải nghiệm ngõ hầu tâm ý thức có thể nắm bắt trải nghiệm khi con đang ở trong thân vật lý. Mục đích là để cho con trải nghiệm là sự sống vượt quá vũ trụ vật chất – khi con đang sống trong, có thể nói là bị giam trong, cõi vật chất.

Một trải nghiệm tâm linh chân chính xảy ra khi cái Ta Biết tự  tách mình ra khỏi tâm vật lý và thân thể vật lý, qua đó nó vươn lên quá cõi vật chất. Cái Ta Biết vươn lên cõi bản sắc và thậm chí xa hơn nữa lên cõi tâm linh. Đây là một hiện tượng hoàn toàn tự nhiên, vì cái Ta Biết có khả năng tự đồng hóa với bất cứ gì, ở bất cứ đâu. Cái Ta Biết có khả năng tách mình khỏi thân thể vật lý, ngay cả chỉ trong tạm thời, và vươn lên các phần cao của bản sắc của con, bản sắc thật của con như một sinh thể tâm linh. Khi con kết nối trở lại với bản sắc đó, thì ánh sáng có độ  rung cao tuôn chảy xuyên qua bốn thể phàm của con và con có thể có một số trải nghiệm tâm linh.

Cái Ta Biết rất có thể có trải nghiệm tâm linh nhưng trải nghiệm này không thể thấm xuống tâm ý thức của con. Việc này có thể do một số nghẽn trong các thể cao của tâm con, nhưng cũng có một số loại trải nghiệm tâm linh mà con không thể biết một cách ý thức khi trong thân thể vật lý. Lý do giản dị là bộ não con người không có những định khu có khả năng giúp nhận các trải nghiệm đó. Khi con có một trải nghiệm tâm linh thấm xuống tâm ý thức của con thì đó là vì não bộ vật lý có khả năng giúp nhận trải nghiệm đó. Cái Ta Biết đã vươn lên một cõi cao hơn và đã rải xuống một dòng ánh sáng thấm xuống não bộ vật lý và kích hoạt một trong những định khu cao của não bộ. Chính sự kích hoạt định khu não bộ này cho con trải nghiệm có ý thức.

Rất có thể cái Ta Biết có trải nghiệm tâm linh mà não bộ không thể diễn giải và do đó tâm ý thức không biết đến. Nhiều người tâm linh tự gỡ mình khỏi thân thể trong giấc ngủ và du hành lên cõi tâm linh để nhận hướng dẫn của các vị thày tâm linh. Đó là lý do vì sao con đôi khi tỉnh giấc với một cảm giác sáng suốt mới mẻ và với câu trả lời cho một câu hỏi con đang suy ngẫm. Đó cũng là lý do vì sao con có thể có một số chiêm bao ngay trước khi tỉnh giấc có vẻ rất rõ rệt và dường như chứa đựng một thông điệp sâu sắc. Có khi đó là một hiểu biết cao hơn về một vấn đề hay là một linh cảm về một biến cố tương lai. Cũng có khi là cảm giác mình đang bay, cảm giác tự do hay cảm giác mình là một phần của cái gì lớn hơn thân thể vật lý. Cũng có khi là cảm giác đứng ra ngoài thân thể vật lý và nhìn xuống nó.

Tất cả những trải nghiệm đó đều có thật, tuy nhiên, như các khoa học gia đã khám phá, cũng đúng là các trải nghiệm này có thể được dựng lên bằng cách kích thích não bộ vật lý. Điều này không có nghĩa là não bộ tạo ra trải nghiệm. Suy luận như vậy cũng giống như khi suy luận là màn ảnh tạo ra những hình ảnh hiện ra trên nó. Quả đúng là não bộ có thể ảnh hưởng hình thức và nội dung chính xác của trải nghiệm tâm linh, và đó là lý do vì sao hai người khác nhau có thể có những trải nghiệm khác nhau.

4.2. Tâm ngắn hạn và tâm dài hạn

Thày vừa giảng cho con đặc tính của não bộ vật lý, bây giờ thày muốn bước sang đề tài mà thày gọi là phần vật lý của tâm. Con là một sinh thể tâm linh bất tử, và con chỉ khoác vào thân thể vật lý này trong một khoảng thời gian ngắn. Trong quá khứ, con đã hiện thân trong những thân thể khác trong những tình huống khác. Sự kiện này là cách duy nhất để giải thích một trong những chướng ngại chính trong việc con cố gắng biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong cuộc đời mình. Những chướng ngại có mặt trong bốn thể phàm của con có thể chia ra hai loại. Có những chướng ngại dài hạn và ngắn hạn. Có một số chướng ngại trong bốn thể phàm của tâm con đã được tạo ra trong kiếp sống này, và có những chướng ngại được tạo ra trong những kiếp trước.

Nếu con thật sự muốn thanh tẩy bốn thể phàm của con thì con cần đi xa hơn những gì con đã trải nghiệm trong kiếp sống này. Để làm việc này, con cần hiểu là tâm có nhiều tầng. Có nhiều cách thích đáng để giải thích điều mà thày sắp giảng ở đây. Để giữ lời giải thích giản dị, thày sẽ cho con một mô hình mô tả tâm con gồm hai phần chính. Một bên là phần dài hạn của bốn thể phàm của con, phần này lớn hơn và cao hơn  phần kia. Đây là phần mà con mang theo mình từ kiếp trước sang kiếp sau. Phần kia là thành phần dính liền với thân thể vật lý của con trong kiếp này, tuy nhiên phần này cũng có một tầng bản sắc, tư tưởng, cảm xúc và một tâm đan chặt với não bộ vật lý, tâm này cũng có phần do não bộ tạo ra. Con có một trường năng lượng lớn hơn vượt quá thân thể, và trong đó có một trường nhỏ hơn trụ chung quanh thân thể vật lý và đan dệt với thân thể và não bộ.

Khi con lớn lên trong kiếp sống này, con xây dựng một ý niệm bản sắc dựa trên các tình huống cá biệt của con, tỷ dụ như nguồn gốc gia đình, quốc gia, chủng tộc, nhóm sắc tộc, giới tính và các khía cạnh khác của hoàn cảnh vật lý của con. Những yếu tố đó tạo nội dung trong bình chứa của thể bản sắc ngắn hạn của con. Ý niệm bản sắc này đa phần chịu ảnh hưởng của di truyền và môi trường của con, tuy nhiên nó không hoàn toàn do các yếu tố này tạo nên, như các tâm lý gia tuyên bố. Điều ảnh hưởng ý niệm bản sắc ngắn hạn của con là những phản ứng của con trước hoàn cảnh bên ngoài trong kiếp sống này, và những phản ứng này đa phần do nội dung của tâm dài hạn quy định, là tâm đã được tạo dựng trong những kiếp trước.

Thể bản sắc dài hạn không bị ảnh hưởng bởi những đặc tính cá biệt của kiếp sống này. Nó chứa đựng ý niệm bản sắc rộng hơn dựa trên các niềm tin mà con có về chính mình. Tỷ dụ, nó có thể tồn trữ niềm tin con là một người phàm hay là một tội đồ khốn khổ, đây là một niềm tin có thể được củng cố trong kiếp này nhưng có nhiều xác suất nó đã được tạo ra từ nhiều kiếp trước. Thể bản sắc dài hạn chứa đựng những niềm tin tổng quát trong khi thể bản sắc ngắn hạn chứa đựng bản sắc liên quan đến kiếp sống này. Phần sâu hơn của con người, mà các tâm lý gia gọi là hồn, đi xa hơn kiếp sống hiện tại. Nó không nhìn nó như con người mang tên, giới tính, quốc tịch, chủng tộc v.v. của con. Nó không xem nó là một người y tá, thày giáo hay bất kể nghề nghiệp nào của con.

Thể bản sắc đặc trưng cho kiếp sống hiện tại sẽ được xóa sạch khi thân thể chết đi, và đó là lý do hầu hết mọi người không nhớ tiền kiếp. Dữ liệu về tiền kiếp được lưu trữ nơi khác và con có thể tìm ra chúng, nhưng chúng không được tồn trữ trong thể bản sắc ngắn hạn. Đây chính thực là một hồng ân, vì là cơ hội để con làm lại từ đầu mà không nhớ những lỗi lầm đã phạm trong các kiếp trước. Điểm bất lợi là nhiều người không có ý niệm liên tục mạnh khi sinh ra. Điều này gây nên nỗi sợ chết vì con người tin rằng bản sắc của mình sẽ mất đi khi thân thể chết. Sở hữu quý nhất của con là cá tính, ý niệm bản sắc, do đó nỗi sợ lớn nhất là đánh mất nó.

Đây là lý do vì sao việc trẻ em không được dạy về tái sinh là một điều rất tàn nhẫn. Biết rằng bản sắc dài hạn của mình không chết khi thân vật lý chết có thể hoàn toàn giải thoát con khỏi nỗi sợ chết, là một nỗi sợ làm nhiều người tê liệt và khiến họ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Tại sao con cần nỗ lực để cải thiện chính mình và trở nên một người tốt hơn khi tất cả sẽ mất đi sau kiếp sống này? Thật ra thì những cải thiện mà con đạt được không bị mất nhưng trở thành “kho tàng cất trên thiên đàng” của con (Matthew 6:20), có nghĩa là chúng được tồn trữ trong thể bản sắc dài hạn của con (thậm chí trong căn thể của con trên cõi tâm linh), và do đó chúng là nền móng để con xây dựng thêm trong kiếp tới (và sau đó khi con tốt nghiệp vĩnh viễn trường học trái đất).

Rất có thể là những điều con trải nghiệm trong kiếp này và những quyết định mà con lấy dựa trên các trải nghiệm đó sẽ ảnh hưởng đến ý niệm bản sắc dài hạn của con. Ý niệm bản sắc dài hạn của con có ảnh hưởng sâu đậm trên ý niệm bản sắc mà con xây dựng trong kiếp này. Nội dung của thể lý trí và cảm xúc dài hạn có ảnh hưởng lớn trên cách con phản ứng trước những tình huống mà con gặp trong kiếp này. Dù tốt hay xấu, con đang xây dựng trên nền móng mà con đã đặt trong những kiếp trước, nhưng con vẫn có tiềm năng cải thiện nền móng đó, và lẽ dĩ nhiên đây là hy vọng duy nhất mà con có để giải thoát mình khỏi quá khứ.

Chúng ta hãy lấy thí dụ con có trong thể bản sắc dài hạn của mình niềm tin con là một tội đồ khốn khổ, và tất cả những gì con làm đều là tội lỗi. Con sẽ mang niềm tin này vào kiếp sống hiện tại và sẽ có khuynh hướng tới gần một tôn giáo củng cố niềm tin đó. Con sẽ chấp nhận dễ dàng tôn giáo đó và con sẽ khó giải thoát mình khỏi tôn giáo đó, và đó là lý do vì sao nhiều người không chịu nhìn quá tôn giáo mà họ theo khi họ lớn lên. Nội dung tâm dài hạn của con sẽ quy định những khuôn khổ quy định cách con phản ứng lại cuộc đời trong kiếp sống này. Cái Ta Biết vẫn có tiềm năng vượt quá những lập trình trong quá khứ. Nhiều khi tâm ý thức xây dựng một ý niệm bản sắc trong kiếp này đối chọi với ý niệm bản sắc dài hạn. Điều này quan trọng vì con có thể củng cố những mâu thuẫn nội tại khiến con trở thành một ngôi nhà phân hóa.

Một thí dụ là nhiều người có niềm tin trong thể bản sắc dài hạn của họ là họ không xứng đáng được nhận sự dồi dào của Thượng đế. Một số người đã theo học một giáo lý về dồi dào và dùng một số lời khẳng định để tạo dựng một ý niệm bản sắc ngắn hạn là họ xứng đáng được nhận sự dồi dào. Nhưng nếu họ chưa nắm bắt điều thày vừa giảng thì họ không nhận ra là ý niệm bản sắc mới đó không đi quá thể bản sắc ngắn hạn của họ. Nó có thể mâu thuẫn với thể bản sắc dài hạn, và thể này mạnh hơn nhiều nên có thể gạt bỏ thể bản sắc ngắn hạn. Cố gắng dùng một kỹ thuật chân chính để nâng nhận biết tâm linh đã không thực sự giúp người đó. Nó chỉ tạo ta một xung đột nội tâm lớn hơn, và đây là một cách ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian đặt con vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan tâm linh. Họ làm điều này bằng cách khiến con chấp nhận một niềm tin trong tâm ngắn hạn mâu thuẫn với một niềm tin mà con cầm giữ trong tâm dài hạn. Niềm tin tạm thời đó sẽ ngăn con giải tỏa niềm tin trong tâm dài hạn đang tạo giới hạn.  

Nếu con đã xây dựng trong kiếp này một niềm tin vững chắc là con xứng đáng được nhận sự dồi dào của Thượng đế, thì con có thể nghĩ không cần đi sâu vào tâm lý của mình để giải tỏa niềm tin dài hạn là con không xứng đáng. Điều này có thể ngăn con đạt tiến bộ dài hạn, chỉ có thể đạt được khi con thanh tẩy tâm dài hạn. Ta có thể nói là con tạo dựng một cuộn phim mới và chiếu nó lên màn ảnh của tâm thức, và tuy nó có thể che khuất một số hình ảnh do tâm dài hạn phóng chiếu lên màn ảnh, nhưng nó không làm công việc tảy sạch cuộn phim trong tâm dài hạn. Lẽ đương nhiên, nếu con muốn tự do thực sự thì con phải vượt quá tâm ngắn hạn và thanh tẩy tâm dài hạn.

Có những đạo sư dạy về dồi dào, tâm lý gia và những người thuộc khoa chữa lành toàn diện có những kỹ thuật chính đáng nhằm thanh tẩy cảm xúc, tư tưởng và thậm chí ý niệm bản sắc của con. Nhưng nếu kỹ thuật chỉ tác động trên tâm ngắn hạn, thì nó không thể có tác dụng tối đa trên sự tăng trưởng của con. Cũng có những đạo sư không tìm cách giúp con giải tỏa các chướng ngại trong tâm ngắn hạn, mà dạy những kỹ thuật nhằm tạo một lập trình mới trong tâm ngắn hạn, mà họ nói sẽ đem lại sự dồi dào lớn bằng cách giản dị trấn áp những lập trình hiện có trong tâm. Nhưng nếu con không giải tỏa những giới hạn quá khứ, thì con sẽ chỉ gia tăng mâu thuẫn nội tâm bằng cách tạo ra một lập trình mới xung đột với các lập trình hiện hữu trong cả tâm ngắn hạn lẫn dài hạn. Khi máy điện toán có hai lập trình xung khắc nhau thì máy có thể ngưng hoạt động. Tâm tiềm thức của con cũng giống như một máy điện toán. Nếu con đặt vào đó những niềm tin và khuôn đúc xung khắc nhau, thì con sẽ trải nghiệm một hình thức tê liệt tư tưởng và cảm xúc.

Điều này cũng áp dụng cho nhiều phương pháp trị liệu, đặc biệt là phương pháp trị liệu do ngành tâm lý học chính mạch đề ra, phần lớn dựa trên hệ thuyết duy vật. Con có thể đã bị chấn thương bởi một số trải nghiệm trong kiếp sống này, và chúng đã để lại vết sẹo cảm xúc và khiến con tạo những niềm tin bất toàn trong thể tư tưởng ngắn hạn, thậm chí xây dựng một hình ảnh bất toàn về mình. Dùng một phương pháp trị liệu để giải quyết các chướng ngại trong tâm ngắn hạn là điều khả thi, và quả thật các trị liệu này có thể có tác dụng tốt.

Nhưng nếu con không đi xa hơn tâm ngắn hạn, thì con sẽ không thực sự tiến triển trong kiếp này. Con chỉ giản dị quay kim đồng hồ về điểm khởi đầu, và như vậy coi như con bắt đầu lại từ đầu. Nếu con thực sự muốn tiến triển thì con cần đi xa hơn tâm ngắn hạn, và con có thể dùng kinh nghiệm của kiếp này để làm bàn đạp cho việc này. Cách con phản ứng lại hoàn cảnh trong kiếp này được quy định bởi các khuôn nếp mà con có trong tâm dài hạn. Khi con xem xét phản ứng của mình, con có thể khám phá các khuôn nếp sâu thẳm và làm việc giải quyết chúng. Việc này cần nhiều quyết tâm và viễn quan sáng rõ là con hơn tâm ngắn hạn của con. Để hoàn toàn được tự do thì con cần đi ngược tới tận niềm tin bắt nguồn khi con quyết định quay lưng lại Thượng đế, quay lưng lại vị thày tâm linh, và quyết định đi đơn độc. Đó là lúc con cho phép ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian trở thành vị thày của con.

4.3. Tương tác với tâm thức tập thể

Con yếu dấu, để đạt được đời sống dồi dào thực sự và vĩnh viễn giải thoát khỏi những giới hạn đang ngăn trở sự dồi dào của Thượng đế, con cần có tầm nhìn dài hạn. Những điều kiện mà con đối mặt trong kiếp này là kết quả của một bức tranh rất phức tạp, đó là những niềm tin mà con đã chấp nhận trong những kiếp trước và vẫn còn nằm trong bốn thể phàm của con, trong phần dài hạn của tâm con. Một khi con có tầm nhìn dài hạn này thì con sẽ dễ nhận ra là điều mà thày vừa nói chỉ là một mặt của đồng tiền cuộc sống.

Điều thày mô tả từ đầu bài là phần nội tại của cuộc đời, nghĩa là những gì xảy ra trong tâm lý, bên trong bốn thể phàm. Giá con phải trả khi đầu thai là con chịu trách nhiệm tối hậu về những gì con làm với năng lượng của Thượng đế qua bốn thể phàm của con. Điều thày đã giảng là bất cứ những gì con làm đều có ảnh hưởng trực tiếp trên chính con vì chúng tạo niềm tin trong bốn thể phàm và qua đó tạo một phin lọc khiến con tha hóa năng lượng. Năng lượng này tích tụ trong bốn thể phàm và giảm thiểu khả năng sáng tạo của con. Nó cũng giảm thiểu viễn quan và khả năng nhìn xa hơn hoàn cảnh cận kề và vũ trụ vật chất. Ta có thể nói theo câu cách ngôn là con chỉ làm hại chính mình mà thôi.

Bây giờ chúng ta cần tiến thêm bước nữa và nhận ra rằng không phải mọi chuyện con làm khi ở trong thân thể vật lý chỉ làm hại chính mình. Khi con có hành động vật lý thì con có tiềm năng ảnh hưởng người khác, và vì con chịu trách nhiệm về cách sử dụng năng lượng, nên mọi hành động của con sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu trở về con. Xung lực trở về từ những hành động quá khứ của con có thể ngăn cản sự biểu hiện của dồi dào Thượng đế trong kiếp sống này, do đó con cần biết cách giải tỏa xung lực trở về của hành động quá khứ của con trước khi chúng biểu hiện thành tình huống vật chất.

Không phải chỉ có hành động vật lý của con ảnh hưởng người khác. Mọi thứ trên trái đất đều được cấu tạo từ năng lượng. Giống như con có một trường năng lượng bao quanh thân thể vật lý của mình, trái đất cũng có một trường năng lượng bao quanh nó. Một phần của trường năng lượng hành tinh này là kho chứa năng lượng bất toàn mà nhân loại đã tạo ra qua nhiều thời đại. Đây là điều tâm lý gia Carl Jung gọi là “tiềm thức tập thể” và đây quả thực là một khám phá quan trọng. Khi con đầu thai vào một thân thể vật lý, bốn thể phàm của con hiện hữu trong trường năng lượng của tâm thức tập thể của nhân loại. Con có thể bị tâm thức tập thể ảnh hưởng, và con cũng ảnh hưởng tâm thức tập thể.

Một thí dụ là nhiều người bị choáng ngợp bởi năng lượng của tâm thức tập thể đến độ họ có rất ít cá nhân tính. Họ cảm thấy khó có suy nghĩ cho chính mình và tự mình lấy quyết định. Họ muốn xã hội nghĩ hộ họ and cho họ biết phải làm gì. Con thấy hiện tượng này qua những người mù quáng đi theo thời trang mới nhất hay bất kỳ phong trào nào đang được nhiều người theo. Nếu con là một trong những người này thì con đã không theo học khóa này. Hầu hết những người có nhận biết tâm linh có một cá nhân tính mạnh mẽ. Họ đã phần nào tách họ ra khỏi cái mà ta có thể gọi là tâm thức đại chúng. Nếu con muốn có hy vọng tiến triển trên con đường tâm linh thì con cần tách mình ra khỏi tâm thức đại chúng. Con cần che chở trường năng lượng của mình để tránh không bị tràn ngập bởi các năng lượng của tâm thức đại chúng.

Nội dung của bốn thể phàm của con góp phần vào tâm thức đại chúng, về mặt tiêu cực cũng như tích cực. Con không thể đơn giản coi tâm thức đại chúng là cái gì được tạo ra độc lập với con và con không chịu trách nhiệm gì về nó. Nếu con nâng tâm thức mình thì con cũng nâng tâm thức của tổng thể. Đó là điều mà Giê-su mô tả khi nói: “Và ta, nếu ta được nâng lên khỏi trái đất, sẽ kéo mọi người theo ta” (John 12:32). Ý nghĩa bên trong là lý do duy nhất nhân loại đã tiến triển so với thời tiền sử sống trong hang động là vì mỗi thế hệ đều có một số cá nhân đã khám phá ra uy lực của tâm họ, và sử dụng khám phá đó để nâng tâm thức của riêng họ lên. Các người đó đã kéo mọi người lên đôi chút, và chính sự nâng cao của tâm thức tập thể đã mở đường cho tất cả các tiến bộ thấy được trong lịch sử được biết đến. Từ khi Giê-su hiện thân, nhân loại đã có tiến triển vĩ đại. Khoảng 2000 năm cuối đã tiến bộ hơn 10,000 năm trước đó. Kết quả này không phải chỉ do chiến thắng của Giê-su mà cũng do nhiều người đạt được trình độ tâm thức Ki-tô cao và qua đó nâng tâm thức tập thể lên. Tuy nhiên Giê-su xứng đáng được ghi nhận như người tiên phong đã khai mở chu kỳ tiến bộ gần đây nhất.  

Nếu con cho phép các niềm tin bất toàn và năng lượng tha hóa tồn tại trong bốn thể phàm thì con góp phần vào việc kéo tâm thức tập thể xuống. Khi con hiện thân trong thân thể vật lý thì nội dung của bốn thể phàm của con đóng góp vào tình trạng mà ta thấy trên toàn trái đất. Con đang khiến mọi chuyện hoặc khá hơn hoặc tệ hơn. Như câu cách ngôn dân gian có nói: “Nếu con không là một phần của đáp số thì con là một phần của vấn đề.”

4.4. Tạo nghiệp khi có hành động vật lý

Tư tưởng và cảm xúc của con có tác dụng sâu đậm trên toàn hành tinh, do đó con không thể biện luận là chỉ có hành động của con mới ảnh hưởng đến người khác. Có một lằn ranh phân chia hành động và tư tưởng cảm xúc. Nội dung của các thể bản sắc, tư tưởng và tình cảm của con có ảnh hưởng trên tâm thức tập thể, nhưng khi con có hành động vật lý, thì con tạo ra một loại xung lực năng lượng khác, một xung lực có một tác dụng trực tiếp hơn trên người khác.

Có một phân biệt vi tế. Giê-su có nói một câu rất sâu sắc: “Người nào nhìn một người phụ nữ với ý dục vọng đã phạm lỗi ngọai tình trong tim” (Matthew 5:28). Tư tưởng và cảm xúc của con có rất nhiều uy lực và có thể phóng ra xung lực rất mạnh xâm nhập tâm người khác và ảnh hưởng tư tưởng và cảm xúc của họ, có thể khiến họ hành động. Tuy nhiên, ta cần phân biệt hành động vật lý và tư tưởng cảm xúc. Tỷ dụ, luật pháp của xã hội nói rằng khi con chỉ nghĩ chuyện phạm pháp, thì luật pháp không thể truy tố con. Nhưng ngay lúc con hành động vật lý thì luật pháp có quyền trên con.

Khi con hành động vật lý thì con mang tư tưởng và cảm xúc của con xuống tầng thấp nhất của cõi vật chất, tức là tầng vật lý. Tầng này dày đặc nhất trong bốn tầng của vũ trụ vật chất, có nghĩa là những gì đem xuống tầng vật lý khó thay đổi hơn những gì chỉ hiện hữu như tư tưởng hoặc cảm xúc. Con có thể có một tư tưởng bất toàn, và con có thể thấm đẫm tư tưởng đó với cảm xúc mạnh khiến con ước muốn một điều gì mà luật pháp không cho phép. Nhưng khi con chưa có hành động vật lý thì tư tưởng và cảm xúc của con có thể đảo ngược. Cảm xúc rất lỏng và có thể thay đổi hoặc chuyển hướng dễ dàng. Tư tưởng còn lỏng hơn và dễ thay đổi hơn nữa. Ở tầng tư tưởng, con có thể tức khắc thay đổi kế hoạch khi con nhận được một hiểu biết cao hơn khiến con nhận ra con đang đi lầm đường. Ờ tầng này con có thể học bài học mà không tạo hậu quả vật lý không thể đảo ngược.

Tuy tư tưởng và cảm xúc của con có ảnh hưởng trên người khác, nhưng con dễ dàng thay đổi tư tưởng và cảm xúc. Nhưng ngay lúc con có hành động vật lý thì không gì có thể xóa bỏ hành động đó. Khi con có hành động vật lý thì con mang tư tưởng và cảm xúc của mình vào cõi của không gian và thời gian, và như câu cách ngôn dân gian nói: “Con không thể xoay ngược kim đồng hồ.” Con không thể xóa bỏ cái gì đã được mang xuống tầng hành động vật lý.

Sự hiện hữu của bốn tầng của vũ trụ vật chất quả thật là một hình thức bảo hộ cho phép những người bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên thực thi quyền tự quyết mà không tức khắc tiêu diệt chính họ và người khác. Một hành động vật lý bắt đầu trong thể bản sắc, có hình dạng rõ rệt hơn trong thể tư tưởng, và nhận phương hướng và động lực trong thể cảm xúc. Khi nó chưa qua lằn ranh xuống cõi vật lý, thì nó vẫn có thể đảo ngược khi con có hiểu biết cao hơn. Nếu vũ trụ vật chất chỉ có một tầng, thì bất cứ xung lực nào cũng tức khắc cô đọng thành hành động vật lý, và con không có cơ hội ngưng nó. Mọi tư tưởng bất toàn sẽ có hậu quả vật lý mà con không thể tránh. Vì vũ trụ có bốn tầng, con có thể có nhiều tư tưởng cảm xúc bất toàn, nhưng khi con không cho phép chúng trở thành hành động vật lý thì con chưa chịu hậu quả vật lý. Trong đời con, đã bao nhiêu lần con có tư tưởng cảm xúc bất toàn, nhưng vì con không hành động, nên con tránh được hậu quả khó chịu? Đời con sẽ khó khăn chừng nào nếu mọi tư tưởng bất toàn đều đưa đến hậu quả vật lý?

Hiểu biết về bốn thể phàm cho con một cơ hội tuyệt vời để làm chủ cuộc đời mình bằng cách thanh tẩy chúng khỏi mọi tư tưởng và cảm xúc bất toàn. Bốn thể phàm của con càng trong sạch thì con lại càng làm chủ phản ứng của mình trước những khó khăn của đời sống. Thay vì cảm thấy con không có chọn lựa hay cảm thấy con không thể chọn giữa một số cách đáp ứng lại một hoàn cảnh, thì nay con có thể lấy chọn lựa tốt nhất cho con trong dài hạn. Con có thể chọn nghe theo lời khuyên của Giê-su nên chià má bên kia thay vì tìm cách trả thù (Matthew 5:39).

Luật Tự quyết có một ảnh hưởng quan trọng trên những gì thày đang nói ở đây. Chúng ta hãy lấy thí dụ con nghĩ một người đã làm điều gì không phải và con rất giận việc này. Con duyệt đi duyệt lại trong tâm hành động của người ấy, và qua đó con phóng ra một xung lực năng lượng tâm lý rất dũng mãnh. Khi xung lực đó đi vào tâm người kia thì rất có thể nó khuấy động thể cảm xúc của người ấy và khiến người ấy thêm xáo trộn. Con đã ảnh hưởng người ấy và khiến người ấy có khuynh hướng hành động giận dữ. Năng lượng con phóng ra vẫn ở tầng tư tưởng và cảm xúc, có nghĩa là người ấy có chọn lựa hành động theo năng lượng đó hay không. Con chịu trách nhiệm về những gì con phóng ra, nhưng con không chịu trách nhiệm về những gì người ấy làm với năng lượng đó. Người ấy chịu trách nhiệm về hành động của người ấy. Con đã ảnh hưởng quyền tự quyết của người ấy nhưng con không trực tiếp vi phạm quyền tự quyết của người ấy.

Ngay lúc con có hành động vật lý, tỷ dụ như trả thù, thì phương trình thay đổi toàn diện. Khi con có hành dộng bạo hành trên người ấy thì con trực tiếp vi phạm quyền tự quyết của y. Con đã mang tư tưởng và cảm xúc của con ra khỏi cõi tâm lý và mang nó xuống cõi vật lý là nơi chúng trở nên không thể đảo ngược. Trước khi con làm vậy thì người kia có thể tảng lờ xung lực năng lượng mà con phóng ra, nhưng một khi con ra tay hành động thì người kia không thể tảng lờ những gì con đã làm. Con vẫn không chịu trách nhiệm về phản ứng của người kia trước hành động của con (giống như người ấy không chịu trách nhiệm về phản ứng của con) nhưng con đã vượt qua một lằn ranh và nay hành động của con không thể đảo ngược. Con đã đi quá tầng lỏng của tư tưởng và cảm xúc, quá tầng thử nghiệm, và đi vào tầng hậu quả không thể đảo ngược. Mỗi hành động đều tạo một phản ứng ngược lại. Khi con có hành động vật lý thì con tạo ra một hậu quả không thể tránh cho con và người khác. Đây lại một lý do nữa để con trong lọc bốn thể phàm. Con sẽ có thể tháo gỡ các tư tưởng và ham muốn bất toàn trước khi chúng trở thành hành động vật lý và do đó có hậu quả khó khắc phục hơn rất nhiều.

Có một thực tại mà nhiều người đã bị lập trình để chối bỏ. Họ có thể đã bị lập trình bởi một tôn giáo chính thống hay bởi khoa học duy vật, nhưng đằng sau những hệ thống niềm tin đó là ông hoàng thế gian. Y đang cố gắng ngăn con chấp nhận trách nhiệm tối hậu về hoàn cảnh và tương lai của mình. Y muốn con tin rằng con có thể trốn tránh trách nhiệm về những gì con đã làm trong quá khứ bằng cách chối bỏ có kiếp trước. Khi con thừa nhận sự kiện con đã có kiếp trước thì con nhận ra con không thể trốn chạy bất cứ gì bằng cách phủ nhận sự hiện hữu của nó. Cách giải thoát duy nhất là tự thăng vượt.

Một lý do chính vì sao giáo lý về tái sinh bị rút ra khỏi giáo lý Thiên chúa giáo là vì nhiều người bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên. Họ không chịu chấp nhận trách nhiệm về những gì họ đã làm trong các kiếp trước. Với lô-gíc phi-lô-gíc của tâm nhị nguyên, họ suy luận là nếu họ phớt lờ hay chối bỏ khái niệm tái sinh, thì bằng cách nào đó họ sẽ trốn tránh được trách nhiệm. Họ có thể sống với ảo tưởng là hành động trong kiếp này sẽ không trở lại và ám ảnh họ trong một kiếp tương lai. Như Thánh kinh có nói: “Trả thù thuộc về ta; Ta sẽ hoàn trả, Đức Chúa Trời nói.” (Romans 12:19) và “Thượng đế không bị nhạo báng: vì bất cứ gì con người gieo thì họ sẽ gặt” (Galatians 6:7).

Những câu trích giản dị đó cho thấy Thánh kinh nhìn nhận một cách tiềm ẩn thực tại của tái sinh. Luật của Thượng đế nói rằng con chịu trách nhiệm về bất cứ gì con làm với năng lượng của Thượng đế. Năng lượng này sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu lại con, và con sẽ không thể tránh trải nghiệm những điều kiện minh họa hành động quá khứ của con. Bất cứ gì con làm cho người khác, con sẽ không thể tránh chính mình trải nghiệm chúng.

Chuyện gì xảy ra nếu một người giết người mà không bị xã hội bắt? Nhìn bề ngoài thì người đó đã trốn tránh trừng phạt về hành động tước đi mạng sống của một con người, và do đó vi phạm quyền tự quyết của người đó. Không ai có thể tránh luật Thượng đế, do đó khi con có một hành động vật lý, thì con khởi động một nguyên nhân, một xung lực năng lượng. Xung lực sẽ luân lưu trong bốn tầng của cõi vật chất, và sẽ trở về con như một tình huống vật lý. Việc này sẽ cần thời gian và phản ứng của vũ trụ xảy ra trong một kiếp tương lai.

Thánk kinh nói là Thượng đế sẽ viếng những bất công của cha ông nơi thế hệ thứ ba hay thứ tư (Exodus 34:7). Tâm nhị nguyên sẽ xem đây là chỉ dấu Thượng đế là một sinh thể giận dữ trên trời, nhưng khi con công nhận sự thực của tái sinh, thì con có thể hiểu một cách sâu sắc hơn. Thế hệ thứ ba thứ tư không chỉ đơn giản là các con cháu vật lý mà có thể là chính hồn của con đã tái sinh ba hay bốn kiếp sau đó. Con có thấy chăng sự liên hệ có thể có giữa thế hệ thứ ba thứ tư mà Thánh kinh đề cập và bốn tầng của vũ trụ vật chất? Con có nghĩ chăng đây chỉ là một sự tình cờ hay có thể có ý nghĩa sâu xa nào chăng?

4.5. Luật nhân quả vận hành ra sao

Nếu con không có hiểu biết về tái sinh khi con lớn lên, thì đề tài này có thể gây bất an, thậm chí sợ hãi. Mục đích của thày là cho con tất cả những gì con cần để hiểu những gì có thể ngăn cản sự biểu hiện của dồi dào Thượng đế trong cuộc đời con. Để hoàn toàn hiểu điều này, con cần nhận ra là trong một kiếp trước con có thể đã khởi động một nguyên nhân đang biểu hiện bây giờ như hoàn cảnh vật lý. Hoàn cảnh này đang ngăn cản sự biểu hiện của dồi dào Thượng đế trong đời con. Nếu con chấp nhận điều này thì con có thể nhìn quá niềm tin đáng sợ và đầy đe dọa là con đang bị một Thượng đế giận dữ trừng phạt, và con không có lối thoát. Con sẽ vẫn có thể nhìn ra là luật Thượng đế quả thực đã được định ra để cho con cơ hội tăng trưởng tốt nhất.

Vũ trụ vật chất đã được tạo dựng với một yếu tố trì hoãn. Tấm gương vũ trụ không phản chiếu tức khắc lại con những gì con làm với người khác. Có một khoảng thời gian hồng ân và thày bây giờ muốn giảng cho con nó vận hành ra sao. Có nhiều người có một tuổi thơ rất khó khăn và một cuộc đời rất khó khăn. Họ đã lớn lên trong hoàn cảnh hầu như chắc chắn khiến họ tạo ra một ý niệm bản sắc ngắn hạn rất thấp so với tiềm năng Ki-tô của họ. Vì những điều kiện bất toàn hiện hành trên trái đất, nhiều người đã có khuynh hướng làm một số hành động chỉ có thể giới hạn họ và gây tổn thương cho người khác. Nếu tấm gương vũ trụ phản chiếu tức khắc những hành động này thì nhiều người sẽ tự tiêu hủy và do đó mất cơ hội tăng trưởng thêm trong kiếp sống này. Rất có thể là nhân loại cộng chung tạo một vòng xoáy hướng hạ có thể trong một khoảng thời gian rất ngắn phá hủy trái đất và khiến nó mất vai trò làm môi trường tăng trưởng tâm linh.

Để tránh kịch bản đó, Thượng đế đã thiết kế vũ trụ vật chất với bốn tầng. Khi con có một hành động vật lý thì con tạo một xung lực năng lượng được gửi đến cõi vật chất. Xung lực này sẽ luân lưu qua bốn tầng của cõi vật chất, và chỉ khi nó đã đi xuyên qua ba tầng cao thì nó mới trở về con dưới hình thức một hoàn cảnh thực, vật lý. Sự vận hành của luật nguyên nhân hậu quả này, mà các tôn giáo Đông phương gọi là luật nhân quả, rất phức tạp, do đó thày chỉ cho con ở đây một hình ảnh giản lược. Với mục đích giản lược, chúng ta hãy lấy trường hợp con giết một người khác. Khi con làm hành động vật lý này, con tạo một nguyên nhân, và hậu quả là con tước đi cơ hội tăng trưởng của người đó trong phần còn lại của cuộc đời tự nhiên của y. Lẽ tất nhiên, hành động của con vi phạm quyền tự quyết của người đó. Con sẽ phải chịu hậu quả gì?

Trước khi chúng ta khai triển tiếp, thày muốn nói rất rõ là dù con đã vi phạm luật của Thượng đế, Thượng đế không hề có ý muốn trừng phạt con. Toàn bộ quan niệm có một Thượng đế giận dữ và muốn trừng phạt là sản phẩm của tâm nhị nguyên, tâm phản-Ki-tô. Nếu con có hành động giết một người khác thì hành động đó là sản phẩm của một bất quân bằng nghiêm trọng trong ba thể phàm cao của con. Con chỉ có thể giết người khi con có những cảm xúc bất quân bằng rất nặng, và chúng phải bắt nguồn từ những tư tưởng vị kỷ bắt nguồn từ một ý niệm bản sắc méo mó. Thượng đế đã ban cho con quyền tự quyết, nhưng Thượng đế muốn con được giải thoát khỏi mọi ý niệm bản sắc bất toàn. Nếu con giết người, Thượng đế không có ý muốn trừng phạt con, nhưng Thượng đế có ý muốn con được giải thoát khỏi những niềm tin đã khiến con có hành động đó.

Đâu là cách tốt nhất để con tự giải thoát mình khỏi những niềm tin vị kỷ đó? Cách tối hậu để con tự giải thoát mình khỏi ý muốn giết người là con bị giết để như vậy con trải nghiệm thế nào là bị tước mất cơ hội hiện thân. Có nhiều người chỉ có thể thoát những niềm tin và ham muốn bất toàn khi trải nghiệm thảm kịch trong đời họ. Chỉ khi đó họ mới thức tỉnh để suy ngẫm và xét lại những niềm tin ăn sâu trong tâm họ. Tối hậu, rất có thể con cần trải nghiệm bị giết để con được giải thoát khỏi niềm tin bất toàn đã khiến con giết người.

Bởi vì Thượng đế không là một Thượng đế giận dữ và là một Thượng đế từ bi, nên ngài đã thiết kế một vũ trụ không giết con tức khắc khi con giết người khác. Thay vào đó, xung lực năng lượng mà con tạo ra khi con giết người luân lưu qua bốn tầng của cõi vật chất. Như vậy con có cơ hội giải tỏa những niềm tin nhị nguyên của con trước khi xung lực năng lượng, tức là nghiệp, trở về con như một hoàn cảnh vật lý sẽ khiến con bị giết. Vũ trụ được thiết kế để cống hiến con cơ hội tốt nhất để học bài học và vươn lên trên các niềm tin giới hạn. Khi năng lượng từ những hành động quá khứ trở về con, thì đầu tiên nó đi vào thể bản sắc của con. Nó sẽ khơi động những niềm tin đã khiến con giết người trong một kiếp trước, và đây là một cơ hội để con xem xét các niềm tin đó. Có thể con nghĩ vì sao giết người là sai. Nếu con không nắm lấy cơ hội đầu đó, thì xung lực năng lượng sẽ xuống thể tư tưởng và cảm xúc của con và tại các nơi đó con lại có thêm cơ hội để giải tỏa tư tưởng và cảm xúc của mình. Nếu con vẫn không nắm lấy cơ hội thì năng lượng sẽ đi xuống cõi vật lý và nơi đó nó sẽ thị hiện như một hoàn cảnh mà con bắt buộc phải chú ý.

Con được quyền chọn cách con học bài học trong đời. Con muốn học cách dễ hay cách khó? Con muốn đi học trường nội tâm tìm cầu hiểu biết tâm linh (như câu Thánh kinh: trong tất cả những gì con muốn, hãy muốn hiểu biết) hay con muốn đi học Trường đời Cay đắng? Luật nhân quả cho con một cơ hội vĩ đại. Có một số giáo lý tâm linh nói về nghiệp sa xuống. Sự thực là một hành động bất toàn do con làm trong quá khứ sẽ trở về con bằng cách đi xuống qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Bởi vì bốn thể phàm của con là thành phần của vũ trụ vật chất, nên khi hành động quá khứ đi xuống, nó đi xuyên qua bốn thể phàm của con. Nó đi qua bốn tầng của tâm con trước khi thể hiện như hoàn cảnh vật lý. Con có thể tiêu trừ xung lực năng lượng, con có thể tiêu trừ nghiệp đang sa xuống đó, trong các tầng bản sắc, tư tưởng, và cảm xúc. Con có thể ngăn nó trở thành thực tại vật lý.

Thày hiểu rõ vì sao nhiều người bên Tây phương chối bỏ quan niệm nghiệp và tái sinh. Họ làm vậy vì trong 1500 năm Thiên chúa giáo đã chối bỏ sự thực của tái sinh. Nhiều người Tây phương được biết tới quan niệm tái sinh qua giáo lý Đông phương, nhưng một số giáo lý này coi tái sinh như một định mệnh không thể tránh. Các giáo lý này cho rằng tất cả những gì xảy ra cho con trong đời này là sản phẩm của những nguyên nhân con đã tạo trong các kiếp trước, và do đó con không thể làm gì để tránh các biến cố đó. Đây là một một lời nói dối trắng trợn do ông hoàng thế gian đề ra. Đây là một mưu toan khiến con người bỏ cuộc trước khi tìm cách thay đổi định mệnh và tương lai của mình. Sự thực là tái sinh và nghiệp quả được thiết kế để cho con cơ hội tối đa thay đổi hoàn cảnh của mình, thay đổi quá khứ hay ít ra là tác dụng của quá khứ trên hiện tại và tương lai của con. Con không thể thay đổi hành động mà con đã làm trong một kiếp trước, nhưng con có thể thay đổi xung lực năng lượng mà con đã khởi động trong quá khứ. Con có thể hoàn nguyên năng lượng bị tha hóa khi nó đi xuống qua các tầng bản sắc, tư tưởng và cảm xúc, và qua đó ngăn nó thể hiện như hoàn cảnh vật lý.

Rất có thể là trong một kiếp trước con đã khởi động một nghiệp đang ngăn con hưởng được dồi dào trong kiếp này. Nếu con không thể thay đổi nghiệp đó thì làm sao con có thể thay đổi hoàn cảnh vật lý của mình? Con có thể quyết định với tâm ý thức là con sẽ cầu nguyện hay đọc lời khẳng định suốt ngày, nhưng nếu nỗ lực của con không đủ mạnh để tiêu trừ nghiệp đang sa xuống, thì con không có cách nào thay đổi hoàn cảnh vật lý của con. Nếu con thành thật muốn biểu hiện cuộc sống dồi dào, thì con cần khám phá cách tiêu trừ nghiệp từ các kiếp trước trước khi nó trở nên hoàn cảnh vật lý, vì khi đó con khó khắc phục nó hơn nhiều. Tư tưởng hay cảm xúc dễ đảo ngược, nhưng một khi con vượt qua lằn ranh vào cõi vật lý, thì con không thể quay ngược kim đồng hồ. Giống như vậy, nghiệp từ các kiếp trước dễ tiêu trừ khi nó chưa xuống tới cõi vật lý, nhưng một  khi nó vượt qua lằn ranh và mang một hình tướng vật lý dày đặc, thì con khó giải thoát mình khỏi nó.

Để con có một hình ảnh minh họa việc này, con hãy tưởng tượng một núi lửa đang phun một dòng dung nham chảy xuống sườn núi. Dung nham lỏng như chất nước và có thể dễ thay đổi hướng chảy. Dung nham rốt cuộc chảy tới biển và nó đông lại rất nhanh và tức khắc trở nên đặc cứng. Giờ đây dung nham đã trở nên chất đặc và rất khó loại bỏ nó. Nếu con có một dụng cụ có thể tác động trên chất dung nham lỏng thì con có thể loại bỏ nó dễ dàng. Khi dung nham đã khô cứng thì con phải đập nó ra mảnh nhỏ trước khi loại bỏ nó. Sư khác biệt giữa nghiệp đang sa xuống và nghiệp đã đi vào cõi vật lý và trở nên hoàn cảnh vật lý cũng giống như vậy.

4.6. Làm cách nào tiêu trừ nghiệp

Làm cách nào con ngăn không để cho hành động quá khứ của con thể hiện như hoàn cảnh vật lý mà con không mong muốn? Thượng đế không muốn trừng phạt con; Thượng đế chỉ giản dị muốn con được giải thoát khỏi những niềm tin bất toàn. Vì Thượng đế đã cho con quyền tự quyết nên con chỉ có thể giải thoát mình bằng cách tự mình chọn lựa. Cách tối hậu để ngăn chặn nghiệp thể hiện là trong lọc bốn thể phàm. Nếu con tẩy rửa mọi tầng của tâm khỏi những niềm tin và năng lượng bất toàn đã khiến con giết người trong một kiếp trước, thì không có lý do gì để con trải nghiệm nghiệp vật lý của hành động đó. Nếu con đã học xong bài học mà con cần học, thì tại sao con lại phải gánh chịu hoàn cảnh vật lý? Thượng đế và các thày tâm linh của con có khả năng bỏ qua bên nghiệp đang sa xuống đời con. Năng lượng bất toàn tạo ra trong quá khứ vẫn cần được cân bằng, và con có trách nhiệm làm việc này. Con có thể làm việc này bằng cách cầu thỉnh ánh sáng tâm linh tái chỉnh lại năng lượng bất toàn bằng cách nâng độ rung của nó. Con có thể được giải thoát khỏi hành động quá khứ mà không phải trải nghiệm hậu quả vật lý. Chuyện này chỉ xảy ra khi con tiêu trừ nghiệp do tấm gương vũ trụ phản chiếu lại trước khi nó xuống cõi vật lý.  

Khi con thanh tẩy bốn thể phàm thì nghiệp sa xuống sẽ hầu như bị tiêu trừ tự động. Để giải thích cơ chế này, thày sẽ trở lại hình ảnh của một niềm tin bất toàn trong thể bản sắc của con. Chúng ta hãy lấy thí dụ con có niềm tin mình là một cá nhân tách biệt và con có thể làm hại người khác mà không làm hại chính mình. Niềm tin này rất phổ thông trên hành tinh này và xuất phát từ tâm thức nhị nguyên. Niềm tin này có tác dụng giảm thiểu lượng năng lượng và độ rung của năng lượng chảy qua thể bản sắc của con. Vì con không nhân lên các khả năng mà con được phú, nên năng lượng chảy xuống từ cõi tâm linh bị giảm thiểu. Giản dị là không có bao nhiêu ánh sáng có độ rung cao chảy xuyên qua thể bản sắc của con. Niềm tin bất toàn trong thể bản sắc của con là nguyên do đưa đến việc con có hành động vật lý vị kỷ, và hành động vật lý này tạo một xung lực năng lượng, tức là nghiệp. Khi xung lực năng lượng này chảy xuyên qua thể bản sắc của con, thì không có ánh sáng có độ rung cao để nâng độ rung của nghiệp, không có ánh sáng để tiêu trừ nghiệp và ngăn nó sa xuống thêm nữa. Năng lượng tha hóa mà con có trong thể bản sắc không cản nghiệp vì nghiệp có cùng độ rung với năng lượng tồn đọng. Nghiệp có thể chảy tới thể tư tưởng mà không bị cản trở, và giờ đây nó chỉ cần tiến một bước nữa để thị hiện thành một hoàn cảnh vật lý.

Chuyện gì xảy ra khi con tháo gở niềm tin bất toàn và năng lượng tha hóa trong thể bản sắc của con? Thể bản sắc của con trở nên tràn đầy ánh sáng. Giê-su đã mô tả điều này qua lời dạy bí truyền rằng nếu mắt con đơn nhất thì toàn thân của con sẽ tràn đầy ánh sáng (Matthew 6:22). Một nghĩa của câu này là nếu thể bản sắc của con là “một” – nó không là ngôi nhà bị chia rẽ bởi niềm tin nhị nguyên do đó con thấy mình là một với Thượng đế – thì thể bản sắc của con sẽ tràn đầy ánh sáng. Ánh sáng có thể tích tụ trong thể bản sắc có độ rung rất cao, có nghĩa là nó có khả năng tiêu trừ độ rung thấp của nghiệp đang trở về. Nếu nghiệp có độ rung 800 Hz và thể bản sắc của con có thể cầm giữ ánh sáng với độ rung 90,000 Hz, thì ánh sáng có sức mạnh cao hơn và có thể dễ dàng tiêu trừ nghiệp và ngăn nó không sa xuống thêm nữa.

Còn nghiệp đã xuống tới tầng tư tưởng và cảm xúc thì sao? Con có thể tiêu trừ nghiệp đó bằng cách thanh tẩy hai thể tư tưởng và cảm xúc giống như con thanh tẩy thể bản sắc. Khi thể bản sắc của con đã được thanh tẩy, thì việc trong sạch hóa hai thể tư tưởng và cảm xúc sẽ dễ hơn rất nhiều. Còn nghiệp sắp đi qua lằn ranh xuống cõi vật lý thì sao? Con có thể làm gì để ngăn nghiệp này biểu hiện? Cách làm là thỉnh cầu năng lượng tâm linh có tần số cao bằng cách sử dụng một kỹ thuật thích đáng, và hướng nó tới việc tiêu trừ nghiệp đó. Để làm được việc này một cách hữu hiệu thì con cũng phải tiến hành một tiến trình chân thật thanh tẩy các thể cao của mình, và đây chính là mục đích của các bài thỉnh mà thày đã thiết kế.

4.7. Kiêu mạn là cạm bẫy

Trong bài này thày đã cho con một hình ảnh về cuộc sống tinh vi hơn rất nhiều những gì các tôn giáo truyền thống và khoa học duy vật cống hiến. Lúc ban đầu con có thể cảm thấy hơi choáng ngợp. Quả thật thày đang cống hiến con một cơ hội độc đáo để giải thoát khỏi những giới hạn mà con đang trải nghiệm mỗi ngày trong đời. Câu hỏi là con muốn tiếp tục trải nghiệm các giới hạn này cho đến cuối đời, hay con sẵn sàng quyết tâm cố gắng nâng mình vĩnh viễn lên khỏi các giới hạn đó?

Nhiều người bị choáng ngợp bởi các năng lượng mà họ mang trong tâm họ, những năng lượng tha hóa trong bốn thể phàm và nghiệp đang sa xuống, nên họ không thể kéo họ ra khỏi khung tư duy hiện tại của họ. Họ không thể bước ra khỏi cỗ máy chạy của cuộc sống hàng ngày để làm việc gì khác lạ sẽ vĩnh viễn giải thoát họ. Nếu con là một trong số những người này thì con đã không có chú ý và sự khát khao để theo học khóa này. Con quả thực có tiềm năng sử dụng giáo lý và các dụng cụ mà thày trao truyền trong khóa này. Con có thể đảo ngược vòng xoáy hướng hạ đang giam cầm con. Thay vào đó, con có thể tạo một vòng xoáy hướng thượng thường trực sẽ lần hồi dẫn con từ nơi con đang ở hiện nay tới nơi con thực sự mong muốn trong đời này, là một sinh thể có an bình nội tâm và đang ở trong dòng chảy dồi dào của Thượng đế. Khi con quyết tâm nỗ lực, thì con quả thực có thể xoay chuyển đời mình, con có thể chuyển cuộc đời thành một vòng xoáy hướng thượng. Chuyện này sẽ không thể hoàn thành một sớm một chiều, nhưng thày nhắc nhở con câu ngạn ngữ rằng cuộc hành trình ngàn dặm bắt đầu với một bước đi. Điều con cần thêm vào là nếu con tiếp tục đi từng bước một thì con sẽ nhất định tới đích.

Chìa khóa thực để phá vòng xoáy hướng hạ là tìm một cách hữu hiệu để thanh tẩy bốn thể phàm khỏi những niềm tin bất toàn và những năng lượng tha hóa đã tích tụ trong đó từ nhiều kiếp. Đây quả thật là điều thày cống hiến con trong khóa học này: một phương pháp có hệ thống để thanh tẩy bốn thể phàm. Tất cả mọi điều thày giảng trong khóa học này được thiết kế để thách thức những niềm tin nhị nguyên tàng trữ trong bốn thể phàm của con. Khi con theo khóa học tới điểm này thì con đã đi sâu vào tiến trình phơi bày các niềm tin đó. Con cũng đã sử dụng các kỹ thuật thực tiễn để thỉnh cầu năng lượng tâm linh có tần số cao và hướng nó vào các chướng ngại trong bốn thể phàm của con.

Trong chương kế tiếp, thày sẽ phơi bày một trong những cạm bẫy của ngã hữu diệt và hoàng tử thế gian, là tính kiêu mạn dưới nhiều lớp hóa trang của nó. Đây là cạm bẫy nghĩ mình đã biết hết mọi chuyện, do đó con không cần theo bất cứ khuôn mặt uy tín nào ngoài ngã hữu diệt và các khuôn mặt uy tín trong thế gian này. Con chắc nhớ câu nói kiêu mạn đi trước sa ngã. Câu này nói đúng, nhưng vấn đề lớn hơn là kiêu mạn ngăn con vực mình dậy sau khi sa ngã. Quả thực việc sa ngã không quan trọng – vì con không thể đảo ngược sự kiện đó. Nhưng điều con có thể thay đổi là chuyện xảy ra sau khi sa ngã, có nghĩa là thay vì bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên, con có thể bắt đầu đi theo vòng xoáy hướng thượng sẽ giải thoát con khỏi tâm phản-Ki-tô và dẫn con đi lên cầu thang xoắn ốc cho tới khi con trở về hợp nhất với cái ta cao của con. Con hãy để thày phơi bày âm mưu vi tế của kiêu mạn có mục đích giữ con kẹt trong vòng lẩn quẩn tâm linh có vẻ không có lối ra. Không có lối ra nào ngoài cách đi theo vị thày chân chính mà Thượng đế gửi xuống để giải thoát con.

Đạo đức giả không cần ghi danh!

Bài giảng của chân sư thăng thiên Giê-su ngày 5/7/2005 qua trung gian Kim Michaels.

Tự ngã mất hết quyền lực khi con thấy nó thật là gì

Ta là Giê-su. Ta cũng xin bồi thêm thần lực của ta cho phong trào các vị Bảo hộ Ánh sáng Mẹ. Ta đến đây để ở lại với các con, và ta cam kết sẽ khai ngộ cho bất cứ ai sẵn lòng buông bỏ tự ngã của mình – bất cứ ai sẵn lòng vạch trần tự ngã để nhìn thấy nó thật là gì, và như thế tự tách mình và tách cái Ta Biết ra khỏi nhà tù của tự ngã. 

Quá nhiều tín hữu đạo Cơ đốc cho rằng ta là một vị thày dễ tính. Nhưng ta là một vị thày thẳng thắn. Ta không đùa, và ta sẽ không đùa với bất cứ ai đến với phong trào này. Bởi vì nếu con không sẵn lòng buông bỏ tự ngã, con có thể tự do đi nơi khác, nơi người ta sẽ o bế tự ngã của con thay vì giúp con tách rời khỏi tự ngã.

Nhưng khi ta nói ta là một vị thày thẳng thắn, ta không bảo ta là một vị thày không yêu thương. Và điều quan trọng là con nên suy ngẫm về sự khác biệt này, vì thực sự, tình thương của ta là tình thương toàn hảo đánh bật mọi nỗi sợ hãi ra ngoài. Và ta biết thừa là nhiều người rất sợ tự ngã của mình bị phơi bày ra, sợ điều gì đó sẽ xảy ra cho mình khi mình không thể còn ẩn náu đằng sau các lý lẽ khôn ngoan mà cái tâm nham hiểm của Rắn đã nặn ra để lừa gạt các dòng tiến hóa trên hành tinh này.  

Hãy ngừng nhón gót chung quanh tự ngã

Quá nhiều học trò tâm linh đã nhón gót đi vòng quanh, tránh né đề tài tự ngã mặc dù chúng tôi, các chân sư, đã giảng dạy trong mấy tổ chức tâm linh trước rồi. Họ đã sợ rằng nếu tự ngã của họ bị phơi bày, họ sẽ phải trải qua một cơn biến động nào đó, họ sẽ đánh mất giá trị về bản thân, hay bằng nhiều cách, họ sẽ chìm vào một cơn khủng hoảng bản sắc.  

Thật ra con chỉ cần chuyển đổi ý niệm bản sắc của con đi một chút mà thôi. Con cần bắt đầu tự hỏi: “Biết những gì tôi biết về con đường tâm linh – và mục đích đạt được tự do trong tâm thức Ki-tô, mục đích chứng nghiệm được tự do rộng lớn khi mình vượt khỏi và đứng trên tự ngã – biết được những gì tôi biết, thực sự có thành phần nào của tự ngã mà tôi không sẵn sàng từ bỏ hay không, nếu tôi có thể nhìn thấy?” Và ta nghĩ khi con trầm tư về điều này, con sẽ thấy được trong tim con là quả thực không có điều gì mà con không sẵn sàng buông bỏ để đến gần hơn với tình yêu Thượng đế, để là con người mà con là, và biểu hiện con người đó. Khi con nhận ra điều này, con không cần phải sợ tự ngã nữa, hay sợ phải phơi bày tự ngã nữa.

Con sẽ không cần sợ mình phạm lỗi, vì dù con có làm lỗi thì điều đó hoặc sẽ phơi bày một phần của tự ngã, hoặc sẽ giúp con vượt qua tự ngã. Tự ngã không còn bất kỳ quyền năng nào trên con. Nó chỉ có quyền năng nếu con chưa nhìn thấy nó, hay con chưa thấy nó thực sự là ảo tưởng và như vậy con mới chưa thể tách rời khỏi nó. Ngay khoảnh khắc con nhìn thấy nó, và ngay khoảnh khắc con quyết định tách rời khỏi nó, nó sẽ không có quyền năng gì trên con nữa, và con sẽ bước tới đâm xuyên qua nó. Và khi con bắt đầu nhận ra điều này, con sẽ thấy con đường vượt khỏi tự ngã không khó lắm đâu. Đó không phải là một con đường đầy sợ hãi, không là một con đường đáng xấu hổ, không là một con đường nơi mình cảm thấy bại trận hay thua kém do mình vẫn còn khía cạnh này hay khía cạnh nọ của tự ngã.   

Con là nhiều hơn tự ngã rất nhiều. Và ta sẽ nhắc đi nhắc lại cho con rằng con là nhiều hơn. Con là nhiều hơn rất nhiều và đó là điều mà chúng tôi yêu thích. Và khi con nhận ra con nhiều hơn tự ngã đến chừng nào thì việc buông bỏ tự ngã sẽ không là vấn đề nữa. 

Thế đấy, cốt lõi của tự ngã chỉ có vậy – hoặc con không nhìn thấy nó, hoặc con không sẵn sàng bỏ nó đi. Tự ngã luôn luôn cố gắng lẩn trốn. Nó luôn cố nói với con là con không thể đi bước kế tiếp trên đường tu, con không thể bước ra ngoài cửa nhà tù. Nhưng rồi khi con nhận thấy con có khả năng tiến bước trên đường tu, nó sẽ cố bảo con là con thực sự không muốn bước tới hay con không được phép bước tới.

Tự ngã ngăn cản con đi bước kế tiếp

Trong bản chất, tự ngã chính là yếu tố ngăn con đi bước kế tiếp để đến gần hơn với Thượng đế. Thật sự, tự ngã cũng có nhiều đặc tính khác nhưng tinh túy của nó là nó ngăn con đi bước kế tiếp trên đường đạo. Và khi con bắt đầu ngộ ra điều này – và ngộ ra rằng phần lớn cái ta của con hoàn toàn nhất quyết đi bước kế tiếp đó – thì tại sao con lại sợ tự ngã? Tại sao con lại sợ nó được phơi ra? Con phải chào mừng khi thấy nó được vạch trần, bởi vì bây giờ con có thể nói: “À, tôi đã thấy nó rồi. Bây giờ tôi có thể buông nó ra.”  

Như ta có trình bày vào dịp lễ Phục sinh, chìa khóa để vượt qua và bước đi trên đường tu tâm linh là con phải từ bỏ tất cả những thứ gì không thực. Con phải buông nó ra, con phải cho nó ra đi. Nhưng con sẽ không thể buông nó, con sẽ không thể cho nó ra đi cho đến khi con đã sở hữu nó, đã nắm lấy chủ quyền trên nó. Cho nên có thể nói, tự ngã trước tiên sẽ cố ngăn con nắm lấy chủ quyền cái thành phần đó của tự ngã, ngăn con nhìn thấy hoặc nhìn nhận nó. “Phải, cái phần này của tự ngã còn nằm trong bình chứa ngã của tôi.” Và sau đó nếu con thấy nó rồi, nó sẽ cố ngăn cản con buông cho nó ra đi bằng cách khiến con nghĩ rằng con cần đến nó.

Và đây là chìa khóa – nhận ra rằng con sẵn sàng buông cho nó ra đi vì con yêu thích một điều gì khác hơn là ở lại trong vùng an toàn của con. Và ta sẽ có mặt ở đây để giúp tất cả những ai sẵn sàng buông cho tự ngã ra đi. Khi nào thích hợp hơn và các chu kỳ lần lượt trải ra, ta sẽ ban thêm một số giáo lý và dụng cụ tâm linh mới về đề tài này. Nhưng ngay bây giờ ta sẽ nói: “Saint Germain đã tuyên bố rõ ràng là thày sẽ không mất thì giờ với tự ngã của bất kỳ ai nữa. Nếu con muốn là một học trò của Saint Germain và giúp thày thị hiện Thời đại Bảo bình, thì con hãy vứt bỏ tự ngã của con trước khi con tiếp cận với thày.” Đúng thế, ta là vị thày sẽ giúp con vứt bỏ tự ngã đó để con có thể hoàn thành sứ vụ thiêng liêng của con hầu đồng sáng tạo Thời Hoàng kim với Saint Germain.   

Con đường khiêm tốn toàn diện

Vì vậy ta sẽ treo lên một cái bảng, bởi vì ta đang tìm kiếm những ai sẵn sàng giúp một tay trong việc đồng sáng tạo Thời Hoàng kim. Có thể con đã thấy người ta dựng tấm bảng trước các cơ sở kinh doanh với dòng chữ: “Cần người giúp việc. Ghi danh bên trong.” Ta đang dựng tấm bảng này lên vì ta đang cần sự trợ giúp của con. Và con phải vào bên trong để ghi danh, có nghĩa là con vào trong nội tâm mình, bước vào bên trong, phát hiện tự ngã đó và buông cho nó ra đi.  

Tuy nhiên ta cũng có một số điều kiện. Hai ngàn năm trước đây, ta đã bỏ ra rất nhiều thì giờ và năng lực để ứng xử với những người không sẵn lòng xét xem là mình có cần thay đổi, là mình có một tự ngã hay không. Đây là những người tự coi mình là toàn hảo, là minh triết, là người được Thượng đế chọn lựa và không cần thay đổi. Chỉ có người khác là có vấn đề, cần thay đổi mà thôi. Bảng hiệu của ta sẽ có dòng chữ lớn: “Cần người giúp việc. Ghi danh bên trong.’ Nhưng bên dưới cũng có hàng chữ nhỏ viết rằng: “Kẻ đạo đức giả miễn đăng ký.”

Con đường mà ta trao cho con là cùng con đường ta đã đưa ra 2000 năm về trước. Đó là con đường khiêm tốn toàn diện. Và ngay cả các môn đệ của ta đã sống ba năm với ta cũng đã không hiểu được trọn vẹn con đường này. Và đó là tại sao họ đã bắt đầu tranh cãi nhau để xem người nào là người cao cả nhất trong bọn họ sau khi ta ra đi. Ngay lúc đó, ta như bị giáng một cú vào đầu khi ta chợt hiểu: “Có nghĩa chăng là sau ba năm trời, họ vẫn chưa hiểu được thông điệp của mình? Họ vẫn chưa thâm nhập và thấy được đường đạo là gì?”  

Ngày hôm nay, tình thế của ta sáng sủa hơn nhiều vì hiện có nhiều người thấy được đường đạo là gì. Đó không phải là con đường đúng đắn cho phàm phu, tức là sự tôn vinh tự ngã, mà là con đường khiêm tốn toàn diện, buông bỏ mọi niềm kiêu hãnh của tự ngã, hầu con có thể bước ra khỏi nó và tự giải thoát. Đây là con đường mà ta trao cho con. Ta trao cho con với tất cả tình yêu thương. Và ta sẽ dẫn dắt con trong tình yêu thương cho tới điểm tự do đó. Nhưng ta cũng phải nói, tình thương không luôn luôn mềm mại, vì có khi con cần một bàn tay cứng rắn để con tỉnh ngộ. Và cách cư xử này của ta đối với con cũng liên quan đến cách con nên tiếp cận với người khác về con đường tâm linh.

Làm thế nào giúp Giê-su đánh thức người đời

Khi con tiếp cận với người khác và còn mắc kẹt phần nào trong tự ngã, con sẽ không nói gì trừ khi người ta hỏi, và điều này cũng hữu lý thôi. Con để yên cho họ hỏi, xong con cho họ điều mà họ cần. Tuy nhiên sẽ tới một điểm khi con đạt được một mức độ kết hợp với cái ta Ki-tô của con, và con có đủ sự tự do để không còn cố áp đặt tin tưởng của tự ngã lên người khác nữa. Trái lại, con thực sự đang sống, đang thở, để giải phóng loài người. Và con không rời Thượng đế của con, con luôn đồng bộ với Tượng đế của con.      

Ở điểm đó, con không còn cần phải bận tâm đến chuyện để cho người ta hỏi rồi mới trả lời, vì bây giờ con nhận ra là trên địa cầu có quá nhiều người còn mê ngủ, còn vướng chặt trong vô minh đến độ họ không biết hỏi cái gì. Họ không biết hỏi như thế nào, thậm chí họ còn không dám hỏi. Vậy thì làm sao họ có thể giải thoát được đây? Họ sẽ không thể giải thoát nếu con cứ ngồi ì ở đó chờ cho họ đặt câu hỏi, và họ sẽ không biết hỏi chuyện gì.

Vì vậy con phải là người chủ động, như ta đã từng làm rất nhiều lần trong đời ta. Ta đã đến với mọi người. Ta sẵn sàng bước ra trước mặt họ, nói khích họ và bảo: “Anh chị đang ngủ say! Anh chị cần thức dậy!” Ta đã sẵn lòng lật bàn của bọn đổi tiền đã len lỏi vào nhà thờ – tức là nhà thờ nội tâm của con tim và tâm trí – để buôn bán những sản phẩm dối gạt của chúng trong ngôi đền Thượng đế.  

Và khi con đạt đến một mức độ nào đó của tâm Ki-tô, con sẵn sàng sử dụng cách tiếp cận này – không nhất thiết một cách thiếu tình thương, nhưng sẽ tới một điểm khi con biết rõ trong thâm sâu cách tiếp cận nào là thích hợp nhất cho mỗi người. Và cho tới khi con nhận được sự hướng dẫn rõ ràng đó, ta gợi ý con nên tiếp cận như thế này: “Anh chị biết là có một cách hay hơn phải không? Anh chị biết là mình không cần sống qua những chuyện này? Anh chị biết là mình không cần phải chịu đựng vấn đề này. Anh chị thật sự có khả năng giải quyết. Anh chị có khả năng buông bỏ nó. Anh chị có muốn biết làm thế nào không?”  

Hay con cũng có thể nói: “Anh chị có biết là tôi cũng từng trải qua cùng vấn đề đó, và đây là cách tôi đã làm để vượt qua. Anh chị có muốn tôi giúp không?” Và nếu họ từ chối, có thể con sẽ thử thêm một lần nữa, tối đa ba lần. Nhưng nếu họ từ chối con ba lần, con hãy rút về và tự nhủ: “Tôi đã làm xong bổn phận của mình đối với dòng sống này, bây giờ tùy dòng sống đó có muốn vươn lên và yêu cầu sự giúp đỡ hay không.”   

Hãy cầu thì sẽ nhận được. Cho nên yêu cầu là một việc làm chính đáng. Nhưng như ta đã nói, nếu dòng sống đó không biết phải hỏi gì, phải yêu cầu gì, thì làm sao họ có thể hỏi được câu hỏi hữu ích? Vậy thì con hãy giúp họ bằng cách đặt câu hỏi cho họ. Giúp họ nhận ra là họ có thể biết nhiều hơn, có thể hỏi nhiều hơn về sự sống. Và nếu con hỏi ta thì ta sẽ, qua cái ta Ki-tô của con, giúp con giúp được người khác. Cho nên, con hãy ghi danh với ta ở bên trong.

Nhận biết sự Tĩnh lặng Bất tận!

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels ngày 5/7/2005.

TA LÀ Phật nơi đỉnh đầu,  tĩnh tọa trong thiên bào. Và con sẽ nhìn thấy ta khi Ánh sáng Mẹ được nâng lên đỉnh đầu và ngàn cánh hoa sen mở ra để hiển lộ Hiện diện của ta. Ta đến đây để trao uy lực của tất cả các vị Phật có liên hệ với địa cầu cho phong trào mới của các vị Bảo hộ Ánh sáng Mẹ bởi vì, quả thực, việc bảo hộ cho Ánh sáng Mẹ quan trọng đến như vậy. Đó là chìa khóa chủ yếu để thị hiện Thời Hoàng kim.  

Tại sao thời gian được tạo ra và như thế nào

Có một mối quan hệ quan trọng giữa Mẹ và Phật. Phật giữ sự quân bình cho không gian, trong khi Mẹ giữ sự quân bình cho thời gian. Không gian là gì? Thời gian là gì? Không gian là không gian nơi hình tướng có thể được thị hiện từ hư vô. Thời gian là một cảm nhận khoảng cách. Bình thường con nghĩ về không gian như là một khoảng cách, nhưng thời gian cũng là một khoảng cách, bởi vì kỳ thực, có thể nói là thời gian không hiện hữu. Và tại sao thời gian không hiện hữu? Vì thời gian không thực.  

Thời gian là một cảm nhận khoảng cách so với vị trí trong Dòng sông Sự sống mà đáng lý con đã đứng nếu con không dấn sâu vào tâm thức nhị nguyên và tách mình ra khỏi dòng chảy của Dòng sông Sự sống. Dòng sông cứ tiếp tục chảy khi con bước ra khỏi sông. Và sông cứ chảy tiếp nữa. Và chỗ đứng của con trong dòng sông sẽ tiếp tục bị bỏ trống chừng nào con còn ở lại trên bờ sông của nhị nguyên.

Và đó là cách mà Ánh sáng Mẹ cho phép con tạo ra ảo ảnh tách biệt riêng của con. Thế nhưng Quy luật của Thượng đế quy định rằng ảo ảnh không thể là ảo ảnh mãi mãi, bởi vì Thượng đế thương yêu con, và ngài không muốn con đời đời bị kẹt lại trong nhà tù mà chính con đã dựng lên cho con. Và như vậy, thời gian trở thành một hệ lụy của việc con bước ra khỏi Dòng sông Sự sống.  

Do đó, ngay khi con bước ra khỏi dòng sông đó, kim đồng hồ bắt đầu quay, và con sẽ không thể duy trì ảo ảnh đó mãi mãi. Sẽ đến một thời điểm khi con phải lấy quyết định tối hậu rằng con sẽ phục vụ cho ai. Liệu con sẽ chọn cái chết của sự tự hủy diệt, hay là cái sống của sự tái nhập vào Dòng sông Sự sống? Và khi con lao mình vào dòng sống đó một cách vô điều kiện – là những điều kiện mà con đã sử dụng để biện minh cho việc ở lại trên bờ – thì con sẽ nhanh chóng bắt kịp lại vị trí chính đáng của con trong dòng sông Thượng đế.  

Và khi con về lại chỗ đó, con vượt khỏi thời gian – cho dù con vẫn duy trì sự tập trung vật lý vào địa cầu, con có thể thực sự vượt khỏi thời gian. Và đó là tại sao những ai đã đạt đến giác ngộ đều nhận ra là tất cả mọi thứ trên địa cầu chỉ là tấm màn của Maya, tấm màn ảo ảnh, bởi vì rốt cuộc nó không thực. Đằng sau tất cả những thứ đó là Dòng sông Sự sống, và họ biết phần lớn Bản thể của mình ở trong dòng sông.  

Phật tọa thiền hoa sen

Rất nhiều người trong số các con vẫn tự hỏi: “Sứ vụ của tôi trên địa cầu này là gì? Tại sao tôi ở đây? Tôi đã đến đây để đem lại gì?” Chìa khóa để tìm ra tại sao con ở đây là kết nối lại với Tĩnh lặng của Phật. Đây là điều mà ta ban tặng cho con – sự tĩnh lặng – sự tĩnh lặng của Phật vượt khỏi những xáo động đang diễn ra trong cõi giới này của thời gian, Biển Luân hồi.

Và do đó ta cho con hình ảnh sau đây để con hình dung, khi con thấy mình trong nhịp sống hối hả của chợ búa, và con nhận biết con bị phân tâm, hay căng thẳng hay trĩu nặng, con hãy bước sang một bên và nói: “À, tôi đang bị vướng vào bùn ở đáy hồ. Nhưng bây giờ tôi sẽ tìm ra điểm tĩnh lặng trong tim tôi, tôi sẽ tìm ra hạt giống của hoa sen, và tôi sẽ để cho nó nẩy mầm, gửi một cuống hoa lên mặt nước.”

Và con hình dung Ánh sáng Mẹ màu trắng dâng lên từ gốc lên đến đỉnh đầu, và khi nó tới đỉnh đầu, đóa hoa sen ngàn cánh nở ra. Và bây giờ con đã hết ở trong bùn vì con đang ngồi như là Phật – với Hiện diện của ta chồng lên con – và con đang nổi trên mặt nước. Con đang nổi trên Biển Luân hồi, và không có gì bên dưới mặt nước có thể chạm vào con, bởi vì mặt nước này lặng yên như biển thủy tinh.   

Đó là tĩnh lặng. Và thỉnh thoảng, con hãy dành thời gian bước ra ngoài để tận hưởng tĩnh lặng. Thế gian quá ồn ào. Con hãy tắt máy thu thanh. Tắt âm nhạc. Rút phích điện những chiếc máy làm tiếng động mà người ta đã phát minh ra để ngăn con trải nghiệm Tĩnh lặng Bất tận.    

Kết hợp Phật và Ki-tô

Con đã được nghe về những Ngọn lửa của Thượng đế và ta sẽ giảng dạy thêm một chút cho con. Nhiều người trong số các con đã thắc mắc làm thế nào có một lời dạy tâm linh kết hợp Phật với Ki-tô. Đâu là mối liên hệ giữa Phật và Ki-tô? Này con, Phật và Ki-tô là biểu tượng cho hai trách vụ tâm linh nhằm dẫn dắt cuộc tiến hóa của địa cầu đến cứu rỗi, đến giác ngộ.

Phật và Ki-tô làm điều đó hai cách khác nhau. Phật là đấng ngồi trên mặt Biển Luân hồi, cầm giữ quân bình và viễn quan, cầm giữ sự quân bình toàn hảo cho Ánh sáng Mẹ. Ki-tô là đấng đi xuống Biển Luân hồi đó, đến với những ai bị lạc lối trong vô minh và không có khả năng đặt ra những câu hỏi sẽ giải thoát họ. Và thày ban cho họ một ly nước lạnh nhân danh Ki-tô.   

Điều này không có nghĩa là thày trao cho họ giáo lý tâm linh tối thượng, bởi vì thật sự nhiều người chưa sẵn sàng nhận lấy đâu. Và như vậy, khi Giê-su nói rằng con được quyền đi vào xã hội để lay động những ai còn đang bị kẹt, thày không muốn nói là con phải cho họ giáo lý tâm linh cao nhất mà con có thể với tới. Con cần hòa điệu vào tâm hồn người đó và tự hỏi: “Điều gì sẽ giúp cho dòng sống này bước đi bước kế tiếp? Đây là ly nước lạnh mà ta sẽ tặng họ”. Đó là chức năng của Ki-tô.

Khi con áp dụng điều trên vào khái niệm Ngọn lửa Thượng đế có hai phương diện, con có thể nói rằng ngọn lửa Alpha cũng là ngọn lửa của Phật. Đây là ngọn lửa giữ cân bằng cho địa cầu. Còn ngọn lửa Omega là ngọn lửa của Ki-tô. Đây là ngọn lửa mà con đem đến cho những ai còn lạc lối trong vô minh hầu họ có thể thức tỉnh. Chắc con đã có nghe Ki-tô là Hoàng tử của Hòa bình. Vậy Phật là Hoàng đế của Hòa bình. Phật ngồi trên ngai, cầm giữ viễn quan cho vương quốc, chỉ đạo cho hoàng tử đi vào đời và giải phóng những ai bị sa vào bùn.   

Cho nên, ngọn lửa của Ki-tô là Lời đã hiện thân. Và Giê-su đã chẳng nói hay sao – cho dù thày mang danh là Hoàng tử của Hòa bình – thày đã chẳng nói hay sao: “Đừng tưởng rằng ta đến để đem bình an cho thế gian. Ta đến để đem một thanh gươm” (Matthew 10:34)? Vậy thanh gươm này của Ki-tô là gì? Đó là Lời, là Lời hiện thân chẻ đôi cái thực khỏi cái không thực, hầu con người thấy tự ngã của mình và sự không thực của tự ngã, nhờ vậy mới có thể tự do chọn lựa tách mình khỏi tự ngã. Đó là thanh gươm của Ki-tô. Và đó là tại sao, thực sự, Ki-tô đã không đến để đem lại an bình cho thế gian. Thày đã tới để lay chuyển những ai bị kẹt trong vô minh, kẹt trong kiêu hãnh, kẹt trong đạo đức giả, và thách đố họ vươn lên cao hơn.   

Thày đã đến để phân rẽ anh em với anh em, trong ý nghĩa là thày thà nhìn thấy con người xung đột – vì xung đột sẽ phơi bày tự ngã, phơi bày những điều tồi tệ nhất trong họ – hầu họ thấy được khía cạnh này của tự ngã trong họ. Thày thà nhìn thấy loại xung đột đó – xung đột dẫn đến thăng tiến – còn hơn là nhìn thấy mọi người thờ ơ, mê ngủ, như thể tê dại, bước đi trong cuộc sống như người mộng du.  

Và thật vậy, Ki-tô đến để quấy rầy, để khuấy động, để khiến cho con người tỉnh giấc thờ ơ. Thế nhưng, Ki-tô là Hoàng tử của Hòa bình bởi vì chỉ khi nào con sẵn sàng chiến đấu với tự ngã thì con mới đạt được hòa bình đích thực của sự giải phóng khỏi tự ngã. Làm sao có được hòa bình nếu con người còn bị kẹt trong tự ngã? Ki-tô đến để trao cho họ thanh gươm sẽ cho phép họ tách rời cái Ta Biết khỏi tự ngã. Và đó là sự khác biệt giữa những ngọn lửa Thượng đế của con. Con cầm giữ một sự quân bình cho địa cầu, nhưng con cũng đến đây để đem lại một thanh gươm và để là Hoàng tử Hoà bình đó – tức con sẵn sàng lay động những ai tưởng mình an bình nhưng chi là sự bình an giả trá.

Và như vậy, ta đến để đóng góp uy lực hoà bình của ta, uy lực tĩnh lặng, cho những ai sẽ bảo hộ Ánh sáng Mẹ. Bởi vì, thực sự, nếu con chưa bao giờ tiếp xúc với tĩnh lặng của Phật, làm thế nào con có thể bảo hộ Ánh sáng Mẹ đây? Con sẽ chỉ bị lôi cuốn vào thêm một cuộc chiến đấu nhị nguyên khác giữa những con người đắm chìm trong tự ngã của mình.

3 | Hãy giải thoát con khỏi hình ảnh thiếu thốn

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 5/4/2005.

Bây giờ thì chúng ta đã thấy là Thượng đế hoàn toàn có khả năng thiết kế một hành tinh có thể cho con người một cuộc sống dồi dào. Chúng ta cũng đã thấy tình trạng dồi dào này hiện nay không được thể hiện trên trái đất. Chúng ta đã tới được kết luận là cách giải thích hợp lý duy nhất sự kiện mà ta quan sát là có điều gì đó đã xảy ra trong xã hội con người ngăn cản sự thị hiện của ý muốn Thượng đế là cho tất cả các con của ngài được cuộc sống sung túc. Hầu hiểu được điều này, con cần có hiểu biết rộng hơn mình là ai và mục đích con được sinh ra là gì trước khi được gửi tới một hành tinh nhỏ như hạt bụi nằm trong một vũ trụ vô tận. Con là ai và tại sao con có mặt trên trái đất?

3.1. Hai khía cạnh của Thượng đế

Hầu trả lời các câu hỏi này, thày phải vượt lên trên những điều được giảng dạy bởi hai nền tôn giáo ngự trị xã hội Tây phương, là Cơ đốc giáo chính thống và khoa học duy vật. Cả hai hệ thống niềm tin này đều khẳng định họ nắm chân lý tối hậu về sự hiện hữu của Thượng đế và nguồn gốc vũ trụ. Nếu con chọn tin một trong hai lời khẳng định này thì thày không thể dạy con chìa khóa của đời sống dồi dào. Các chìa khóa cốt yếu không thể tìm được trong khuôn khổ của cả hai hệ thống niềm tin này. Con có thể thắc mắc tại sao thế và câu trả lời là nếu Cơ đốc giáo chính thống hay khoa học duy vật có thể cho con người chìa khóa của đời sống dồi dào thì chắc hẳn đời sống dồi dào này đã được thị hiện trên trái đất từ lâu rồi. Chỉ những ai sẵn sàng nhìn quá các hộp tư duy tạo ra bởi hai hệ thống niềm tin này mới tìm thấy những chìa khóa thực giúp con người kế thừa sự dồi dào của vương quốc Đấng Cha.

Để cho con chìa khóa kế tiếp, chúng ta cần bước lùi khỏi hiện trạng trên trái đất. Thật ra, chúng ta cần bước ra ngoài toàn bộ vũ trụ vật chất này. Giê-su nói nhà của Cha ta có nhiều căn, và như thày đã nói trước kia, vũ trụ của Thượng đế  có nhiều chiều kích, nhiều tầng cấp. Đây là điều mà tín đồ các tôn giáo thường gọi là thiên đàng hay cõi tâm linh. Thiên đàng có khá nhiều tầng và vì hiện nay khoa học biết rằng tất cả đều là năng lượng nên chúng ta hiểu được dễ dàng các tầng này khác nhau ra sao. Các khoa học gia biết rằng vũ trụ vật chất không được cấu tạo bằng hai yếu tố vật chất và năng lượng như giác quan của chúng ta bảo chúng ta. Quả thực, vũ trụ vật chất không được tạo ra từ vật chất; nó được tạo ra từ năng lượng vì vật chất giản dị là một dạng năng lượng. Tầm quan trọng của sự kiện này là toàn bộ vũ trụ vật chất được tạo ra từ cùng một chất đã tạo ra cõi tâm linh hay thiên đàng. Các nhà khoa học gọi chất này là năng lượng nhưng Thánh kinh gọi nó là ánh sáng. Kinh Sáng thế Ký (Genesis) nói cho con sự sáng tạo vũ trụ bắt đầu như thế nào. Nó bắt đầu với mệnh lệnh của Thượng đế khi ngài nói: “Ánh sáng hãy có mặt!” (Genesis 1:3). Bởi vì Thượng đế toàn năng nên ánh sáng mặt.

Tại sao Thượng đế bắt đầu tiến trình sáng tạo với sự sáng tạo ánh sáng? Ánh sáng hay năng lượng là một chất không có hình tướng nhưng có tiềm năng khoác vào bất kỳ hình tướng nào. Ngay cả khoa học cũng đồng ý điểm này. Lý thuyết khoa học hiện hành, đặc biệt là phương trình nổi tiếng của Einstein E=mc2 nói rằng vật chất đơn giản là năng lượng đã khoác lên một hình tướng trông thấy được. Năng lượng được xem là một dạng rung động và khoa học đã phát hiện nhiều loại năng lượng có thể đặt trên một thang đo từ tần số thấp lên cao. Ta có thể lý luận dễ dàng rằng các dạng năng lượng thô hơn mang vào hình tướng của vật chất, chúng rung động ở các tần số thấp hơn các năng lượng tinh tế hơn như quang tuyến X (có thể thâm nhập vật chất “rắn đặc”) hay ngay cả năng lượng tinh tế hơn nữa như tư tưởng. Những quan sát khoa học này đưa tới kết luận là vũ trụ được tạo ra từ năng lượng vô hình, tinh tế hơn và cơ bản hơn khi năng lượng này được hạ độ rung cho tới khi nó mang vào hình tướng của năng lượng vật lý và chất vật lý. Hiện nay các khoa học gia chưa giải thích được điều này xảy ra như thế nào nhưng sẽ không bao lâu nữa họ sẽ khám phá một cách giải thích khoa học.

Sự khác biệt giữa thiên đàng và cõi phàm là một sự khác biệt về rung động. Hành tinh trái đất và toàn bộ vũ trụ vật chất được tạo ra từ một chất cơ bản có khả năng mang vào vô hạn hình dạng, hình tướng và đặc tính khác nhau. Năng lượng hay ánh sáng này có thể có nhiều tầng rung động khác nhau nên con có thể thiết lập một thang đo rung động đi từ chậm lên nhanh, từ dày đặc lên tinh khiết hơn. Khi con đi từ rung động thấp lên cao, cuối cùng thì con sẽ tới điểm có một lằn ranh vô hình. Khi con vượt lằn ranh này, con rời vũ trụ vật chất đi vào cõi tâm linh. Khi con tiếp tục đi từ cõi tâm linh thấp lên các tầng rung động cao hơn và cao hơn nữa, con tới những tầng cao hơn của cõi tâm linh. Nếu con đi tiếp tới rung động cao nhất có thể có được trong toàn thế giới hình tướng, con đạt tới ánh sáng tinh khiết của Thượng đế và vượt quá nó là chính đấng Sáng tạo. Đấng Sáng tạo này là một Sinh thể có ý thức đã khởi sự tiến trình sáng tạo mà con là một phần trong đó. Đấng Sáng tạo không phải là khía cạnh duy nhất hay tối hậu của đấng mà con người gọi là Thượng đế. Nếu con thật sự bước lui khỏi thế giới hình tướng – thế giới đã được sáng tạo qua sự nhào nắn ánh sáng thành hình tướng, nhào nắn ánh sáng vô hình tướng thành hình tướng – thì con có thể bắt đầu quán Bản thể thật của Thượng đế. Có những tôn giáo trong thế giới này nói rằng Thượng đế, trong nghĩa tối hậu, không thể biết tới được. Có những tôn giáo mô tả Thượng đế tối hậu như “cái trống không” vì nó không mang hình tướng hay tính chất nào mà ta có thể mô tả bằng bất kỳ hình ảnh hay ngôn từ nào tìm thấy trong vũ trụ này. Con ghi nhận lời răn đầu tiên trong mười điều răn là: “Con không được có thần nào khác trước ta” (Exodus 20:3). Nghĩa thật là con không bao giờ có thể lấy một hình tướng nào đó, một hình tượng khô chết nào đó và xác nhận rằng hình tượng đó tượng trưng trọn vẹn Thượng đế. Theo nghĩa tối hậu, Thượng đế vượt quá thế giới hình tướng do Thượng đế tạo ra – đấng Sáng tạo vượt quá tạo vật của ngài. Như Giê-su đã nói: “Người đầy tớ không lớn hơn Chủ mình” (John 13:16). Con không thể dùng từ ngữ và hình ảnh của thế gian này và phóng chiếu chúng lên Thượng đế tối hậu và tuyên bố rằng giờ đây con đã mô tả Thượng đế một cách chính xác và đầy đủ. Đây là sự thờ phượng thần tượng, và như chúng ta sẽ thấy sau này, đây là một trong những vấn đề lớn ngăn cản không cho đời sống dồi dào được thị hiện trên trái đất. Nhưng mở rộng tâm và chiêm nghiệm Bản thể của Thượng đế vẫn là điều quan trọng.

Điều chúng ta có thể nói dựa trên những bàn luận trước, là Thượng đế phải có hai khía cạnh. Trong nghĩa tối hậu Thượng đế là tất cả những gì là: “Không có Ngài, chẳng vật chi được tạo ra mà đã được tạo ra” (John 1:3), nghĩa là trước khi bất cứ gì được tạo ra, chỉ có Thượng đế hiện hữu. Thượng đế này phải là một Sinh thể viên mãn và tự đủ. Thượng đế không có nhu cầu sáng tạo một vũ trụ. Nếu Thượng đế là cái Tất cả, tại sao Thượng đế cần sáng tạo một vũ trụ trong đó có những sinh thể có ý thức có thể biết được sự hiện hữu của Thượng đế? Thượng đế theo nghĩa tối hậu không có nhu cầu được con người biết tới hay thờ phượng, vì Thượng đế là cái Tất cả cho nên ngài viên mãn và hoàn toàn tự đủ. Vì sự kiện giản dị là con hiện hữu và sống trong thế giới có hình tướng – và do đó khác với cái Tất cả trong đó không có hình tướng – chúng ta có thể thấy Thượng đế tối hậu, tự đầy đủ và vô hình tướng không thể là khía cạnh duy nhất của Thượng đế. Phải có một khía cạnh khác mà thày gọi là đấng Sáng tạo. Đây là khía cạnh của Thượng đế muốn sáng tạo, muốn là nhiều hơn cái trống không vô hình tướng. Đây là khía cạnh của Thượng đế đã sáng tạo vũ trụ mà con đang sống trong đó.

3.2. Con có khả năng sáng tạo đời sống dồi dào

Thượng đế này đã sáng tạo vũ trụ như thế nào? Đấng Sáng tạo sáng tạo mọi thứ từ chính Bản thể của ngài, bởi vì đâu có gì khác ngoài Thượng đế để sáng tạo từ đó. Đấng Sáng tạo khác với Thượng đế vô hình tướng ở điểm Thượng đế vô hình tướng không thay đổi trong khi đấng Sáng tạo tăng triển không ngừng, mở rộng không ngừng, tự thăng vượt không ngừng. Khi Moses hỏi tên Thượng đế, thì câu trả lời là: “YOD HE VAW HE,” thường được dịch ra là: “TA LÀ CÁI TA LÀ (Exodus 3:14). Thật ra, như nhiều nhà học giả về Kinh thánh biết, lời dịch chính xác hơn là: “TA SẼ LÀ CÁI TA SẼ LÀ.” Cách dịch này nắm bắt được sự kiện Thượng đế giữ đúng chính lời răn của ngài. Ngài không thật sự cho Moses một cái tên bởi vì ngài không muốn con người dùng ngay cả một danh xưng để tạo ra một hình ảnh khô chết, một hình ảnh đứng yên về Thượng đế. Thay vào đó, vị Thượng đế trên núi truyền tải sự kiện Thượng đế luôn luôn thay đổi, cho nên Thượng đế sẽ là cái mà ngài sẽ là mỗi lúc. Nếu con muốn biết Thượng đế, thì con không thể bám chặt vào bất kỳ hình ảnh nào, con phải tuôn chảy với sự tự thăng vượt của Thượng đế, con phải nhập vào Dòng sông sự Sống là cái Tất cả của Bản thể của Thượng đế, bao gồm cả thế giới trong đó con sống, nhưng không chỉ giới hạn trong đó.

Trong Bản thể Thuần khiết của Thượng đế, trong Thượng đế vô hình tướng, không có thay đổi. Làm sao có thay đổi trong cái vô hình tướng? Làm sao có sự tiến triển trong cái tự nó đầy đủ trong chính nó? Trong khía cạnh Sáng tạo của Thượng đế, có sự chuyển động không ngừng vì khía cạnh này của Thượng đế hiện hữu với mục đích sáng tạo và trở nên hơn nữa. Đấng Sáng tạo là gì? Là một Sinh thể tự nhận biết có ba khả năng. Khả năng đầu là tự nhận biết, là khả năng biết mình hiện hữu. Khả năng thứ nhì là tưởng tượng, là khả năng tưởng tượng một hình tướng chưa được thị hiện trong bất kỳ vũ trụ nào. Nếu không có khả năng tưởng tượng trong đấng Sáng tạo, làm sao Thượng đế sáng tạo được điều gì mới? Khả năng thứ ba mà đấng Sáng tạo vui hưởng là khả năng chọn lựa. Khi đấng Sáng tạo sáng tạo vũ trụ mà con sống trong đó, ngài phải chọn lựa. Con nhìn thế giới trong đó con đang sống và con coi biết bao nhiêu thứ là đương nhiên. Tại sao bầu trời màu xanh mà không phải một màu nào khác? Tại sao trái đất tròn mà không phải một hình dạng nào khác? Các nhà khoa học của con liên tục khám phá những ví dụ cho thấy vũ trụ được thiết kế thật tinh xảo và tinh tế. Nếu những lực giữ hạt nhân của hạt nguyên tử có cường độ khác đi chút xíu, thì hạt nguyên tử không giữ chặt được và vật chất sẽ không hiện hữu. Nếu trọng lực khác đi chút xíu, các hành tinh và mặt trời sẽ không thể ở trong quỹ đạo của chúng được. Tại sao tất cả mọi thứ như chúng là? Bởi vì khi Thượng đế thiết kế vũ trụ này, đấng Sáng tạo của con đã lấy một số chọn lựa.

Một trong những chọn lựa của đấng Sáng tạo của con là ngài không muốn sáng tạo toàn bộ vũ trụ này một mình. Đấng Sáng tạo của con quyết định sáng tạo những sinh thể tự nhận biết là nối dài của chính ngài và phú cho các sinh thể này quyền năng sáng tạo, là tự nhận biết, tưởng tượng và tự quyết. Đó là lý do tại sao Thánh kinh nói rằng Thượng đế sáng tạo con người theo hình ảnh của ngài và giống ngài. Thượng đế sáng tạo một số sinh thể tự nhận biết và các sinh thể này được thiết kế như là những nối dài của đấng Sáng tạo. Họ được thiết kế để du hành vào thế giới do chính đấng Sáng tạo khởi sự tạo ra và phục vụ như những người đồng-sáng tạo có khả năng xây dựng trên nền tảng do đấng Sáng tạo đặt ra. Ta có thể nói đấng Sáng tạo sáng tạo từ bên ngoài và các sinh thể đồng-sáng tạo sáng tạo từ bên trong. Con có thể lý luận tại sao đấng Sáng tạo làm như vậy và có nhiều lý do chính đáng. Sự thật cơ bản là sự hiện hữu của con chứng minh là đấng Sáng tạo đã lấy chọn lựa đó. Thượng đế đã chọn sáng tạo con như là một sinh thể tự nhận biết. Con có thể biết con hiện hữu, con có trí tưởng tượng cho phép con hỏi những câu hỏi như mình là ai, mình từ đâu tới và tại sao mình ở đây.

Những câu hỏi này chứng minh con không đơn giản là sản phẩm của một trò chơi may rủi hay một tiến trình tiến hóa vô tri. Chính sự kiện con có thể hỏi những câu hỏi này chứng minh con là hậu duệ của một sinh thể có tự nhận biết. Đó là lý do tại sao con có khả năng tưởng tượng điều mà giác quan không cảm nhận được. Con cũng có khả năng hình thành một khái niệm hay một thiết kế trong tâm và sau đó dùng thân vật lý để xây dựng một căn nhà thể hiện toàn hảo tâm ý của con. Con có khả năng chọn lựa thiết kế nhà mình ra sao. Các khả năng này đều không tìm thấy nơi loài thú mặc dù các khoa học gia cho rằng con tiến hóa từ loài thú. Đó là lý do tại sao con có giá trị hơn loài chim và tại sao Thượng đế đã thiết kế một vũ trụ hoàn toàn có khả năng cho con cuộc sống dồi dào chính là ước muốn thật của Thượng đế. Vì Thượng đế đã cho con trí tưởng tượng và ý chí tự do, vì Thượng đế đã thiết kế con là người đồng-sáng tạo với ngài, nên cuộc sống dồi dào giản dị không thể do một nguồn ngoại lai trao cho con được. Con phải dùng trí tưởng tượng và ý chí tự do của con để thị hiện cuộc sống dồi dào trong phạm vi ảnh hưởng của con. Con phải lấy quyết định ngự trị “trái đất”, có nghĩa là chính tâm của con và cõi vật chất.

Thượng đế đã sáng tạo một vũ trụ có thể cho con cuộc sống dồi dào, nhưng ngài đã không sáng tạo một vũ trụ sẽ tự động cho con cuộc sống dồi dào đó. Thượng đế đã không sáng tạo con như một rô bốt vô tri mà là một sinh thể có tự nhận biết với khả năng biết mình là ai, mình từ đâu tới và mình có tiềm năng đi tới đâu. Trong các bài sau thày sẽ giải thích chính xác con có tiềm năng đi tới đâu, nhưng bây giờ chỉ cần nói con có tiềm năng quyết định thị hiện cuộc sống dồi dào hay thị hiện cuộc sống giới hạn, thiếu thốn và đau khổ. Con có khả năng chọn lựa và con có khả năng tưởng tượng, và với hai khả năng này, con sáng tạo trải nghiệm của mình. Con sáng tạo điều mà nhiều người trên trái đất gọi lầm là “thực tại” nhưng nó quả thực chỉ là một ảo ảnh, phóng chiếu lên màn ảnh của cuộc sống bởi tâm con người đã quên tiềm năng sáng tạo thực của họ.

Trước khi con có thể thừa kế vương quốc của Đấng Cha của con, con phải hiểu con thật sự được sáng tạo theo hình ảnh và giống như đấng Sáng tạo của con. Điều này không có nghĩa đấng Sáng tạo có một thân vật lý và trông giống một con người. Điều này không có nghĩa đấng Sáng tạo nói năng giống Charlton Heston. Nó có nghĩa là con được sáng tạo với khả năng tưởng tượng điều chưa được thị hiện và khả năng quyết định tâm ảnh nào sẽ được thị hiện trong cõi vật lý và đấy cũng là những khả năng mà đấng Sáng tạo đã dùng để sáng tạo con và vũ trụ nơi con đang sống.

3.3. Con có thể chọn lựa vượt thăng trạng thái tâm thức đã tạo ra thiếu thốn và khổ đau

Giờ đây chúng ta có thể có một câu trả lời cho câu hỏi chuyện gì đã trục trặc từ phía các con, chuyện gì đã trục trặc trên hành tinh trái đất, đã ngăn cản không thị hiện được ý muốn của Thượng đế muốn cho tất cả một cuộc sống dồi dào. Câu trả lời quá ư giản dị, và mong muốn cao nhất của thày là mọi con người tới được điểm hiểu sự thật này. Câu trả lời là đời sống dồi dào không thị hiện trên trái đất vì hầu hết con người không dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết của họ, chưa dùng khả năng sáng tạo theo tiềm năng cao nhất. Thay vì dùng uy lực sáng tạo để thị hiện một cuộc sống dồi dào và liên tục gia tăng sự dồi dào này, con người đã dùng trí tưởng tượng để tưởng tượng một thế giới với sự dồi dào giới hạn, một thế giới thiếu thốn. Họ đã chọn chấp nhận đây là thực tại duy nhất khả dĩ trên hành tinh trái đất và khi họ chấp nhận nó, họ đã biến nó thành một thực tại tạm bợ, nhưng huyễn ảo. Giờ đây con thấy là vì Thượng đế đã cho con tưởng tượng và quyền tự quyết và vì Thượng đế không giới hạn món quà của ngài, ngài cho phép các con của ngài sáng tạo một thực tại tạm bợ kém xa cuộc sống dồi dào mà ngài đã hình dung trước khi ngài gửi những đứa con này xuống thế giới vật chất. Ta có thể hiểu đây cũng khế hợp với ý chí cao của Thượng đế vì ý chí cao đó là con du hành vào thế giới hình tướng và con gặt hái kinh nghiệm liên quan tới cách dùng các khả năng sáng tạo của con một cách tốt nhất cho con và tốt nhất cho tất cả mọi người trong đó con là một thành phần.

Nếu trong tiến trình học hỏi này con cần phải đau khổ trong một thời gian với trạng thái thiếu thốn và giới hạn thì Thượng đế cho phép điều này xảy ra. Thượng đế không muốn con ở trong trạng thái giới hạn. Thượng đế không muốn con ở trong trạng thái đau khổ trong một thời gian vô hạn định. Thượng đế luôn luôn hy vọng con rốt cuộc sẽ tới điểm quyết định con không còn chấp nhận đau khổ và thiếu thốn như hậu quả không tránh được của cuộc sống trên trái đất. Thượng đế luôn luôn hy vọng là một số người trong nhân loại và rốt cuộc là toàn thể nhân loại sẽ thức tỉnh thấy sự thật là đời sống không nhất định phải khổ đau và có một chọn lựa khác hơn nhà tù. Chọn lựa khác đó là thăng vượt trạng thái tâm thức đã tạo ra những điều kiện hiện hành trên trái đất.

Vượt thăng trạng thái tâm thức giới hạn này chính là điều mà mọi tôn giáo chân chính và mọi giáo lý tâm linh chân chính đều hướng tới. Con nghĩ tại sao Giê-su được gửi xuống trái đất? Chính là để chỉ cho con thấy con không phải bị giới hạn bởi các điều kiện nhân phàm này. Con có thể vượt thăng chúng, con có thể biến nước của tâm thức nhân phàm thành rượu của một trạng thái tâm thức cao hơn qua uy lực của tâm con. Con có thể nhân các ổ bánh và cá lên và do đó gia tăng sự dồi dào vật chất của con qua uy lực của tâm con. Con còn có thể vượt thoát cái chết vật lý và tái sinh trong một trạng thái tâm thức cao hơn, một hình thức sống cao hơn trên một cõi cao hơn.

Câu trả lời giản dị cho câu hỏi chuyện gì đã sai trật, điều gì đã ngăn cản sự dồi dào của Thượng đế thị hiện trên trái đất, đó là con người đã sử dụng sai uy lực sáng tạo của họ. Họ đã đánh mất viễn quan rõ rệt của Thượng đế về cuộc sống dồi dào. Thay vào đó, hầu hết đã tập trung trí tưởng tượng của họ vào một hình ảnh giả dựa trên khái niệm dồi dào của Thượng đế có giới hạn và không có đủ cho tất cả mọi người. Chỉ một số nhỏ có thể sung túc và đa số phải sống nghèo khó. Nhân loại đã bị khuynh loát để dùng quyền tự quyết của họ để chấp nhận hình ảnh giả này và chấp nhận nó không thể tránh được. Đó là lý do tại sao hình ảnh giả đã trở thành một hiện thực tạm bợ mà nhiều người lầm tưởng là một hiện thực trường tồn.

3.4. Vương quốc Thượng đế ở bên trong con

Chìa khóa mà con cần để trải nghiệm cuộc sống dồi dào là nhận chân chính con không cần chấp nhận hình ảnh giả này, thực tại giả này. Con có thể chọn tách mình ra khỏi hình ảnh giả này, con có thể tách mình ra khỏi nó trong tâm thức. Bằng cách thăng vượt trạng thái tâm thức hiện hành của con, con có thể vươn lên và giải thoát trí tưởng tượng và ý chí của con để cuối cùng chấp nhận cuộc sống dồi dào thay vì cuộc sống giới hạn. Chìa khóa cốt yếu để thừa kế vương quốc của Cha con là nhận chân con phải dùng quyền tự quyết của mình để thanh lọc trí tưởng tượng để con có thể sáng tạo cuộc sống dồi dào thay vì tiếp tục sáng tạo một cuộc sống giới hạn và khổ đau. Cha con hoan hỷ cho con vương quốc, nhưng thiết kế của ngài là cho con uy lực sáng tạo để con có thể hoàn thành vương quốc này từ trong tâm con. Nếu con muốn dồi dào đích thực, con phải chiêm nghiệm và thấm nhập câu nói của Giê-su: “Vương quốc Thượng đế ở trong con” (Luke 17:21). Con không thể đi tìm một Thượng đế bên ngoài sẽ cho con vương quốc.

Khi con nhận ra con có khả năng bên trong con để tái tạo kinh nghiệm sống của con trên trái đất, con có khả năng tái tạo mọi khía cạnh của kinh nghiệm sống của con trên trái đất, con đã đi một bước cốt lõi trên con đường trở về vương quốc của Cha con. Thày biết rõ con đã bị lập trình để tin rằng những gì con thấy chung quanh mình là một thực tại không thể tránh và con không có khả năng bên trong con để giải thoát mình khỏi thực tại giả định đó. Giê-su đến với một mục đích duy nhất là để chỉ cho con thấy ảo tưởng đó là lời dối trá và con quả thật có vương quốc Thượng đế bên trong con. Lý do là vì Thượng đế đã thiết kế con theo hình ảnh của ngài và giống ngài. Thượng đế cho con trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Lý do duy nhất khiến con hiện nay trải nghiệm giới hạn, thiếu thốn và khổ đau là vì con và một số đông người trên hành tinh này đã dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết của mình để đồng-sáng tạo giới hạn và khổ đau đó. Khi con bắt đầu giải phóng trí tưởng tượng của con và dùng quyền tự quyết thuận theo các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, con có thể tái tạo lại kinh nghiệm sống của con. Khi đủ người làm chuyện đó, các con có thể tái tạo kinh nghiệm sống tập thể trên hành tinh này. Thật vậy con có thể đồng-sáng tạo một thực tại phản ánh ý muốn thật của Thượng đế cho hành tinh này, một hành tinh có khả năng nuôi dưỡng nhiều tỷ người đều có được cuộc sống dồi dào.

Qua kinh nghiệm sống của con và sự giáo dục con nhận được trên hành tinh này, con đã bị lập trình để nghĩ những giới hạn hiện có trên trái đất là thật và không tránh được. Có thể là một phép lạ nào đó của Thượng đế có thể thay đổi nó, nhưng phép lạ như vậy hiển nhiên sẽ không xảy ra. Con đã bị lập trình để nghĩ con không có uy lực sáng tạo bên trong con để tái tạo kinh nghiệm sống của con và do đó con là nộ lệ của hoàn cảnh bên ngoài vượt quá quyền kiểm soát của con. Đấy là ảo tưởng, đấy là lời dối trá không liên quan gì tới sự thật của Thượng đế. Sự thật là đấng Sáng tạo đã cho con khả năng sáng tạo của chính ngài. Thượng đế đã sáng tạo con theo hình ảnh của ngài và giống ngài để con có uy lực bên trong để tái tạo cuộc sống dồi dào chung quanh con. Như một tập thể, chỉ một số nhỏ người cũng có thể tái tạo cuộc sống dồi dào trên trái đất. Đây là chân lý mà Giê-su muốn đem lại khi tới đây, đây là chân lý mà Phật muốn đem lại khi tới đây, đây là chân lý mà tất cả những vị lãnh đạo tâm linh, tiên tri và đại diện của Thượng đế chân chính muốn đem lại khi tới đây. Khi con nhận ra chân lý này, con có thể bắt đầu bước đi trên con đường có hệ thống, lô gíc dẫn con từng bước một tới điểm con tái tạo cuộc đời mình để nó thẳng hàng với viễn quan dồi dào, với niệm tinh khôi được gìn giữ trong tâm Thượng đế.

Phần còn lại của khóa học này sẽ chú trọng vào việc trao cho con hiểu biết và những bước thực tập thực tiễn mà con cần để giải thoát mình khỏi mọi hình ảnh giả về Thượng đế, mọi hình ảnh giả về chính con và mọi hình giả về vũ trụ nơi con đang sống. Thày sẽ giúp con là sinh thể mà con đã được thiết kế để là. Thày sẽ giúp con vận dụng trí tưởng tượng và quyền tự quyết để có thể đem lại cho con cuộc sống dồi dào mà con muốn và đồng thời cũng đem lại đời sống dồi dào cho mọi sự sống khác trên hành tinh này.

3.5. Thượng đế muốn con thị hiện vương quốc qua chính uy lực sáng tạo của con

Quả thật Đấng Cha vui vẻ muốn cho con vương quốc. Đấng Sáng tạo muốn con cảm thấy con đem lại vương quốc đó qua chính uy lực sáng tạo của con, con thị hiện vương quốc qua khả năng mà Thượng đế trao cho con, khả năng là người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Đây là ý muốn của Thượng đế, đây là lý do tại sao Thượng đế gửi con người xuống trái đất với mệnh lệnh hãy “nhân lên” và “ngự trị” (Genesis 1:28). Ngài muốn con nhân khả năng sáng tạo của con và con dùng tâm mình để ngự trị vũ trụ vật chất, để con có thể đem sự dồi dào của Thượng đế vào vũ trụ vật chất này. Qua việc con ngự trị, tâm làm chủ vật chất, vũ trụ vật chất này có thể trải bày sự toàn hảo của Thượng đế và do đó thật sự trở nên vương quốc của Thượng đế.

Thượng đế có khả năng sáng tạo một hành tinh có cuộc sống dồi dào mãi mãi. Thượng đế không muốn làm vậy bởi vì làm sao con học được điều gì khi sống trong một hành tinh như thế? Con sẽ bị giới hạn thành một sinh thể chỉ biết thích ứng, một con thú, thay vì là một sinh thể đồng-sáng tạo có tự nhận biết. Thượng đế sáng tạo một hành tinh có tiềm năng thị hiện đời sống dồi dào nhưng đời sống dồi dào chưa được hoàn toàn thị hiện vật lý. Sau đó, ngài gửi các con trai và con gái của ngài đi vào thế giới này và họ có tất cả những gì họ cần như khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng và quyền tự quyết để ngự trị hành tinh này và mang sự dồi dào của Thượng đế vào thị hiện vật chất. Họ có thể xây dựng thêm trên nền tảng được Thượng đế tạo ra để cho các con trai và con gái của Thượng đế có thể xây dựng vương quốc Thượng đế trên hành tinh trái đất bằng chính những khả năng do Thượng đế trao cho họ.

Đây là kế hoạch nguyên thủy của Thượng đế, đây là mong muốn nguyên thủy của Thượng đế, đây là thiết kế nguyên thủy của Thượng đế. Không có gì thay đổi kế hoạch của Thượng đế, không có gì thay đổi tiềm năng của hành tinh trái đất có thể trải bày sự toàn hảo của Thượng đế. Tạm thời các con trai và con gái của Thượng đế đã chọn dùng khả năng sáng tạo của họ để tạo ra khổ đau và thiếu thốn thay vì dồi dào. Chuyện này xảy ra chỉ vì họ đã rơi vào trạng thái vô minh nên không nhận ra toàn bộ khả năng sáng tạo của họ. Họ không hiểu tầm quan trọng và uy lực của quyền tự quyết của họ. Họ không hiểu cái bao la và tiềm năng của trí tưởng tượng của họ, họ không hiểu là họ không cần phải bị giới hạn bởi các hình ảnh bất toàn mà họ có thể tái tạo lại ngay cả thực tại vật lý qua uy ực của tâm họ.

Thực tại vật lý, tình trạng thiếu thốn mà con trải nghiệm trên hành tinh này không do Thượng đế tạo ra, nó do tâm tức tập thể của nhân loại tạo ra. Nó được tạo ra qua uy lực của tâm, khi con người hình dung một trạng thái thiếu thốn và sau đó dùng uy lực ý chí của mình để chấp nhận tình trạng này là miên viễn và không tránh được. Con yêu dấu, thày xin con so sánh những khái niệm này với một câu nói quan trọng nhất của Giê-su: “Không có đầy tớ nào làm tôi hai chủ được: bởi vì anh sẽ ghét người này và yêu người kia; hoặc anh sẽ gắn bó với một người và khinh chê người kia. Ngươi không thể vừa làm tôi Thượng đế vừa làm tôi Ma môn.” (Luke 16:13). Cách giải thích ý nghĩa tâm linh của câu nói này là “ma môn” tượng trưng cho trạng thái tâm thức nhân phàm, trạng thái chấp nhận thiếu thốn và giới hạn là không tránh được. Điều này khiến cho con người bỏ toàn cuộc đời tích lũy các vật của thế gian – là ma môn – thay vì trực tiếp đem lại sự dồi dào từ kho vô tận của Thượng đế. Giê-su nói là con phải chọn làm tôi người chủ nào, hình ảnh giả của thiếu thốn do tâm thức tập thể tạo ra hay thực tại về cuộc sống dồi dào của Thượng đế. Giê-su nói là con không thể làm tôi cả hai ông chủ này cùng một lúc, thật sự có nghĩa là con không thể cùng một lúc ở trong hai trạng thái tâm thức tương phản. Con không thể trung thực với thực tại dồi dào của Thượng đế và cùng lúc chấp nhận hình ảnh thiếu thốn và khổ đau do con người tạo ra. Con phải tập trung tâm vào “thực tại” này hay thực tại kia, và hình ảnh mà con tập trung vào sẽ cho con trải nghiệm vật lý đó. Vật chất sẽ khoác vào những hình tướng mà con giữ trong tâm mình. Uy lực sáng tạo của con sẽ đem lại cho con trải nghiệm vật lý của điều mà con cầm giữ trong tâm mình. Nếu con muốn sự dồi dào của Thượng đế, con phải làm tôi vị thày của thực tại của Thượng đế và con phải ngưng làm tôi vị thày giả của ảo tưởng nhân phàm. Con phải làm công việc giải thoát trí tưởng tượng của con khỏi mọi hình ảnh và tin tưởng giả. Con phải dùng quyền tự quyết để chọn đứng thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo mà Thượng đế đã dùng để quy định vũ trụ này.

Chỉ khi con đi qua sự biến đổi tâm thức này con mới giải phóng mình khỏi người đốc công đang giam hãm con trong cái hộp của giới hạn và đau khổ, cái hộp thực sự chỉ hiện hữu trong tâm con và trong tâm thức tập thể. Trạng thái tâm thức mà hầu hết con người hiện nay chấp nhận như thực tại của họ là trạng thái mà Giê-su gọi là “chết”, có nghĩa là cái chết tâm linh. Nếu con muốn thoát khỏi nhà tù nhân phàm, con phải chọn trạng thái tâm thức cao hơn, tâm thức của sự sống.

Con hãy suy ngẫm câu nói trong Cựu ước Kinh: “Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, phước lành và rủa sả. Vậy, hãy chọn sự sống, hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống”. (Deuteronomy 30:19). Thượng đế đã cho con trí tưởng tượng cho phép con chấp nhận một hình ảnh thật hay một hình ảnh giả. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết để chọn hình ảnh nào con sẽ thị hiện trong vũ trụ này. Ngay lúc này, con có tiềm năng giải thoát mình khỏi gông cùm của tâm thức chết và bước vào tâm thức của sự sống là cánh cửa duy nhất dẫn con tới vương quốc của Cha con. Trạng thái tâm thức này là Tâm Ki-tô Hoàn vũ mà Giê-su đã mô tả khi thày nói: “Ta là con đường, sự thật và sự sống: không ai đến Đấng Cha mà không qua ta” (John 14:6).

Con có sẵn sàng theo thày trong hành trình sẽ giúp con khám phá lại khả năng sáng tạo thật của con và giúp con giải thoát mình khỏi gông cùm của sự chết và giới hạn đã được đặt lên con? Con có sẵn sàng vươn lên và trở thành người con trai hay người con gái thật mà con được thiết kế để là khi đấng Sáng tạo thiết kế con theo hình ảnh của ngài và giống ngài? Nếu con sẵn sàng thì con hãy nắm tay thày trong khi thày trao cho con thêm nhiều chìa khóa dẫn tới đời sống dồi dào.

1 | Tiềm năng cao nhất của con

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 20/4/2005.

Trái tim yêu dấu của Mẹ, trong chương trước [Xem quyển 2], thày có giảng cho con tiến trình qua đó mọi thứ trong vũ trụ vật chất đã được đem vào thị hiện. Thày có giảng là mọi thứ khởi đầu như một ý tưởng chung chung nơi cõi bản sắc, sau đó được hạ xuống thành một ý tưởng rõ ràng hơn nơi cõi tư tưởng, sau đó trở nên rõ ràng hơn nữa và nhận được động lượng và định hướng nơi cõi cảm xúc, và sau đó thể hiện như một hình tướng hay một hành động nơi cõi vật lý.

Thày có hứa là sẽ làm cho giáo lý này thực tiễn hơn, và thày sẽ làm điều này trong chương này bằng cách áp dụng nó cho câu hỏi làm sao con có thể thị hiện đời sống dồi dào cho con và mọi sự sống khác trên hành tinh này. Chúng ta hãy bắt đầu với một đề tài cốt yếu cho việc thị hiện đời sống dồi dào, đó là uy lực sáng tạo của con, uy lực thật giúp con thể hiện mọi thứ. Nếu con đã nghiên cứu các phương pháp dạy cách đạt phồn thịnh mà con tìm thấy trên hành tinh, thì con thấy nhiều phương pháp nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt mục đích, có một viễn quan rõ ràng về những gì con muốn đạt. Đây là một phần rất quan trọng trong việc thể hiện đời sống dồi dào, vì quả thật Thánh kinh có nói: “Khi không có viễn quan thì con người mạng vong” (Proverbs 29:18). Nếu con không biết mình muốn thể hiện gì, thì làm sao con có thể mang nó vào hiện thực, đặc biệt là khi con so sánh với lời giảng của thày là mọi thứ được cấu tạo từ Ánh sáng Mẫu-Vật đã khoác vào một hình tướng vì một tâm có tự nhận biết đã áp chồng một hình ảnh lên nó. Con có thể đã nghe nói đến quan niệm lập một bản đồ kho tàng, chỉ giản dị là một tập hợp hình ảnh minh họa điều con muốn thấy thể hiện trong đời mình, tỷ dụ như được giàu có hơn, có một căn nhà xinh đẹp để ở, hay các điều kiện khác. Đây quả thực là một phương pháp thể hiện dồi dào có giá trị, nhưng nó có một số giới hạn. Con có thể có viễn quan tốt nhất nhưng thiếu uy lực để mang nó vào thể hiện. Trong chương này, thày sẽ chú tâm vào khía cạnh uy lực và sau đó chúng ta sẽ nói đến cách con trong lọc viễn quan và có viễn quan cao nhất về khả năng sáng tạo của mình.

1.1. Chìa khóa của dồi dào là bốn thể phàm thanh khiết

Chìa khóa thật để thể hiện đời sống dồi dào là cho phép ánh sáng thuần khiết của Thượng đế tuôn chảy qua bốn thể phàm của con. Nếu ánh sáng có thể tuôn chảy mà không bị cản trở hay pha loãng, thì đời sống dồi dào của Thượng đế sẽ được thể hiện như hoàn cảnh vật chất của con. Nếu bốn thể phàm của con quả thật trong sạch, thì ánh sáng của Thượng đế sẽ tuôn chảy qua chúng mà không bị pha loãng. Con nhìn cuộc đời của Giê-su như thí dụ một người đã trong lọc bốn thể phàm của mình. Giê-su đã đạt được một trình độ biết là thày không hành động với uy lực của riêng thày. Thày không hành động chỉ bằng thân thể vật lý mà thôi. Thậm chí thày cũng không chỉ dùng năng lượng tâm lý, là năng lượng đã được đem vào các cõi bản sắc, tư tưởng và cảm xúc. Giê-su biết là riêng thày không làm gì được (John 5:30) vì chính đấng Cha trong thày đang làm công việc (John 5:17). Đấng Cha bên trong thày là Hiện diện TA LÀ của thày và ánh sáng của Thượng đế. Giê-su biết rằng nếu không có ánh sáng thuần khiết của Thượng đế thì thày sẽ không làm được điều gì có giá trị, không làm được điều gì có giá trị vượt thời gian.

Khi nhận biết điều này, Giê-su mở tâm ra và thanh lọc bốn thể phàm của thày do đó ánh sáng Thượng đế có thể chảy qua bốn thể này và được tâm vỏ ngoài của thày điều khiển. Lẽ dĩ nhiên, tâm của thày hoàn toàn thẳng hàng với sứ vụ thiêng liêng của thày trong kiếp hiện thân đó. Giê-su quả thực đã dùng cả bốn thể phàm của thày khi thày thị hiện điều gì đó. Ví dụ như khi Giê-su đánh thức Lazarus sống lại từ cõi chết (John 11:1), Giê-su còn không vào trong mồ. Thày đứng ngoài mồ, thày tập trung hết sức và thốt lên: “Lazarus, hãy bước ra!” (John 11:43). Khi nói câu này, thày không nói nhẹ nhàng. Thày không cầu nguyện, thày không đòi hỏi. Thực ra, thày chủ trì bốn thể phàm của thày và với tất cả sức mạnh từ toàn thể bản thể, thày ra mệnh lệnh. Mệnh lệnh này có toàn uy lực và cường độ của giọng nói của thày. Giọng nói của thày thấm đậm cường độ của xúc cảm của thày, của tình thương vô điều kiện của thày đối với Lazarus. Cảm xúc của thày biểu hiện trọn vẹn viễn quan tinh khiết thấy Lazarus tỉnh lại và được chữa lành, viễn quan mà thày giữ trong thể lý trí của thày. Giê-su biết một cách chắc chắn tuyệt đối là uy lực của Thượng đế có thể truyền sự sống trở lại cho một thân xác chết. Thể lý trí của thày có uy lực từ cảm nhận bản sắc biết rằng mình là con trai của Thượng đế, là người đồng-sáng tạo với Thượng đế có mặt ở đây để thị hiện đời sống dồi dào trong vũ trụ vật chất. Như Giê-su nói: “Ta tới đây để họ được sự sống, và để họ được sự sống hơn nữa” (John 10:10).

Vì bốn thể phàm của Giê-su thanh khiết, uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua chúng và đánh thức các tế bào và nguyên tử của xác thân Lazarus, thanh lọc chúng khỏi những hình tư tưởng không toàn hảo của bệnh tật và làm cho hồn của ông có thể nhập lại vào thân, lúc ấy đã được thanh lọc khỏi mọi bệnh tật. Thày biết rằng nhiều người ngày nay, ngay cả nhiều tín đồ Ki-tô không chú ý tới các phép lạ của Giê-su hay bác bỏ chúng coi là mê tín. Chúng không phải là sản phẩm của tưởng tượng, những người viết Thánh kinh cũng không thêm chúng vào để nâng cao Giê-su thành một người làm được phép lạ. Những phép lạ này quả thực có thật, chúng là kết quả của việc Giê-su đã thanh lọc bốn thể phàm của thày khiến cho uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua chúng với toàn lực. Qua Giê-su uy lực của Thượng đế có thể làm những điều mà người trong trạng thái tâm thức bình thường xem là phép lạ. Những điều này không là phép lạ, chúng chỉ là quy luật tâm linh cao được thực thi trong vũ trụ vật chất, do đó quy luật này thay thế các quy luật vật chất với những giới hạn của chúng.

Hãy để thày cho con một ý niệm đồng-đo lường uy lực của Thượng đế, uy lực mà bất cứ ai đi con đường quả vị Ki-tô mà Giê-su đã chứng minh đều có được. Một lần nữa, con hãy xem xét lời của Giê-su: “Những ai tin ta, những việc mà ta làm, họ sẽ làm được;  và những việc lớn lao hơn thế nữa, họ cũng sẽ làm được” (John 14:12). Con nghĩ Giê-su hứa suông ở đây chăng? Rất nhiều tín đồ Ki-tô không chú ý tới lời nói này. Thày có thể bảo đảm với con là lời nói này mô tả sự thực là mỗi con người trên trái đất đều có tiềm năng Ki-tô. Nếu con muốn đi theo con đường Giê-su đã đi, con đường vượt qua ngã hữu diệt, đâm chết con rồng của ngã hữu diệt, lúc ấy con có thể làm những gì Giê-su đã làm. Thượng đế có thể làm cùng những việc qua con mà Thượng đế đã làm qua Giê-su. Khi uy lực của Thượng đế tuôn chảy không bị pha loãng xuyên qua bốn thể phàm của con, những điều Thượng đế có thể làm được không giới hạn.

1.2. Uy lực sáng tạo của Thượng đế không thể tuôn chảy qua tâm nhị nguyên tách biệt

Tâm nhị nguyên bắt nguồn từ cảm nhận tách biệt khỏi cội nguồn của con, khỏi Bản thể cao của chính con và Thượng đế. Vì tách biệt, con không tin là Thượng đế có thể làm việc xuyên qua con và do đó con bác bỏ khả năng Thượng đế có thể làm việc xuyên qua con. Các tin tưởng nhị nguyên chồng chất trong bốn thể phàm của con ngăn chặn dòng chảy của ánh sáng Thượng đế và do đó uy lực sáng tạo của con teo lại chỉ còn một phần li ti của tiềm năng thật của nó. Con được thiết kế để uy lực Thượng đế tuôn chảy qua bốn thể phàm của con và khi bốn thể này trong dạng thanh khiết của chúng, chúng có thể cầm giữ uy lực lớn lao như Giê-su đã chứng minh. Khi con đi xuống tâm thức tách biệt và nhị nguyên, uy lực không thể tuôn chảy nữa. Giờ đây, con tin rằng con là người hành động, con hành động với uy lực của chính mình và con có thể hành động độc lập với Thượng đế và ánh sáng của Thượng đế. Mọi thứ đều làm từ Ánh sáng Mẫu-Vật cho nên không thể làm bất cứ gì mà không có ánh sáng Thượng đế. Câu hỏi duy nhất là con hành động với ánh sáng thuần khiết của Thượng đế hay ánh sáng đã bị hạ xuống một quang phổ thấp hơn.

Đây là một sự khác biệt tinh tế mà hầu hết đã không chú ý tới, kể cả nhiều vị thày tâm linh. Khi cảm nhận bản sắc của con trụ vào thân vật lý, con chỉ có thể hành động bằng cách dùng năng lượng rung động trong quang phổ vật lý. Vì tâm thức của con không thể nhìn vượt quá quang phổ này, con không thấy được bất cứ liên hệ nào giữa năng lượng vật chất và Thượng đế. Con không thể thấy được là ngay cả chất vật lý cũng được cấu tạo bằng ánh sáng của Thượng đế, ánh sáng đã được hạ độ rung và khoác lên một hình dạng đặc thù. Con không thấy được là Thượng đế là nguyên nhân duy nhất đằng sau hằng hà biểu hiện. Vì những lời dối trá nhị nguyên đã được lập trình trong tâm con bởi ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian, con chối bỏ hiện diện của Thượng đế ngay nơi con. Sự chối bỏ này ngăn chặn không cho Thượng đế làm việc qua con, vì Thượng đế không bao giờ vi phạm chính Luật Tự quyết của ngài. Khi con vượt qua ảo tưởng tách biệt bằng cách cho phép tâm Ki-tô ở trong con, con nhận ra rằng con, có nghĩa là tâm vỏ ngoài và ngã hữu diệt, không phải là người hành động. Mọi chuyện đều được làm với năng lượng của Thượng đế cho nên Thượng đế luôn luôn là nguyên nhân tối hậu. Con có thể tiếp tục duy trì ảo tưởng tách biệt qua đó con giam mình trong một phần li ti của tiềm năng sáng tạo thực sự của con. Làm như thế là một chọn lựa, không phải là một điều kiện mà một Thượng đế giận dữ áp đặt lên con. Cũng có thể nói nó một điều kiện mà một thượng đế giận dữ áp đặt lên con, thực ra là một thượng đế giả, sinh thể giận dữ ở trên trời, do ông hoàng thế gian và tâm thức tập thể của nhân loại tạo ra. Khi con bắt đầu nắm được chân lý của Ki-tô, con nhận ra con có tiềm năng lấy lại sứ vụ ban đầu của con là người đồng-sáng tạo với Thượng đế thật, chính là Thượng đế nội tại lúc nào cũng mong muốn con đồng sáng tạo đời sống dồi dào mà ngài hình dung cho con. Giê-su đã tới để giải thoát mọi người khỏi những hạn chế của ngã hữu diệt và lý luận nhị nguyên đã giới hạn uy lực Thượng đế nơi họ và ngăn cản Thượng đế làm việc xuyên qua họ.

1.3. Uy lực sáng tạo của người trung bình so với tiềm năng tối đa

Mọi sự đều là rung động, mọi sự đều là năng lượng. Các nhà khoa học của con đo sự rung động của năng lượng bằng cách tính số chu kỳ mỗi giây của sóng năng lượng, được chuyển thành một đơn vị đo lường gọi là Hertz. Thày không nói là những con số thày cho con ở đây nhất thiết là con số thật. Thày chỉ giản dị cho con một ví dụ để cho con thấy sự khác biệt và tỷ lệ giữa điều gì thực sự có thể làm được và điều mà đa số con người hiện nay làm được trên trái đất. Mọi thứ trong bốn tầng của vũ trụ vật chất được làm bằng năng lượng rung động ở một tần số nào đó. Hãy cho rằng ánh sáng thuần khiết của Thượng đế đi vào quang phổ vật chất ở tầng cao nhất của cõi bản sắc, nó rung động ở tần số 100,000 Hz hay chu kỳ mỗi giây. Chức năng tự nhiên của thể bản sắc của con là nó kết tinh năng lượng lỏng của Thượng đế thành một hình ảnh đặc thù hơn về điều nó muốn sáng tạo trong vũ trụ vật chất. Khi làm thế, thể bản sắc của con hạ thấp tần số của năng lượng. Trong kịch bản lý tưởng, năng lượng được hạ thấp xuống tần số 75,000 Hz, sau đó nó chảy xuống cõi tư tưởng, quang phổ lý trí. Lúc ấy tư tưởng của con lấy bản thiết kế tổng quát tạo ra trong thể bản sắc và tư tưởng làm cho nó đặc thù hơn nữa, qua đó bản thiết kế này được hạ tần số thấp hơn cho tới khi nó đạt tới mức rung động 50,000 Hz. Ở tần số này, nó chảy vào tầng cao nhất của cõi cảm xúc. Cảm xúc của con lúc ấy làm cho kế hoạch của tư tưởng đặc thù hơn nữa và cho nó một định hướng rõ ràng. Điều này hạ giảm tần số xuống 25,000 Hz, sau đó năng lượng đi vào cõi vật lý, quang phổ vật lý.

Cõi vật lý, quang phổ vật lý, bao gồm các rung động từ 1 tới 25,000 Hz. Có nghĩa là trong kịch bản lý tưởng, tâm ý thức của con sẽ đồng sáng tạo bằng cách điều khiển ánh sáng rung động ở tần số 25,000 Hz hay thấp hơn mức này một chút. Mọi thứ trong vũ trụ vật chất được tạo ra từ Ánh sáng Mẫu-Vật được khuấy động thành rung động bởi sức sáng tạo của Cha. Lực sáng tạo này tuôn chảy qua Giê-su khi thày đánh thức Lazarus tỉnh dậy từ cõi chết. Chính uy lực sáng tạo của Thượng đế đã tuôn chảy qua bốn thể phàm của Giê-su và tác động lên Ánh sáng Mẫu-Vật là chất cấu tạo các tế bào và phân tử của thân thể Lazarus. Vì uy lực sáng tạo có thể tuôn chảy không pha loãng, uy lực của Thượng đế đi vào cõi vật chất ở mức rung động tối đa 25,000 Hz. Do đó uy lực của Thượng đế có sức mạnh để truyền ánh sáng trở lại vào các tế bào chết của thân Lazarus.

Quả thực, một người có thể có uy lực điều khiển ánh sáng ở tần số 25,000 Hz. Đây là tiềm năng sáng tạo cao nhất của một người trên trái đất. Nếu con xem Ánh sáng Mẫu-Vật giống như đại dương và cách con thị hiện mọi sự trong vũ trụ vật chất là khuấy động đại dương của Ánh sáng Mẫu-Vật thì hiển nhiên là con càng có nhiều uy lực đằng sau các nỗ lực của con thì con có thể sáng tạo những ngọn sóng lớn hơn và do đó con có nhiều uy lực hơn để thị hiện mọi sự.

Để so sánh, uy lực mà Giê-su có để thị hiện điều gì đó là do tâm ý thức của thày có thể cầm giữ và điều khiển ánh sáng rung động ở tần số 25,000 Hz. Điều này đáng kể vì nếu con có thể điều khiển một sóng ánh sáng có tần số rất cao chĩa vào một dòng sóng ánh sáng có tần số thấp hơn hẳn, con có thể nâng độ rung của ánh sáng có tần số thấp. Khi Giê-su đánh thức Lazarus tỉnh dậy từ cõi chết, thày điều khiển một sóng ánh sáng có tần số rất cao vào các sóng ánh sáng cấu tạo nên thân thể Lazarus. Dù các sóng ánh sáng của thân thể Lazarus đã đi xuống một tầng rung động rất thấp là tầng rung động của vật chất chết cứng, uy lực của Giê-su mạnh đến độ nó có thể thay đổi mức rung động của các sóng tần số thấp này. Các sóng này trở lại rung động ở mức có thể hỗ trợ sự sống ý thức và điều này truyền lại sự sống vào thân thể Lazarus, khiến cho hồn của ông có thể đi vào thân thể trở lại. Nếu con có uy lực đó, con có thể truyền lại sức sống vào hoàn cảnh tài chánh của con và vượt qua bất cứ giới hạn nào mà con đang đối mặt.

Uy lực sáng tạo của Giê-su ở mức 25,000 Hz. Đây là mức tâm thức thày đạt được nhờ bốn thể phàm của thày thanh khiết và do đó chúng có thể là ống dẫn hay dụng cụ biến thế cho lượng uy lực tối đa. Để con có ý niệm so sánh, một người trung bình trên hành tinh trái đất hiện nay không có khả năng điều khiển ánh sáng rung động với tần số cao hơn 1,000 Hz với tâm ý thức của họ. Nhiều người không có khả năng cầm giữ ánh sáng rung động cao hơn 500 Hz trong tâm họ. Điều này cho thấy sự khác biệt lớn lao giữa uy lực sáng tạo của người trung bình và uy lực sáng tạo của Giê-su. Thày đang không tìm cách đưa Giê-su lên bệ cao. Ngược lại thày đang cố giúp con chấp nhận tiềm năng thực của con bằng cách đề cập tới Giê-su như một ví dụ của một người không giới hạn khả năng của Thượng đế làm việc xuyên qua mình. Có thể con nhìn vào sự khác biệt và nghĩ con không thể thu hẹp khoảng cách giữa mức nhận biết hiện tại của con và tâm thức Giê-su. Đây là một ảo tưởng bởi vì bốn thể phàm của con được thiết kế để cầm giữ ánh sáng rung động ở mức thày mô tả. Cho dù con chưa tưởng tượng mình có thể sử dụng uy lực mà Giê-su chứng tỏ, con nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu con nhân đôi mức uy lực hiện tại của con. Mục đích này phải là điều ai cũng làm được và lẽ hiển nhiên nó sẽ đẩy mạnh nỗ lực của con để thị hiện đời sống dồi dào. Thày cho con hai mục tiêu, tiềm năng cao nhất và mục tiêu trung gian. Con hãy nỗ lực để nhân đôi uy lực hiện tại của con, và sau đó dùng nó làm bàn đạp để đạt được nhiều hơn nữa.

Nhiều khoa học gia nói hiện nay con người dùng từ 5% tới 10% khả năng não bộ của mình. Nếu con lấy một thiết bị được thiết kế để dùng điện 220 Volt và cắm vào ổ điện 110 Volt, thì thiết bị sẽ không chạy được, giản dị vì không đủ năng lượng điện cho nó chạy. Có những trung tâm não bộ của con được thiết kế để hoạt động với năng lượng ở tần số cao, nghĩa là não bộ vật lý của con được thiết kế  để làm ống dẫn cho năng lượng cao tới 25,000 Hz. Nếu không có năng lượng ở tần số đó đi vào não bộ vật lý của con từ thể tình cảm, các trung tâm não bộ này sẽ ngủ yên vì không có đủ điện lực cao để kích động chúng. Các chức năng cao của não bộ đang ngủ yên với hầu hết con người. Nếu con quả thực biểu hiện đời sống dồi dào, con cần tinh lọc bốn thể phàm để con có thể trở về trạng thái tự nhiên, khi uy lực của Thượng đế có thể tuôn chảy qua bốn thể phàm mà không bị pha loãng và hạ giảm thấp hơn mức rung động tự nhiên. Khi con thanh lọc bốn thể phàm của con, tâm ý thức của con sẽ nhận thêm nhiều năng lượng có tần số cao và do đó con gia tăng cường uy lực sáng tạo của con.

1.4. Mất kết nối với thực tại Ki-tô đưa tới đời sống vật lộn

Điều gì hạ giảm lượng uy lực tới được tâm ý thức của con? Nguyên nhân là những điểm tắc nghẽn nơi bốn tầng của tâm con, nơi các thể bản sắc, lý trí và cảm xúc và ở tâm vật lý của con – các tầng tâm mà một số tâm lý gia gọi là tâm tiềm thức của con. Những điểm nghẽn này sẽ ngăn cản ánh sáng tuôn chảy xuyên qua các thể này hoặc hạ độ rung của ánh sáng và do đó hạ giảm uy lực của ánh sáng. Có thể có những điểm tắc nghẽn ở mọi tầng của tâm phàm và đây quả thực là trường hợp của hầu hết mọi người trên hành tinh trái đất. Với hầu hết, vấn đề thực sự là các điểm tắc nghẽn trong thể bản sắc của họ. Nếu một người tin họ là một người hữu diệt, bị hạn chế trong những gì thân vật lý làm được, và nếu tin tưởng này ăn sâu trong thể bản sắc của họ, ánh sáng Thượng đế chảy xuyên qua thể bản sắc của người đó sẽ bị hạ giảm nhiều hơn rất nhiều so với sự hạ giảm tự nhiên từ 100,000 xuống tới 75,000 Hz. Hầu hết mọi người trên trái đất có những tin tưởng trong thể bản sắc hạ giảm rung động của ánh sáng Thượng đế từ 100,00 xuống tới dưới 2,000 Hz.

Điều gì giúp cho con sống, điều gì giúp bốn thể phàm hoạt động, chính là ánh sáng của Thượng đế tuôn chảy xuyên qua chúng. Ánh sáng thuần khiết của Thượng đế đi vào thể bản sắc ở độ rung 100,000 Hz. Nếu thể bản sắc thể hạ độ rung đó xuống 2,000 Hz, uy lực sáng tạo của con ngay từ đầu đã bị hạ giảm trầm trọng. Ngay cả trước khi năng lượng đi vào thể tư tưởng, nó đã bị hạ giảm xuống một mức rất thấp do đó tư tưởng con đã bị giới hạn trong khả năng của chúng. Sau đó tư tưởng của con sẽ hạ giảm rung động thêm nữa và do đó năng lượng đi vào thể cảm xúc ở một mức thấp hơn nhiều so với tự nhiên. Điều này hạ giảm uy lực cảm xúc của con. Vai trò của cảm xúc là đem lại định hướng và động lượng cho những gì tư tưởng của con thiết kế. Như thày đã giải thích trong trường hợp Giê-su vực Lazarus sống dậy, cần năng lượng ở một tần số cao để có thể truyền ánh sáng vào các tế bào chết. Nếu con không có tần số ánh sáng đó trong thể cảm xúc và tâm ý thức của con, thì có gì lạ không khi các mục tiêu của con không hiển thị được? Có gì lạ không khi các tế bào thân thể của con dần dà không còn khả năng cầm giữ sinh lực sống và do đó biểu hiện bệnh tật và tuổi già? Bệnh tật, tuổi già và cái chết vật lý một phần do sự hạ giảm uy lực ánh sáng khi nó xuống tới quang phổ của thân vật lý của con. Rốt cuộc thân thể hao mòn và không thể hoạt động đúng đắn thậm chí không thể sống còn. Hầu hết con người trên hành tinh này đã hạ giảm uy lực sáng tạo nhiều đến độ chỉ đủ ánh sáng tuôn chảy xuyên qua bốn thể phàm để sống còn. Đó là lý do tại sao rất nhiều người cảm thấy cuộc sống là một vật lộn, như là họ chỉ đang sống sót. Họ chỉ sống sót vì họ chỉ còn chút xíu ánh sáng tuôn chảy xuyên qua bốn thể phàm để giữ cho xác thân và tâm ý thức hoạt động. 

Tình trạng tương tự một thiết bị mà dòng điện bị hạ giảm đến độ thiết bị hầu như không quay nổi. Con hãy tưởng tượng một máy giặt quay quá chậm tới độ cần hai ngày để giặt xong một tải đồ giặt. Con sẽ nói chắc chắn máy giặt bị hư nhưng vì hầu hết con người chưa bao giờ trải nghiệm tiềm năng thực của họ, chưa bao giờ thấy người nào sinh hoạt với tiềm năng thực, nên họ cho rằng tình trạng uy lực giảm thiểu của họ là bình thường. Họ nghĩ điều ấy không thể tránh, họ nghĩ đấy tiềm năng thực của họ. Thực tế là nó thấp xa tiềm năng thực của họ đến độ một người thày tâm linh như thày đôi khi cảm thấy như muốn bóp chặt tay mình trong tuyệt vọng, đặc biệt khi nghe một số người nói rằng tình trạng vật lộn hiện thời của họ là bình thường, tự nhiên, không thể tránh hay thậm chí còn do Thượng đế muốn thế.

Điều này gần như không thể tin nổi và hơn lúc nào hết minh chứng điều gì có thể xảy ra khi con người đi xuống tâm thức nhị nguyên và đánh mất mọi cảm nhận nối kết với thực tại của tâm Ki-tô. Thực tại của tâm Ki-tô là con có khả năng sử dụng ánh sáng rung động ở mức 25,000 Hz. Với mức uy lực sáng tạo hiện nay của con, có thể là con chỉ sử dụng được ánh sáng trên 1,000 Hz và đấy chỉ là bốn phần trăm của tiềm năng trọn vẹn của con. Nếu con biết và thực sự tin là con có thể gia tăng uy lực sáng tạo tới mức mà Giê-su đã chứng minh, hiển nhiên là con sẽ cố gắng gia tăng uy lực sáng tạo của mình. Nguyên nhân duy nhất khiến con người chối bỏ tiềm năng tận dụng uy lực sáng tạo chỉ có thể là vì họ đã bị mắc kẹt quá sâu trong tâm thức nhị nguyên đến độ hoàn toàn đánh mất ý niệm đồng-đo lường. Họ đánh mất tiêu chuẩn Ki-tô minh chứng có cái gì đó khác với tình trạng vật lộn và khổ đau hiện thời của họ. Con thấy chăng sự trớ trêu khi rất nhiều tín đồ Cơ đốc tôn thờ Giê-su nhưng lại coi thày là người con trai duy nhất của Thượng đế và do đó là người duy nhất có thể đạt được uy lực sáng tạo đó. Mục đích chính của sứ vụ Giê-su là minh chứng mức uy lực sáng tạo bình thường và tự nhiên của tất cả mọi người. Coi Giê-su như người con trai duy nhất của Thượng đế là sự bẻ quẹo hoàn toàn ý định thực đằng sau sứ vụ Giê-su. Vì nó trực tiếp đi ngược sứ vụ Ki-tô, nên nó chỉ có thể phát xuất từ một chỗ, chính là tâm phản Ki-tô. Chỉ có tâm phản Ki-tô mới có thể phá hủy gương của Giê-su bằng cách biến thày thành một thần tượng và đặt thày lên cái bệ vượt khỏi tầm với của bất kỳ con người nào.

1.5. Con cần giải trừ cái mà con đã tạo ra

Con yêu dấu, con cảm nhận được chăng lòng từ bi và nhiệt huyết của thày về điều này? Có rất nhiều người cầu nguyện thày mỗi ngày và đọc các bài nguyện của thày. Họ cầu nguyện thày như cầu vị thần trong chai. Khi đọc bài nguyện, họ chờ đợi thày sẽ nhảy ra khỏi chai và giải quyết mọi vấn đề của họ thay cho họ. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết và thày không có thẩm quyền và thày cũng không có ý muốn phủ quyết quyền tự quyết của con. Thày không thể giải thể cái mà con đã tạo ra vì đấy là việc làm của con, và đấy là cách duy nhất để con học từ những quyết định quá khứ của mình và qua đó khắc phục hình ảnh giới hạn về mình. Làm sao con có thể trở thành một sinh thể tâm linh tự túc bằng cách để cho thày giải quyết mọi vấn đề hộ con? Điều thày có thể làm được là chỉ cho con cách tăng cường uy lực sáng tạo của mình để con có thể – xuyên qua uy lực Thượng đế bên trong con – khắc phục cảm nhận vật lộn. Con có thể thay thế tất cả những vật lộn bằng vòng xoáy đi lên mà con tạo dựng khi con nhân lên các khả năng mà Thượng đế đã ban cho con. Đây là điều thày có thể làm, nhưng nó đòi hỏi con phải bỏ phương pháp cầu nguyện thụ động và thụ động chờ đợi thày làm việc hộ con. Thay vì cầu nguyện xin thày giải quyết các vấn đề hộ cho con, con phải cầu nguyện thày và nói: “Mẹ Mary, hãy chỉ cho con cách tăng cường uy lực sáng tạo của con để uy lực Thượng đế bên trong con có thể loại bỏ giới hạn này.” Điều này thày có thể làm, điều này thày sẽ làm, nếu con chịu mở tâm và trái tim ra đón nhận sự hướng dẫn nội tâm của thày và sự hướng dẫn nội tâm của cái ta Ki-tô của con. Các thày sẵn sàng chỉ cho con làm sao bước được bước kế trên cầu thang xoắn ốc cho tới khi con trở lại đỉnh cầu thang và thấy ánh sáng của Hiện diện TA LÀ của con tỏa rạng xuyên qua bốn thể phàm. Ánh sáng này có thể tuôn chảy qua các thể phàm của con và tạo ra trong cõi vật chất những điều mà tâm nhị nguyên coi là phép lạ. Đây là ước muốn của thày, đây là tâm huyết của thày.

1.6. Ba tầng cao ngăn chặn viễn kiến có ý thức

Làm sao con bắt đầu tiến trình thanh tẩy bốn thể phàm? Con hãy để thày bắt đầu giúp con hiểu tận tường hơn cách bốn thể phàm chuyển hóa ánh sáng thành hình tướng vật lý. Hãy cho rằng con đi tới kết luận muốn biểu hiện nhiều dồi dào hơn trong cuộc sống và con quyết định dùng một phương pháp tích cực. Con đã học một số thuyết chỉ cách dùng uy lực của tâm để thu hút dồi dào. Con đã chọn một tâm thái tích cực, quy định tầm nhìn rõ ràng và vẽ ra bản đồ kho tàng về những gì con muốn. Giờ đây mỗi ngày con làm nghi thức chú tâm vào viễn kiến mà con nhắm tới. Con đọc lời khẳng định hay cầu nguyện để tạo ra làn sóng năng lượng sẽ giúp con biểu hiện điều con hình dung hay giúp con thu hút nó về con. Nhiều người đã dùng cách tương tự để đem lại dồi dào trong cuộc sống của họ, tuy họ có thể dùng vài bước khác với những gì thày vừa mô tả. Thày không nói cách này không có giá trị. Thày chỉ muốn con hiểu điều gì cần xảy ra để cách này hiệu nghiệm. Vũ trụ là một tấm gương cho nên nếu con phóng ra một sóng năng lượng tích cực kết tinh lại chung quanh một viễn kiến đặc thù thì viễn kiến này phải được tấm gương vũ trụ phản chiếu ngược lại cho con như là hoàn cảnh vật lý. Điều này đúng thực, nhưng chúng ta có thể có một cái nhìn sâu sắc hơn về tiến trình đó. Trước khi năng lượng được gửi trả về con như hoàn cảnh vật lý, nó phải đi qua bốn tầng của vũ trụ vật chất kể cả bốn thể phàm của con. Nếu ở bất cứ tầng nào có bất cứ điều gì có thể vô hiệu hóa năng lượng tích cực của con hay chống lại viễn kiến dồi dào của con, uy lực của nỗ lực của con có thể bị giảm thiểu hay hoàn toàn bị ngăn chặn. Nếu con là căn nhà bị phân rẽ, con có những tin tưởng hay năng lượng bị tha hóa nơi tâm bản sắc, tư tưởng, cảm xúc hay tâm tiềm thức của con và chúng sẽ chống lại viễn kiến mà con đã hình thành trong tâm ý thức của con. Trừ khi con gỡ bỏ những chướng ngại này, đơn giản là nỗ lực của con sẽ không thành công. Con có thể tiếp tục phóng năng lượng tích cực từ tầng tâm ý thức nhưng chúng đều bị vô hiệu hóa ở các tầng cao hơn của chính tâm con. Nó sẽ không bao giờ quay ngược trở về cõi vật lý dưới hình dạng hoàn cảnh mà con mong muốn.

Cho tới giờ thày đã cho con một hình ảnh khá đường thẳng về bốn thể phàm của con. Thày đã nói ánh sáng Thượng đế trước tiên chảy xuống thể bản sắc và độ rung của ánh sáng dần dần giảm xuống. Sau đó ánh sáng đi vào thể tư tưởng, rồi vào thể cảm xúc và cuối cùng xuống tới thể vật lý. Thày biết chắc nhiều người đọc bài giảng này sẽ mường tượng một tiến trình đường thẳng với ánh sáng tuôn chảy theo một đường thẳng. Nghĩa là sẽ có một khoảng trống giữa tâm ý thức và tâm bản sắc của con. Nhưng thực ra, cuộc sống không đường thẳng mà giống quả cầu và mọi thứ phụ thuộc nhau. Để cho con một hình ảnh khác, tuy vẫn là hình ảnh đường thẳng, thày đề nghị con mường tượng một mặt đồng hồ. Đường chỉ 12 giờ tượng trưng cho tầng cao nhất của thể bản sắc của con. Ánh sáng trước tiên đi vào bốn thể phàm ở đường chỉ 12 giờ. Nếu con vẽ một đường từ 12 tới 6, con chia mặt đồng hồ thành hai nửa. Nếu con vẽ một đường khác từ 3 tới 9, con chia mặt đồng hồ thành bốn phần. Bây giờ con tưởng tượng mỗi phần tư của mặt đồng hồ tượng trưng cho một trong bốn thể phàm của con. Phần tư đầu tiên giữa 12 tới 3 tượng trưng cho thể bản sắc và ánh sáng bắt đầu chảy vào số 1 và sau đó tới số 3. Sau đó nó đi vào thể tư tưởng, chảy từ 3 tới 6, rồi đi vào thể cảm xúc và chảy tới số 9, nơi đây nó đi vào thể vật lý hay đúng hơn tâm vật lý. Khi ánh sáng chảy từ 10 tới 11 và tiếp tục đi xa hơn, chuyện gì xảy ra? Con đi hết vòng tròn và con trở lại điểm 12, có nghĩa là tâm ý thức của con không tách biệt khỏi thể bản sắc bởi một hố ngăn cách. Bốn thể phàm nối kết nhau và một hình ảnh còn đúng hơn hình ảnh mặt đồng hồ là thể bản sắc là một quả cầu, thể tư tưởng là một quả cầu nhỏ hơn nằm trong quả cầu rộng hơn của thể bản sắc, và tiếp tục như thế tới tâm vật lý. Tâm ý thức là một quả cầu nhỏ hơn nằm bên trong các quả cầu lớn hơn của các tầng khác của tâm. 

Con hãy tưởng tượng con bắt đầu ở mức tâm ý thức và tạo ra viễn kiến dồi dào mà con muốn biểu hiện trong cuộc sống. Sau đó con dùng các lời khẳng định và cầu nguyện để thấm đậm viễn kiến này với năng lượng. Muốn cho năng lượng con phóng ra được tấm gương vũ trụ phản ánh lại thành hoàn cảnh vật lý mà con hình dung, năng lượng này phải chảy xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Mỗi tầng mà năng lượng chảy qua, viễn kiến của con phải đi qua phin lọc của những niềm tin mà con cầm giữ ở tầng đó của tâm con. Rất có thể viễn kiến bị ngăn chặn hay bóp méo bởi các niềm tin này và sức mạnh của năng lượng bị hạ giảm bởi những năng lượng bất toàn được tích lũy nơi các tầng cao của tâm. Ví dụ, nếu thể bản sắc của con giữ hình ảnh con là người tội đồ khốn khó không xứng đáng được dồi dào của Thượng đế, viễn kiến ý thức của con có thể bị vô hiệu hóa hoàn toàn bởi tin tưởng đó trước khi nó bắt đầu đi xuống thấp hơn để tới biểu hiện vật lý. Các niềm tin ở mỗi tầng của tâm là khung tham chiếu quyết định có nên thực thi xung lực đó, có nên gửi xung lực đó xuống tầng kế tiếp. Khi con gửi viễn kiến từ tâm ý thức, đầu tiên hết nó đi qua thể bản sắc của con. Nếu thể này có niềm tin là viễn kiến của con không thể biểu hiện được, lẽ hiển nhiên nó không thể đi xa hơn nữa.

1.7. Bất toàn ở ba thể cao ngăn chặn hay giảm thiểu xung lực do tâm ý thức phóng ra

Khi con tạo ra viễn kiến dồi dào, viễn kiến này chỉ biểu hiện được nếu nó vượt quá tầng vật lý. Nếu ý niệm bản sắc của con hoàn toàn giới hạn trong tâm vật lý và thể vật lý, con chỉ có thể làm việc với năng lượng trong cõi vật chất. Viễn kiến về điều con muốn thành tựu không thể đi xa hơn tầng năng lượng mà con có thể tác động với thân vật lý và tâm vỏ ngoài của con. Làm sao các nỗ lực hình dung dồi dào của con đạt được bất cứ điều gì vượt quá những điều mà con có thể làm được rồi với thân vật lý của mình?

Khi con mở tâm ra để sử dụng uy lực của viễn kiến, con gửi ra ngoài một xung lực năng lượng vượt quá thân vật lý. Giờ đây con tin rằng đời sống nhiều hơn những gì thấy được nơi cõi vật lý và phải có một phương cách biểu hiện dồi dào cao hơn là dùng thân thể. Con tạo ra một xung lực năng lượng đi từ tâm ý thức của con vào thể bản sắc. Nếu xung lực năng lượng này có thể chảy qua các tâm bản sắc, tư tưởng, cảm xúc và vật lý của con mà không bị ngăn chặn hay pha loãng, viễn kiến mà con muốn đạt được sẽ được biểu hiện ngay tức khắc như một thực tại vật lý của con. Đó là điều con thấy trong cuộc đời Giê-su. Giê-su quả thật đưa ra mệnh lệnh vật lý muốn nước biến thành rượu và điều này hiện thực ngay lập tức, y như Lazarus ngay lập tức thức dậy từ cõi chết khi Giê-su ra lệnh. Khi con cố gắng biểu hiện dồi dào, con tạo ra một xung lực năng lượng chảy vào thể bản sắc của con. Nơi thể bản sắc, một trong hai điều có thể xảy ra. Nếu thể bản sắc của con trong sáng, nếu viễn kiến ý thức của con thẳng hàng với viễn kiến Ki-tô cho cuộc đời con, xung lực năng lượng của con sẽ thấm đậm uy lực không bị pha loãng của Thượng đế hiện hữu trong thể bản sắc của con. Xung lực năng lượng này mạnh hơn nhiều xung lực mà con có thể tạo ra với tâm ý thức của con.

Nếu thể bản sắc của con bị nhiễm bẩn bởi một hình ảnh bất toàn về mình, xung lực năng lượng của con sẽ yếu đi. Xung lực có thể bị hoàn toàn ngăn chặn bởi ý niệm mình là một con người hữu diệt không có uy lực biểu hiện dồi dào. Có thể con có ý niệm mình là người tội đồ khốn khổ không xứng đáng nhận được điều mà tâm ý thức của con mong ước. Hoàn toàn có thể là nỗ lực biểu hiện dồi dào của con, tất cả nỗ lực đầy tâm huyết và thiện ý của con khi dùng lời khẳng định, cầu nguyện và dùng uy lực hình dung đều bị ngăn chặn ở tầng thể bản sắc của con.

Cũng có thể là một phần năng lượng con tạo ra với tâm ý thức sẽ được gửi tới thể tư tưởng của con sau khi đi qua thể bản sắc. Năng lượng này có thể bị pha loãng, có thể được tăng cường nhưng nó đi vào được tầng tư tưởng. Chuyện gì xảy ra nếu con có ý tưởng không toàn hảo trong thể tư tưởng? Những ý tưởng này có thể ngăn chặn hoàn toàn năng lượng hoặc chúng có thể giảm thiểu hay thay đổi viễn kiến. Cũng vậy khi năng lượng xuống được tới thể cảm xúc của con, những cảm xúc bất toàn như sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hay hổ thẹn có thể ngăn chặn hay giảm thiểu xung lực năng lượng. Ở tầng tâm vật lý của con, những lớp tiềm thức có thể ngăn chặn hay bóp méo năng lượng. Nếu có phần nào của năng lượng đi qua được tất cả các tầng của tâm con, nó sẽ đi vào cõi vật lý nhưng nó có phải là một xung lực mạnh lơn xung lực con đã gửi ra lúc ban đầu?

Nhiều người đã tới kết luận họ cần và muốn biểu hiện nhiều dồi dào hơn và họ có thể dùng uy lực của tâm để thể hiện điều này. Hầu hết những người này có đôi phần tâm linh cho nên mức nhận biết của họ cao hơn người thường. Giả dụ một người có khả năng dùng tâm ý thức để phóng ra một xung lực năng lượng rung động ở mức 2,000 Hz. Mức này khá cao so với người trung bình hiếm khi đi quá 1,000 Hz. Xung lực năng lượng này giờ đây đi vào bản sắc thể của người đó và vì người đó tâm linh hơn, ta hãy nói rằng xung lực năng lượng được nhân lên gấp đôi như Giê-su đã hứa hẹn trong câu truyện ngụ ngôn về sự nhân lên các đồng ta-lăng (hay khả năng). Giờ đây năng lượng lên tới 4,000 Hz và nó đi vào thể tư tưởng của người đó. Tình trạng tự nhiên là năng lượng từ thể bản sắc đi vào thể tư tưởng ở tần số 75,000 Hz. Như vậy chúng ta vẫn có ở đây một sự khác biệt vĩ đại so với tiềm năng thật sự của người đó. Bây giờ ta hãy cho rằng người đó có một số niềm tin không toàn hảo trong thể tư tưởng khiến xung lực bị hạ giảm. Nó không bị ngăn chặn nhưng sức mạnh bị hạ xuống còn 3,000 Hz và sau đó nó đi vào thể cảm xúc. Nơi đây có một số vết thương cảm xúc hạ giảm năng lượng thêm nữa. Thêm vào đó còn có một số vấn đề chưa được giải quyết trong tâm tiềm thức. Khi xung lực năng lượng trở lại cõi vật lý, nó trở về mức 2,000 Hz. Người này không nhân lên được uy lực sáng tạo của xung lực năng lượng và do đó, người này đang thực sự dậm chân tại chỗ mà chẳng đi tới đâu cả.

1.8. Không có giải pháp nhanh chóng

Thày đã quan sát hàng triệu người thành tâm đã học hỏi một kỹ thuật dồi dào nào đó, đã áp dụng nó bằng cách hình dung, nói lời khẳng định hay cầu nguyện. Họ nghĩ chúng sẽ đem lại dồi dào cho họ như các đạo sư dồi dào đã hứa hẹn. Trong một thời gian, họ hăng say làm những bài hình dung, nói lời khẳng định, cầu nguyện và họ nuôi hy vọng rất cao là trong phút chốc sự dồi dào mà họ mong muốn sẽ được biểu hiện. Vô số đã thất vọng và tim thày đau nhói khi thấy lòng hăng hái của họ tan biến và họ rốt cuộc cảm thấy nản chí và vỡ mộng. Cuối cùng họ chấp nhận điều mà ngã hữu diệt và ông hoàng thế gian đã nói với họ ngay từ đầu là, như những con người bình thường khác, họ không có uy lực biểu hiện dồi dào từ không khí.

Nỗi đau nhói trong tim thày đã là một trong những động cơ chính thúc đẩy thày cho ra đời khóa học này. Nếu những người đó chịu quyết tâm nỗ lực thanh lọc bốn thể phàm của họ, thì nỗ lực biểu hiện dồi dào của họ sẽ không bị chính tâm họ ngăn chặn. Họ sẽ gia tăng uy lực sáng tạo của họ và dù rằng họ cần thời gian, cuối cùng họ sẽ bắt đầu thấy kết quả thực sự của tiến trình này.

Nhiều người bắt đầu tiến trình biểu hiện dồi dào vì tuyệt vọng, vì cảm thấy bị dồn vào chân tường và cảm thấy cần làm gì khác hơn để thoát nợ nần hay thoát cơn khủng hoảng này hay cơn khủng hoảng nọ. Thày muốn con nhìn vào yếu tố tâm lý đang vận hành ở đây. Nhiều người đã chấp nhận mức dồi dào hiện nay của họ là tất cả những gì họ xứng đáng hoặc họ có khả năng có. Họ đã tới mức cam phận chịu tình trạng dồi dào hiện nay của họ, hay đúng hơn là tình trạng thiếu thốn. Họ chấp nhận địa vị của họ trong cuộc sống và nghĩ họ không thể có gì khá hơn. Những người này sẽ không làm gì hết để biểu hiện dồi dào và hiển nhiên họ không có hy vọng tăng cường uy lực sáng tạo của họ. Con cũng có một nhóm người khác tới điểm quyết định họ phải làm gì khác. Khi tới quyết định trong tâm thái tuyệt vọng, khi phải đối mặt một khủng hoảng, họ muốn có kết quả nhanh chóng và tức khắc. Nếu không toại nguyện ngay tức khắc thì họ thường nản chí.

Những người tuyệt vọng thường dễ tin lời hứa hẹn của những đạo sư dồi dào đã tìm ra cách bán hàng bằng cách thao túng thể cảm xúc con người. Một số các vị đó nhận thấy là khi con người tuyệt vọng, họ muốn chộp cơ hội thoát ra nhanh chóng. Đạo sư nào đưa ra hứa hẹn tỉ mỉ nhất sẽ thu hút những người tuyệt vọng nhất. Kỹ thuật của các đạo sư dồi dào này không hữu hiệu nên học viên càng tuyệt vọng thêm, nhưng ít nhất về phía đạo sư, ông đã được học viên chọn và ông cũng đã hưởng thù lao cho mình trên công sức học viên. Ông cũng đã chứng minh hệ thống của ông hiệu quả – cho ông.

Trong khóa học này, thày không có ý định cống hiến cho con một giải pháp đi tắt. Thày không cống hiến một giải pháp đi tắt vì không có giải pháp đi tắt. Nếu con muốn biểu hiện dồi dào thật sự trong cuộc sống, thì con chỉ có một cách. Đó là cách con thanh tẩy một cách có hệ thống bốn thể phàm của con, vứt đi những niềm tin không toàn hảo và những năng lượng không thanh khiết đang ngăn chặn dòng chảy của dồi dào Thượng đế vào cuộc đời con. Nếu con sẵn sàng đi vào tiến trình này, thày thểsẽ giúp con. Thày sẽ cho con những dụng cụ cần thiết để thanh lọc bốn thể phàm như thày đã làm với các bài thỉnh đã công bố trước đây.

Con sẽ cần thời gian để thanh tẩy bốn thể phàm và lý do là những điểm nghẽn ánh sáng trong đó không được tạo ra một sớm một chiều. Một số được tạo ra trong tuổi thơ ấu và được củng cố suốt đời. Một số khác được tạo ra từ các kiếp trước, có thể là nhiều kiếp trước và do đó chúng đã được củng cố qua nhiều thế kỷ và thiên niên kỷ trong hành trình của con trên trái đất. Một số điểm tắc nghẽn được tạo ra ngay lúc con bắt đầu đi xuống tâm thức nhị nguyên và một số điểm tắc nghẽn đã ở với con từ lúc ngã hữu diệt được tạo ra.

Không dụng cụ nào có thể thiêu rụi các điểm tắc nghẽn đó trong giây lát. Ngay cả nếu một dụng cụ như vậy hiện hữu, thì đốt tan các niềm tin bất toàn trong giây lát sẽ khiến ý niệm bản sắc của con vỡ tan và con rơi vào khủng hoảng bản sắc, không còn biết mình là ai nữa. Điều này quả thực đã xảy ra cho những người đã tìm cách ép uổng tăng trưởng tâm linh bằng những biện pháp bất quân bình. Những dụng cụ thày cho con rất quân bình và do đó rất an toàn. Thày cho con những kỹ thuật mạnh đến độ con có thể tiêu trừ những điểm tắc nghẽn đã có mặt trong bốn thể phàm từ cả ngàn năm và con có thể làm điều này trong vòng vài tháng hay vài năm.

Trên trái đất này không có kỹ thuật nào mạnh đến độ có thể biến con thành một người toàn hảo ngay tức khắc. Đó là lý do vì sao thày đề ra một con đường tâm linh. Đó là lý do vì sao thày nói cứ mỗi bước con đi xuống cầu thang xoắn ốc và đi sâu hơn vào tâm thức nhị nguyên, thì con phải bước một bước ngược trở lên và dần dần leo lên cao. Không có con đường tắt bởi vì những năng lượng đã bị niềm tin tưởng bất toàn tha hóa phải được hoàn nguyên về trạng thái thuần khiết ban đầu trước khi con thoát khỏi chúng, trước khi chúng không còn ngăn chặn sự biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong cuộc sống của con nữa. Điều này hoàn toàn khoa học, thậm chí nó là một tiến trình phần nào máy móc mà ai ai cũng hoàn tất được với những dụng cụ thích hợp. Tiến trình thanh lọc cần thời gian và do đó nó không thể đem lại kết quả ngay tức khắc cho hầu hết con người. Nó đòi hỏi con phải quyết tâm và với hầu hết nó đòi hỏi sự cam kết tu tập trọn đời. Thày không nói con cần hết quãng đời còn lại mới thấy kết quả. Thày muốn nói là tiến trình leo lên cầu thang xoắn ốc phải được tiếp cận như một công việc hứng thú trọn đời. Suốt quãng đời còn lại của con trên trái đất, con sẽ tiếp tục leo từng bước một trên cầu thang này. 

1.9. Kiên định theo tiến trình lâu dài, có ý thức và cố ý

Có thể là con đã bắt đầu tiến trình này từ các kiếp trước và con đã gần tới đỉnh cầu thang hơn con tưởng. Cũng có thể là trước khi con rời trái đất, con sẽ có thể biểu hiện một mức tâm thức Ki-tô cao, ngay cả mức tâm thức Ki-tô trọn vẹn như Giê-su đã chứng minh. Khi đó con có thể đi trên mặt đất trong tự do tâm linh thật sự, nghĩa là con không còn các điểm nghẽn nữa trong bốn thể phàm. Trong trạng thái tâm của con hiện nay, con không thể biết còn bao xa con tới đỉnh cầu thang xoắn ốc và đó là lý do tại sao thày muốn con chú ý tới một trong những lời nói quan trọng nhất của Giê-su: “Nhờ kiên nhẫn mà con giữ được linh hồn” (Luke 21:19).

Thày đã thấy rất nhiều người bắt đầu con đường tâm linh, bắt đầu dùng một kỹ thuật tâm linh với lòng đầy hăng say và hy vọng. Khi họ không được toại nguyện ngay tức khắc thì họ nản chí. Thậm chí, một số còn thất vọng, giận dữ hay chua chát. Thái độ này tất nhiên không giúp họ gia tốc tăng triển tâm linh mà còn đưa họ xuống thấp hơn trên cầu thang xoắn ốc, đưa họ sâu hơn vào nhị nguyên và tuyệt vọng. Thày không muốn bất cứ ai học khóa học này đâm đầu vào bức tường thất vọng vì thất vọng là một trong những cạm bẫy mạnh mẽ nhất do hoàng tử thế gian và ngã hữu diệt giăng ra. Đầu tiên hết chúng tìm cách ngăn cản con tìm ra đường tu tâm linh hay chấp nhận đường tu. Nếu chúng không thể ngăn con bắt đầu tiến bước trên cầu thang xoắn ốc, thì mỗi bước con đi lên, chúng sẽ tìm cách khiến con cảm thấy con không đi nhanh đủ, con không đạt được những kết quả mà con được hứa hẹn, những mong chờ không thiết thực mà chúng đã lập trình vào tâm con. Chúng sẽ cố khiến con rơi vào thất vọng, tuyệt vọng, nghi ngờ hay nóng giận để con ngừng tiến bộ và té xuống cầu thang trở về mức mà chúng cảm thấy có thể kiểm soát được con. Đấy là kế hoạch của chúng, đấy là thiết kế của chúng. Chỉ có một cách duy nhất để không rơi vào bẫy này là con tập trung tâm mình kiên cố vào hình ảnh con đang theo một tiến trình lâu dài một cách có ý thức và cố ý. Nó lâu dài vì con hiểu con cần làm công việc khó khăn là thanh tẩy bốn thể phàm khỏi những rác rưởi mà con đã tích tụ từ nhiều ngàn năm. Con nhận ra việc này cần thời gian và nỗ lực từ phía con. Con cũng nhận ra nếu con ra sức làm việc thì kết quả chắc chắn sẽ hiện ra. Đây không phải là chuyện mơ tưởng hão huyền, kỳ vọng hay mộng tưởng. Đây là một tiến trình rất khoa học. Tiếc thay, hầu hết không hiểu được nhu cầu đem xung lực đi qua cả bốn tầng của cõi vật chất và do đó nhiều người chân thành đã bỏ cuộc trước khi xung lực của họ sẵn sàng xuống tới cõi vật lý.

Con hãy tưởng tượng con bất thần tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài và nhận ra mình đang ở trong một tòa nhà tăm tối. Có rất ít ánh sáng vào tòa nhà nhưng con nhận thấy có một cửa sổ trên mái nhà. Khi con nhìn kỹ hơn, con nhận ra cửa sổ trên mái đầy bụi nên hầu như không có ánh sáng nào lọt qua được. Không có gì huyền bí về sự kiện này. Tấm kính trên cửa sổ mái nhà hoàn toàn có khả năng cho phép ánh sáng đi qua; đơn giản là ánh sáng bị ngăn chặn bởi những vết bẩn trên mặt kính. Nếu con bắt đầu ở một góc kính và chùi sạch bụi bẩn một cách có hệ thống, thì con có thể chùi sạch toàn bộ cửa sổ và tất nhiên ánh sáng sẽ chiếu xuyên qua và làm căn phòng sáng hơn. Nếu con chùi sạch một cách có hệ thống những mảnh kính tượng trưng cho bốn tầng của tâm con, ánh sáng của Thượng đế tất nhiên sẽ chiếu rạng qua tâm con. Ánh sáng này sẽ biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong trải nghiệm vật lý của con và nó sẽ cho con một trải nghiệm về cuộc sống mở rộng bao la, kể cả cho con nhận biết bản chất tâm linh của mình và mục tiêu thật của con khi tới trái đất.

1.10. Quyết định dựa trên sự thật Ki-tô

Con cần làm gì để thanh tẩy bốn thể phàm của mình? Những bước thực tế con cần làm để hoàn thành công việc này là gì? Trước đây thày có gợi ý những điểm nào làm nghẽn ánh sáng không chảy được vào tâm con. Thày đã nói mọi thứ đều xoay quanh quyền tự quyết và những chọn lựa của con. Mỗi chọn lựa mà con lấy dựa trên mức nhận biết hiện thời của con, mức hiểu biết và kiến thức của con và các mức này được quy định bởi những niềm tin con cầm giữ trong bốn tầng của tâm mình. Ở tầng của thể bản sắc, mỗi niềm tin được quy định bởi cách con nhìn chính mình, nhìn thế giới và nhìn tiềm năng biểu hiện những điều con mong muốn. Ở tầng của thể bản sắc, chúng ta tìm thấy một số niềm tin mà con đã chấp nhận và cho phép chúng đi vào quả cầu cái ta của con. Nếu con có một niềm tin trong thể bản sắc bị giới hạn so với viễn kiến thuần khiết của Ki-tô về tiềm năng của con, thì niềm tin này sẽ có nhiều hậu quả như:

  • Niềm tin đó sẽ giới hạn khả năng đem ánh sáng từ Hiện diện TA LÀ của con xuống thể bản sắc. Ví dụ, nếu con tin mình là một con người hữu diệt, làm sao con chấp nhận được một dòng ánh sáng vô hạn chảy từ cái ta tâm linh của con? Tất nhiên con sẽ giảm thiểu lượng ánh sáng chảy vào thể bản sắc của con.
  • Niềm tin đó sẽ tạo một phin lọc. Khi ánh sáng Thượng đế đi qua phin lọc này, nó bị hạ độ rung nhiều hơn mức hạ giảm tự nhiên đáng lẽ phải xảy ra nơi thể bản sắc. Nhiều người có một ý niệm bản sắc giảm ánh sáng từ 100,000 Hz xuống dưới 2,000 Hz. Điều này sẽ giảm lượng ánh sáng và cường độ ánh sáng chảy vào thể tư tưởng, cho nên nó giảm uy lực tư tưởng của con. Độ mạnh của ánh sáng khi nó đi vào thể tư tưởng quy định tiềm năng của uy lực của tư tưởng của con. Tư tưởng của con không thể mạnh hơn sức mạnh của ánh sáng đi vào thể tư tưởng của con.
  • Niềm tin đó sẽ tha hóa một số lượng ánh sáng sẽ tích đọng trong thể bản sắc của con. Khi nó tích đọng, nó sẽ tạo một rào cản làm nghẽn thể bản sắc thể. Cuối cùng tầng này của tâm con có thể đầy những rác rưởi đến độ không còn chỗ cho một ý niệm bản sắc cao hơn và không có chỗ cho ánh sáng đi qua từ bên Trên và không có khe mở qua đó tâm ý thức của con có thể nhìn quá cõi vật chất và có được trải nghiệm tâm linh.

Giờ đây con thấy được hậu quả của những niềm tin bất toàn trên thể bản sắc của con. Một người có thể có một số tin tưởng bất toàn trong thể tư tưởng, chúng cũng sẽ đưa tới những hậu quả tương tự. Lẽ dĩ nhiên, mảnh kính giữa thể tư tưởng và thể cảm xúc cũng có thể bị tắc nghẽn và thể cảm xúc cũng có thể bị nghẽn như vậy. Tới khi ánh sáng đến được tâm ý thức của con là tầng tâm thức nơi con điều khiển ánh sáng đi vào hành động có ý thức, thì có rất ít ánh sáng đi qua được. Hậu quả có hai khía cạnh. Một khía cạnh là nó giảm uy lực sáng tạo mà con có được ở tầng não bộ và thân vật lý. Nó cũng giảm viễn kiến của con, khả năng nhìn quá cõi vật chất của con. Điều này xảy ra vì bình thường con tìm cách có một viễn kiến cao hơn bằng cách nhìn xuyên qua bốn thể phàm cho nên khi các mảnh kính bị ô uế, con không thể nhìn xuyên qua chúng với tâm ý thức của con.

Để thanh tẩy bốn thể phàm của con, con phải làm hai điều. Con phải khám phá một cách ý thức những niềm tin bất toàn mà con đã chấp nhận ở mỗi tầng tâm của con. Sau đó con sẽ phải thay thế một cách ý thức những niềm tin bất toàn này, những niềm tin nhị nguyên này bằng cách lấy những quyết định dựa trên sự thật của Ki-tô. Khi con thay thế một niềm tin bất toàn, con gỡ bỏ một phin lọc đã khiến ánh sáng của Thượng đế bị giảm cường độ và tạo nên những rác rưởi khiến cho ánh sáng không tuôn chảy tự do được. Giờ đây con đã vứt đi những đống tro, những rác rưởi đã tích đọng trong bốn thể phàm của con. Việc thứ hai con cần hoàn tất là gỡ bỏ năng lượng bị tha hóa trong bốn thể phàm của con. Lẽ tất nhiên hầu hết không ý thức về tiến trình này vì cả các tôn giáo chính thống lẫn khoa học duy vật đều không thể giải thích cho họ nhu cầu và cách làm. Thày hy vọng là những điều thày đã trao cho con cho tới đây đã giải thích tại sao con cần thanh tẩy năng lượng bị tha hóa đã tích đọng trong bốn thể phàm của con. Thày hy vọng con cũng thấy được cách làm. Nó quả thực khá đơn giản và các nhà khoa học của con đã khám phá tiến trình này rồi trong phòng thí nghiệm của họ.

Năng lượng tích đọng trong bốn thể phàm mang hình dạng sóng năng lượng rung động ở những tần số rất thấp. Cách duy nhất để gỡ bỏ năng lượng như thế là nâng tần số của nó lên, để độ rung của nó trở về trạng thái thanh khiết nguyên thủy. Điều này làm được rất giản dị vì tâm con sẵn có khả năng cho phép ánh sáng có tần số cao từ cõi tâm linh chảy xuyên qua nó. Việc của con là tìm ra một phương pháp có hệ thống để cầu thỉnh ánh sáng có tần số cao từ cõi tâm linh, kéo ánh sáng này xuống bốn thể phàm và hướng ánh sáng này vào các năng lượng bị tha hóa đã tích lũy nơi đó. Nếu con chịu đi qua tiến trình này, con có thể và sẽ thanh tẩy bốn thể phàm của con.

1.11. Con người xứng đáng nhận được giáo lý tiết lộ tuần tự

Thày hy vọng con đã dùng các bài thỉnh của thày trong lúc con theo khóa học này. Bây giờ thày muốn cho con một hiểu sâu hơn để con nhận biết đầy đủ con cần làm gì để thanh tẩy bốn thể phàm. Thày cũng muốn con biết con cần làm gì để khắc phục một chướng ngại lớn khác cho sự biểu hiện dồi dào của Thượng đế trong cuộc sống của con. Chướng ngại này là những nguyên nhân con đã khởi động trong quá khứ, những nguyên nhân này chắc chắn sẽ đi luân lưu qua bốn tầng của vũ trụ vật chất và do đó sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu trở lại con.

Thày biết khóa học này rất dài và thày cũng biết nó dẫn con đi xa hơn nhiều những gì con được dạy ở vườn trẻ hay trong các lớp dạy giáo lý Cơ đốc cho trẻ con. Thày tin rằng con đã chịu đựng học thày tới điểm này cho nên con sẽ muốn đi trọn đường và đạt được sự hiểu biết đầy đủ về cách vận hành của vũ trụ vật chất và con biết cách dùng hiểu biết đó để gỡ bỏ không những điểm nghẽn trong chính tâm con mà con cũng gỡ bỏ các điểm nghẽn đến từ những hành động quá khứ của con, những nguyên nhân con đã khởi động trong các kiếp trước và đã biểu hiện thành những hoàn cảnh vật lý mà con trải nghiệm trong kiếp sống này.

Con hãy theo thày khi thày giảng cho con những điều mà lẽ ra con phải được dạy tại vườn trẻ và trường dạy giáo lý cho trẻ em nhưng cả các giáo hội chính thống lẫn khoa học duy vật đều không muốn dạy con. Họ không dạy con những điều này vì họ đã bị thấm đẫm lý luận nhị nguyên của tâm phản Ki-tô nên họ không thể trao cho con giáo lý chân thực của Ki-tô mà Giê-su muốn con nhận được và vẫn còn muốn con nhận được trong thời đại này. Đó là lý do tại sao cả Giê-su lẫn thày và nhiều thày tâm linh khác đang phục vụ nhân loại nhận ra là các thày cần lên tiếng nói với con người trong thời đại này và tiết lộ tuần tự giáo lý vì con người đã nâng tâm thức lên một mức nhận biết cao hơn và xứng đáng nhận được tiết lộ tuần tự này. Ngày nay con người có thể hỏi những câu hỏi cụ thể hơn so với quá khứ. Nếu con hỏi, con sẽ được trả lời. Bởi vì có rất nhiều người đã chân thành đặt câu hỏi về những bí ẩn sâu xa của cuộc sống, đặt câu hỏi tại sao hoàn cảnh họ đang như vậy cho nên thày đã tới đây để trả lời. Con sẽ khám phá rằng ở một tầng nào đó của bản thể mình, con cũng đã đặt cùng những câu hỏi đó.

15 | Bốn tầng của vũ trụ

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 19/4/2005.

Mọi thứ đều được tạo thành từ Ánh sáng Mẫu-Vật. Đấng Sáng tạo của con tạo ra Ánh sáng Mẫu-Vật và ánh sáng này đã được dùng để tạo ra những bầu cõi trong bầu cõi, những thế giới trong thế giới, trải dài từ cấp độ cao nhất của tạo vật Thượng đế xuống tận vũ trụ vật chất. Khi mỗi bầu cõi tiếp theo được sinh tạo, Ánh sáng Mẫu-Vật lại được giảm độ rung xuống một phổ tần số khác. Trong mỗi bầu cõi như vậy, có nhiều tần số, nhiều tầng lớp khác nhau.

15.1. Bốn cõi rung động của vũ trụ vật chất

Vũ trụ vật chất được tạo thành từ ánh sáng tâm linh đã được hạ thấp độ rung xuống một phổ tần số nhất định. Trong phổ tần số này có bốn cấp độ tần số khác nhau, hay rung động khác nhau. Màu sắc của cầu vồng được tạo nên từ ánh sáng có màu sắc khác nhau. Các tia sáng có màu khác nhau là vì chúng rung động ở những tần số khác nhau. Có bốn cấp độ tần số cấu tạo vũ trụ vật chất. Khi ánh sáng tâm linh được hạ thấp rung động, trước tiên nó đi vào quang phổ cao nhất của cõi vật chất nơi nó khoác vào một hình tướng nào đó. Khi nó tiếp tục chảy xuống mỗi cấp độ kế tiếp, ánh sáng khoác vào – hay biểu hiện – hình tướng dày đặc hơn, cho tới khi cuối cùng nó khoác vào hình tướng dày đặc nhất, là loại hình tướng có thể được giác quan vật lý của con phát hiện.

Bốn tầng của vũ trụ vật chất tương ứng với bốn cõi, hay bốn thể, cùng nhau tạo thành toàn bộ vũ trụ. Vũ trụ vật lý khả dĩ được phát hiện bởi giác quan của con và các loại dụng cụ khoa học làm bằng vật chất, chỉ là phần nổi của một tảng băng ngầm. Đó là cõi thấp nhất trong bốn cõi về mặt rung động, có nghĩa là những gì biểu hiện trong cõi vật lý chỉ là sản phẩm của những nguyên nhân được khởi động ở các cõi cao hơn. Như Shakespeare đã nói, giữa trời và đất còn nhiều thứ nữa, và cái nhiều hơn này chính là ba tầng còn lại của vũ trụ vật chất.

Sự thật này đã được con người biết đến từ hàng ngàn năm qua. Nó đã được người Ai Cập và Hy Lạp cổ đại biết đến, nó đã được Giê-su biết đến, và Giê-su đã giảng dạy sự thật này cho các tông đồ của thày khi thày trao cho họ những lời dạy cao hơn những gì thày có thể truyền đạt cho công chúng (Mark 4:34). Về sau, nó cũng được các nhà giả kim thời trung cổ và các nhà thần bí Cơ đốc giáo biết đến, là những người tu tập theo phiên bản riêng – một phiên bản tâm linh của đạo Cơ đốc – bên dưới sự dò xét của giáo hội chính thức. Thật đáng tiếc là khoa học hiện đại đã chế giễu chính nguồn gốc của mình, cụ thể là các nhà giả kim khi những vị này đưa ra khái niệm về bốn nguyên tố – mà họ gọi là lửa, khí, nước và đất – cùng với nguyên tố thứ năm, gọi là ê-the, tượng trưng cho cõi tâm linh. Thật ra khoa học đã có nhiều khám phá xác nhận sự hiện hữu của bốn tầng này của vũ trụ vật chất, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có ai nối liền được những cái chấm đó để nhìn ra những điểm tương đồng giữa khoa vật lý, đặc biệt là vật lý lượng tử, với lời dạy của người xưa.

Một lần nữa, thày sẽ lại cho con một hình ảnh đường thẳng về một thực tại không hẳn là đường thẳng như tâm vỏ ngoài của con ưa thích. Thày xin con nhớ là còn nhiều điều nữa để hiểu, và những gì thày cho con ở đây chỉ là một hình ảnh đã được đơn giản hóa đôi chút. Sự kiện vũ trụ vật chất gồm bốn tầng cõi có thể được nhìn dưới nhãn quan toàn vũ lẫn cá nhân. Có bốn tầng trong vũ trụ nói chung, và cũng có bốn tầng trong chính bản thể con – theo nghĩa phần thấp của quả cầu cái ta của con. Thành phần của bản thể con được thiết kế để biểu đạt khả năng sáng tạo của con trong vũ trụ vật chất có bốn thể, và thể vật lý hay cơ thể chỉ là phần nổi của nguyên tảng băng. Để dùng một hình ảnh thị giác, con thử hình dung là cơ thể vật lý của con được bao quanh bởi một trường năng lượng vô hình, từa tựa như một thỏi nam châm được bao quanh bởi từ trường của nó. Trường năng lượng này có ba tầng riêng biệt, tương ứng với ba tầng của bản thể con nằm bên trên cơ thể vật lý về mặt rung động. Sự có mặt của một trường năng lượng như vậy xung quanh cơ thể đã được người ta biết đến từ hàng ngàn năm qua. Đó là nền tảng cho khoa học châm cứu cổ xưa, và ngày nay có những máy ảnh kỹ thuật số có khả năng khiến cho trường năng lượng hiện ra trên màn hình máy tính. Trong tương lai, ngành y khoa sẽ học cách sử dụng công nghệ này để chẩn đoán và ngăn ngừa bệnh tật trước khi bệnh lộ diện trên cơ thể vật lý.

Cơ thể vật lý của con không tạo ra trường năng lượng này, mà đúng hơn phải nói là trường năng lượng tạo ra cơ thể vật lý. Cơ thể chỉ đơn giản là phần nổi của tảng băng tức toàn bộ trường năng lượng của con. Trong phần thấp của bản thể con, đó là thành phần rung động trong phổ tần số có thể được phát hiện bởi giác quan vật lý và hầu hết dụng cụ khoa học. Cơ thể vật lý là sự trải bày – sự biểu diễn trong phổ tần số cấu tạo vật chất vật lý – của những hình ảnh được cầm giữ trong ba thể cao hơn.

15.2. Thể bản sắc

Hãy thử hình dung chúng ta đang ở phần thấp của cõi tâm linh, và chúng ta sắp sửa vượt qua một lằn ranh vô hình để du hành vào vũ trụ vật chất. Khi vượt qua lằn ranh đó, chúng ta bước vào tầng cao nhất của cõi vật chất. Đây là điều người xưa gọi là nguyên tố lửa. Một số giáo lý tâm linh gọi là tầng ê-the, hay cõi ê-the, và một số thì gọi là thể ký ức. Thày sẽ gọi đó là tầng bản sắc hay thể bản sắc. Ở tầng này của vũ trụ vật chất, năng lượng vẫn có độ rung khá cao, có nghĩa là năng lượng rất lỏng và linh hoạt, không đến nỗi dày đặc như những gì con có thể nhận thức bằng giác quan vật lý. Năng lượng càng lỏng thì con càng dễ thay đổi các hình ảnh và hình tư tưởng được tìm thấy ở tầng này. Rung động càng cao thì càng dễ thay đổi các hình tướng mà Ánh sáng Mẫu-Vật đã khoác vào.

Thể bản sắc là nơi ý niệm bản sắc cá nhân của con được lưu giữ. Đó cũng là nơi ý niệm bản sắc tập thể do nhân loại tạo ra được lưu giữ. Đó là nơi bản mẫu thấp của hành tinh trái đất và tất cả mọi điều kiện tìm thấy trên trái đất được lưu giữ. Ở mức cá nhân, con có một thể bản sắc, là trụ sở của ý niệm bản sắc của con, ý niệm con là ai. Nơi đó cũng lưu trữ thế giới quan cơ bản của con, mà một số người gọi là cái nhìn tổng quan của con (paradigm), tức là những niềm tin nền tảng mà con rất hiếm khi chất vấn.

Thể bản sắc này hình thành tầng cao nhất của phần thấp trong quả cầu cái ta của con, hay phần dưới của hình số 8. Cả bốn thể phàm của con hình thành một cỗ xe được tạo ra để cho phép con tự biểu đạt trong vũ trụ vật chất, và thể bản sắc là tầng cao nhất của cỗ xe này. Mọi khía cạnh của thể bản sắc được thiết kế để tạo thuận lợi cho con biểu đạt khả năng sáng tạo và bản sắc thiêng liêng của mình trong vũ trụ vật chất. Thể bản sắc được thiết kế để làm chiếc cầu nối, hay cửa ngõ, giữa cõi tâm linh và cõi vật chất. Chỉ xuyên qua thể bản sắc thì con mới có thể duy trì nối kết với phần cao của bản thể mình, tức Hiện diện TA LÀ cư ngụ thường trực nơi cõi tâm linh và không thể đi xuống những năng lượng dày đặc hơn của vũ trụ vật chất.

Mặc dù thày gọi đó là thể bản sắc, nhưng bản sắc của con là nhiều hơn các hình ảnh được lưu trữ nơi thể bản sắc. Con là nhiều hơn hẳn những hình ảnh đó về chính con. Cái Ta Biết không bị giam trong thể bản sắc của con và quả thực nó có khả năng với lên cao hơn để tự đồng hóa với Hiện diện TA LÀ. Cái Ta Biết chỉ cần đến thể bản sắc để tự biểu đạt trong thế giới vật chất. Các hình ảnh về chính con được lưu trữ trong thể bản sắc thật sự là những hình ảnh liên quan đến cách thức cái Ta Biết có thể tự biểu đạt trong cõi vật chất. Ý niệm bản sắc mà con có trong thể bản sắc là một ý niệm dính liền với vũ trụ vật chất.

Nếu con có một ý niệm bản sắc hoàn toàn trong sạch, các hình ảnh trong thể bản sắc sẽ phản ánh bản sắc thiêng liêng được neo trụ trong Hiện diện TA LÀ của con. Khi đó, con sẽ thấy mình là một sinh thể tâm linh bất diệt đang tự biểu đạt trong cõi vật chất xuyên qua một cỗ xe thấp hơn tạm thời. Con sẽ thấy mình là một sinh thể vô biên, đang tự biểu đạt xuyên qua một bản sắc đã cá thể hóa và có giới hạn, chú mục vào một cơ thể vật lý – và tập trung quanh một cơ thể vật lý – trên một hành tinh đặc thù có tên là địa cầu. Con sẽ luôn luôn biết mình là nhiều hơn bản sắc này, và điểm này rất quan trọng để tránh bị mắc kẹt trong ý niệm bản sắc thấp dính liền với vũ trụ vật chất, với hành tinh địa cầu và với cơ thể vật lý. Nếu thể bản sắc của con tinh khiết, con sẽ luôn luôn biết mình là nhiều hơn bốn thể phàm của mình. Nhưng nếu thể bản sắc bị ô nhiễm bởi các hình ảnh nhị nguyên, thì một phần của cái ta hữu diệt sẽ chiếm giữ tầng này trong bản thể con và bắt đầu chi phối cách con tự nhìn mình như thế nào. Bởi vì thể bản sắc là tầng cao nhất trong con người phàm, cho nên ý niệm bản sắc của con sẽ tác động lên mọi chuyện xảy ra ở các tầng thấp hơn.

Nhà hiền triết Hy Lạp Plato có nói đến một cõi của những hình dạng lý tưởng. Đây là những dạng kỷ hà thuần túy làm gạch xây cất cơ bản cho toàn bộ vũ trụ. Cõi Plato nói đến chính là cõi ê-the, hay bản sắc, trong dạng thuần khiết nhất. Ở tầng cao trên cùng của cõi bản sắc, quả thực con tìm thấy các hình dạng kỷ hà thuần túy đã được thiết kế ở một cõi cao hơn, là tâm Ki-tô hoàn vũ. Những hình dạng kỷ hà này được thiết kế để làm những viên gạch xây cất sẽ cống hiến cho những người đồng-sáng tạo với Thượng đế một khuôn khổ an toàn để họ có thể thử nghiệm quyền tự quyết của họ trong cõi vật chất. Khi con đồng-sáng tạo qua việc sử dụng các dạng kỷ hà thuần túy, tạo vật của con sẽ luôn luôn thuận hợp với quy luật Thượng đế. Con sẽ nhân lên, thay vì giới hạn, quyền năng sáng tạo của mình. Con có thể dùng các hình dạng thuần túy này để tạo ra một biểu hiện cá nhân hoàn toàn hài hòa với cái Tất Cả, hầu nỗ lực sáng tạo của con chỉ nâng cao mọi sự sống trên hành tinh và như vậy cũng giúp đem lại vương quốc của Thượng đế đến trái đất. Chỉ khi nào con người không còn nhìn thấy những dạng kỷ hà thuần túy này nữa, và thay vào đó nhìn thấy các hình dạng bất toàn do tâm nhị nguyên chế tạo, thì họ mới bắt đầu gây ra đau khổ và biến cuộc sống thành một cuộc vật lộn.

Trong một bài trước, thày đã có cho con hình ảnh một máy chiếu phim, có ánh sáng chiếu ra từ bóng đèn xuyên qua cuộn phim, và hình trên cuộn phim được chiếu lên màn ảnh. Thể bản sắc của con cấu tạo một cuộn phim, và bất kỳ hình ảnh nào con đã cho phép đi vào thể bản sắc của mình sẽ hình thành tầng biểu hiện đầu tiên của con trong thế giới vật chất. Đó không phải là tầng duy nhất nhưng đó là tầng đầu tiên, và nó sẽ làm cơ sở cho tất cả mọi thứ đến sau đó.

15.3. Thể lý trí, thể tình cảm, thể vật lý

Cái gì đến sau thể bản sắc? Một lần nữa, hãy tưởng tượng chúng ta đang du hành từ tầng thấp nhất của cõi tâm linh vào vũ trụ vật chất. Chúng ta vượt qua lằn ranh và đi vào cõi bản sắc, và một khi đi xuyên qua cõi này thì chúng ta lại gặp một lằn ranh khác. Khi chúng ta lại vượt qua thì chúng ta bước vào tầng kế tiếp, được người xưa gọi là nguyên tố khí. Đây cũng là tầng của tư tưởng, cho nên thày sẽ gọi là thể lý trí, trí thể, hay cõi trí.

Ở tầng này, con tạo ra những thiết kế cụ thể mà con muốn đem vào thị hiện. Thể bản sắc lập ra các nguyên tắc chung, cái khung sườn vòng ngoài cho những gì con có thể đem vào thị hiện – gần giống như nền móng của một căn nhà – xong ở tầng lý trí, con lấy các ý tưởng và hình tư tưởng nền tảng từ thể bản sắc và con khiến chúng trở nên cụ thể hơn bằng cách điền vào những chi tiết tỉ mỉ nhất. Con hình thành những hình ảnh trí năng cụ thể, con hình thành một đồ án chi tiết hơn kế hoạch tổng quát đã có trong thể bản sắc. Các năng lượng trong thể lý trí có độ rung thấp hơn và cũng dày đặc hơn năng lượng trong thể bản sắc. Chúng ít linh hoạt hơn, khó thay đổi hơn các hình tư tưởng trong thể bản sắc. Chúng đã khoác vào một cấu trúc rõ rệt hơn, một hình dạng lộ hiện hơn, cho nên con sẽ cần nhiều nỗ lực hơn để thay đổi tư tưởng của con so với ý niệm bản sắc của con.

Bây giờ chúng ta rời cõi trí vào cõi kế tiếp, và chúng ta bước vào cái người xưa gọi là nguyên tố nước, tương ứng với cảm xúc con người. Thày muốn gọi đây là cõi cảm xúc, hay thể cảm xúc, thể tình cảm, cảm thể. Thể cảm xúc của con là nơi con lấy các đồ án được hình thành trong thể lý trí và con phú cho chúng năng lượng sẽ làm chúng cử động. Điều này đem lại cho các kế hoạch trí năng của con sự chuyển động và phương hướng mà chúng cần để đột phá xuống tầng thấp nhất và khoác vào một biểu hiện vật lý. Tư tưởng của con tự thân nó không thể chuyển thành hành động vật lý vì nó chưa được khởi động, cũng từa tựa như cuộn phim trong máy chiếu nếu không di chuyển trong máy sẽ khiến cho hình ảnh trên màn hình đứng yên một chỗ.

Một số người rất giỏi nghĩ ra nhiều ý mới, nhưng họ có xu hướng ngồi một chỗ nghĩ ngợi không ngừng, nẩy lên hết ý này tới ý khác mà không bao giờ đem bất kỳ ý nào vào hành động. Đó là vì những người như vậy tập trung vào cõi lý trí và chưa phát triển khả năng đưa ý tưởng của mình vào cõi cảm xúc. Họ không thể góp năng lượng và lực đẩy cần thiết để đem những ý đó xuống tầng thứ tư là tầng của thị hiện vật lý. Và tầng này được người xưa gọi là nguyên tố đất, mà thày sẽ gọi là cõi vật lý. Cõi này là nơi chúng ta tìm thấy năng lượng đã thị hiện, hoặc dưới dạng vật chất vật lý, hoặc dưới dạng năng lượng vật lý là loại năng lượng con có thể phát hiện bằng giác quan hay sử dụng để sản xuất công việc vật lý. Một ví dụ điển hình của năng lượng vật lý là điện lực. Cõi vật lý cũng là nơi con lấy ý tưởng của mình được phú cho cảm xúc và chuyển thành hoạt động vật lý.

15.4. Dòng chảy năng lượng

Bây giờ chúng ta có hình ảnh một dòng chảy năng lượng từ phần thấp của cõi tâm linh xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Các điều kiện hiện ra trong cõi vật lý, chẳng hạn hoàn cảnh cá nhân của con trên trái đất này, không tự nhiên mà xuất hiện. Các điều kiện được tìm thấy trong cõi vật lý là kết quả của những nguyên nhân được khởi động nơi ba tầng cao hơn. Tất cả mọi thứ đều khởi sự như một ý tưởng tổng quan trong cõi bản sắc, rồi kết tinh lại trong cõi lý trí, nhận được động lượng trong cõi cảm xúc, trước khi cuối cùng khoác vào một hình dạng vật lý hay được chuyển thành một hành động vật lý. Vũ trụ là một tấm gương phản chiếu lại cho con những gì con gửi ra, và những gì con gửi ra là sản phẩm của nội dung trong bốn thể phàm của con.

Khi ánh sáng Thượng đế tuôn qua bốn tầng của tâm con, trước tiên nó sẽ mặc vào các hình ảnh được tìm thấy trong thể bản sắc của con. Xong ánh sáng tuôn vào thể lý trí nơi nó khoác vào những hình ảnh cụ thể hơn được vẽ ra trong tư tưởng, tức là các hình tư tưởng mà con lưu giữ ở tầng này. Như vậy thể lý trí hình thành thêm một cuộn phim mà ánh sáng sẽ chiếu qua, và các hình ảnh tổng quát, linh hoạt của thể bản sắc giờ đây sẽ mang hình dạng đặc thù hơn của tư tưởng. Sau đó, ánh sáng tuôn vào thể cảm xúc – lại thêm một cuộn phim nữa – nơi nó khoác vào các ham muốn được tích lũy trong thể này.

Thể cảm xúc của con là trung tâm của lòng ham muốn và nó cũng có tên là thể ham muốn. Ham muốn của con bồi thêm một cảm giác cấp bách cho các ý tưởng, thường khiến con cảm thấy: “Tôi phải có cái này.” Sự cấp bách này có thể khiến con sẵn lòng làm bất cứ gì để có được điều con muốn. Ham muốn của con cũng xác định cách thức con sẵn lòng đem ý tưởng của mình vào thế giới vật lý. Thể lý trí của con chứa đựng quá nhiều ý tưởng đến độ chúng không thể được đem hết vào hành động, cho nên điều gì sẽ định đoạt ý tưởng nào được hành sự? Nếu thể cảm xúc chứa đựng những tình cảm tiêu cực mãnh liệt như giận dữ chẳng hạn, những tình cảm này thường khiến con quên hết mọi thận trọng. Nếu con không thể kiểm soát cảm xúc thì làm sao con có thể hy vọng kiểm soát được hành vi của mình và nhờ đó tránh gây ra những hậu quả phiền phức cho mình? Lý tưởng nhất là con có thể chọn phản ứng tình cảm của mình trong mọi tình huống hầu tình cảm tiêu cực mãnh liệt không thể khiến con hành động ngược lại lợi ích lâu dài của con. Nhưng nếu con không có khả năng lựa chọn cảm xúc của mình, thường khi con sẽ cư xử như một con rô-bốt cứ nhắm mắt tuân theo sự lập trình tình cảm của mình.

Con nghĩ xem trái đất sẽ khác như thế nào nếu đa số con người có thể hiểu được quá trình mà qua đó mọi chuyện trong vũ trụ vật chất đi vào thị hiện và khoác vào những hình dạng cụ thể mà giác quan vỏ ngoài lẫn tâm vỏ ngoài có thể nhìn thấy. Bỗng nhiên mọi người sẽ có thể bắt đầu nhìn xa hơn dáng vẻ bề ngoài để thấy được nguyên nhân sâu xa đằng sau các hiện tượng khiến đời họ trở nên gay go vất vả. Khi họ bắt đầu hiểu làm thế nào các tầng cao hơn của chính tâm họ chi phối hoàn cảnh vật lý của họ, thì họ có thể vượt qua cảm giác mình là nạn nhân của các thế lực và tình huống vượt khỏi tầm kiểm soát của mình. Thay vì cảm thấy choáng ngợp hay bị cuộc đời đóng hộp, họ có thể khởi sự lãnh trách nhiệm cải thiện đời họ một cách ý thức.

15.5. Hành động ngắn hạn và nghiệp quả dài hạn

Việc đem vào thị hiện vật lý có hai tầm mức. Một tầm mức được thể hiện qua các hành động con làm. Một hành động vật lý không tự dưng xuất hiện từ hư vô, nó không bắt nguồn từ tầng cơ thể vật lý và bộ não vật lý. Hành động khởi đầu trong thể bản sắc, xong nó luân chuyển qua thể lý trí và thể cảm xúc, và chỉ sau đó nó mới chuyển thành một hành động dựa trên những chọn lựa mà con lấy với tâm ý thức. Những tùy chọn mà con thấy được qua tâm ý thức được định đoạt bởi nội dung trong ba thể cao của con. Chẳng hạn nếu con đồng hóa mình với một sinh thể phàm trần hữu diệt không có quyền hạn gì bên ngoài cơ thể vật lý, thì tư tưởng của con sẽ xoay quanh việc sử dụng cơ thể để tạo dồi dào, và ham muốn của con sẽ chú tâm vào việc thoả mãn nhu cầu của cơ thể. Các tùy chọn mở ra cho tâm ý thức của con sẽ bị giới hạn trong phạm vi vũ trụ vật chất, và con sẽ khó lòng nào nhìn thấy một cách sống nào khác không xoay quanh nhu cầu của cơ thể vật lý. Con sẽ nghĩ là sự sống dồi dào chẳng là gì hơn của cải vật chất và thú vui thể xác.

Tầm mức này của các hành động vật lý cá nhân của con là tầm mức cá nhân, hay ngay trước mắt, của nỗ lực sáng tạo, là tầm mức tập trung vào cơ thể vật lý, dẫn đến một hành động được thực hiện bởi cơ thể này, hay đúng hơn, được chính con thực hiện xuyên qua cơ thể này. Còn có một tầm mức khác nữa mà hầu hết mọi người không ý thức. Đó là tầm mức phi cá nhân, hay dài hạn, vì nó vượt ra ngoài cơ thể hiện tại và ngay cả kiếp sống hiện tại của con. Nó không dẫn đến một hành động vật lý trực tiếp, ít ra một hành động có ý thức. Đây là tầm mức qua đó tâm con liên tục áp đặt hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật khi nó gửi hình tư tưởng vào tấm gương vũ trụ. Các hình ảnh này được Ánh sáng Mẫu-Vật trải bày ra dưới dạng các tình huống vỏ ngoài mà con gặp trong đời.

Cho đến giờ thày có nói vũ trụ là một tấm gương và những gì con gửi ra sẽ được phản chiếu lại cho con. Chúng ta có thể nhìn tiến trình này từ một góc độ khác và nói rằng điều thực sự xảy ra là bốn tầng của tâm con áp đặt hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật là ánh sáng rung động trong phổ tần số của vũ trụ vật chất. Các hình ảnh con giữ trong thể bản sắc tạo thành các thông số vòng ngoài cho hình tướng mà Ánh sáng Mẫu-Vật khoác vào. Các hình ảnh này được tâm con áp đặt lên năng lượng rung động trong phổ tần số của cõi bản sắc, và chỉ sau khi năng lượng này khoác vào hình ảnh trong thể bản sắc thì nó mới được cống hiến cho tư tưởng sử dụng. Chính khi các hình ảnh bản sắc được áp đặt lên Ánh sáng Mẫu-Vật thì ánh sáng được giảm độ rung, đi vào cõi lý trí. Khi nó đi vào cõi lý trí, nó đã mang sẵn một hình tướng dựa trên ý niệm bản sắc của con, và tư tưởng của con không thể thay đổi hình tướng này. Tư tưởng chỉ có thể làm việc trong phạm vi các thông số đã được ấn định ở tầng cao hơn.

Trong bước kế tiếp của tiến trình này, các hình ảnh con giữ trong thể lý trí sẽ kết tinh hình ảnh tổng quan từ thể bản sắc và khiến chúng trở nên đặc thù hơn. Một lần nữa, điều này áp đặt một hình tướng dày đặc hơn lên năng lượng và do đó lại giảm thiểu độ rung của năng lượng để nó đi vào cõi cảm xúc. Cảm xúc của con chỉ có thể xây dựng trên nền tảng những gì đã được tạo ra ở tầng lý trí, và cảm xúc không có quyền năng thay đổi tư tưởng. Các hình ảnh và ham muốn mà con giữ ở thể cảm xúc trao cho các hình ảnh từ lý trí một phương hướng quyết định, cũng như năng lượng cần thiết để đưa chúng xuống cõi vật lý. Đồng thời chúng cũng trao cho tư tưởng một cảm giác cấp bách, khiến con cảm thấy mình phải hành sự ngay lập tức. Cuối cùng, thành phần của tâm con tập trung ở cõi vật lý khiến cho các hình ảnh này càng cụ thể hơn nữa, cho đến khi chúng thị hiện dưới dạng những hoàn cảnh vỏ ngoài mà con phải đối mặt trong đời. Tiến trình này không được hoàn tất trong một kiếp sống, cho nên các điều kiện con đối mặt trong kiếp này không nhất thiết được sản xuất trong kiếp này. Chúng là kết quả của những nguyên nhân mà con đã khởi động trong những kiếp trước khi con gửi ra các hình tư tưởng được lưu trữ trong bốn thể phàm của con trong những kiếp đó.

Thể bản sắc của con định đoạt những gì con nghĩ mình có thể làm. Chẳng hạn, nếu con nhận diện mình là một sinh thể phàm trần hữu diệt, con sẽ chỉ thấy được một số cách thức thị hiện dồi dào thôi. Tư tưởng của con sau đó sẽ chuyển đạt viễn quan này – hay sự thiếu viễn quan – thành một số chọn lựa cụ thể hơn về những gì con muốn thực hiện. Xong cảm xúc của con sẽ nói rõ những cách thức để đạt mục tiêu định ra ở các tầng cao hơn và thúc đẩy cho mọi thứ chuyển động. Đến khi năng lượng đến được tâm ý thức vỏ ngoài, nó đã khoác vào một hình tướng đặc thù và tâm ý thức của con sẽ có rất ít tùy chọn để thay đổi những gì đã được “khắc trên đá” ở những tầng cao hơn của tâm con. Đó là tại sao nhiều người cảm thấy mình chỉ có thể phản ứng đúng một cách trước một loại tình huống nào đó. Phản ứng của họ trước tình huống đặc thù – thậm chí cách họ đối phó với cuộc đời một cách chung chung – đã được định trước nơi các tầng cao hơn của tâm họ.

Con thử nghĩ xem biết bao người cảm thấy là họ bị kẹt cứng, như thể bị đóng hộp bởi những tình huống vượt khỏi tầm kiểm soát của họ. Họ cảm thấy chọn lựa của họ rất hạn chế và họ không có lối thoát. Biết bao lần con nghe người ta nói: “Tôi không có lựa chọn nào khác”? Tại sao chuyện cảm thấy không có chọn lựa nào xảy ra quá thường như vậy? Lý do thực là tâm vật lý của con chỉ có thể xây dựng trên nền tảng những gì đã được khởi động ở các tầng trên, và đây là tại sao người ta cảm thấy lựa chọn của mình thật hạn chế. Lựa chọn của họ chỉ hạn chế vì họ không nhìn quá được mức tâm vỏ ngoài. Họ không thấy là các lựa chọn mở ra cho tâm vỏ ngoài chỉ là sản phẩm của những gì xảy ra ở các tầng cao hơn của tâm họ. Họ có thể thay đổi các chọn lựa mở ra cho tâm vỏ ngoài bằng cách thay đổi hình ảnh mà họ cầm giữ ở các tầng cao hơn. Họ thật sự có khả năng thay đổi bất kỳ khía cạnh nào trong đời họ bằng cách thay đổi nội dung các tầng tâm cao.

15.6. Con là tác giả hoàn cảnh của con

Đối với nhiều người, điều này cần được quán chiếu. Kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài không muốn con biết, hiểu và chấp nhận những gì thày đang nói với con ở đây. Hai kẻ thù này đã cố gắng lập trình để cái Ta Biết tin rằng con là nạn nhân của những hoàn cảnh vượt ngoài kiểm soát của con. Chúng muốn con tin là hoàn cảnh vỏ ngoài mà con đối mặt trong cuộc sống không do con chế tạo, không là kết quả của những chọn lựa mà con đã lấy trong kiếp này hay trong tiền kiếp. Con không thể kiểm soát được các điều kiện bên ngoài, con là một nạn nhân bất lực của những sức mạnh vượt ngoài con và con không có khả năng ảnh hưởng những cảnh ngộ mà con đối diện ở đây trên trái đất. Chúng muốn con tin vào ảo tưởng này, và chúng muốn giữ con chặt trong ảo tưởng một cách vô hạn định. Lý do là chừng nào con còn tin mình là nạn nhân của những thế lực vượt ngoài tầm kiểm soát của mình, thì có một cái gì đó bên ngoài cái Ta Biết đang điều khiển đời con. Cái bên ngoài cái Ta Biết đó, tất nhiên, chính là cái ta hữu diệt lẫn ông hoàng của thế gian. Nếu con tin có gì bên ngoài cái Ta Biết có khả năng kiểm soát hoàn cảnh của con, thì cái ta hữu diệt và ông hoàng thế gian có ngay một lối vào để điều khiển con.

Thày hoàn toàn hiểu được là đối với nhiều người, hình ảnh họ là nạn nhân những thế lực hay hoàn cảnh bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của họ đã ăn sâu vào tâm thức họ, và đã được củng cố nặng nề bởi sự nuôi dạy khi họ lớn lên, đến độ họ rất khó lòng đâm xuyên qua được. Thày cũng biết là điều này có thể cần sự quán chiếu, sự điều chỉnh từ con. Có thể sẽ mất chút thời gian trước khi con có thể thấm nhập và chấp nhận hoàn toàn những gì thày đang nói với con. Thày hy vọng là con có thể phát triển thêm những gì thày vừa nói trước đó và phối hợp với hình ảnh thày cho con ở đây, hình ảnh rằng mọi chuyện trong đời con là sản phẩm của ánh sáng Thượng đế tuôn chảy qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Các tình huống con trải nghiệm là sản phẩm của ánh sáng Thượng đế khoác vào hình dạng những hình ảnh mà con mang trong thể bản sắc, thể lý trí, thể cảm xúc và tâm vật lý của con. Những gì con trải nghiệm trong thế giới vật chất giống như một bộ phim được chiếu lên màn ảnh cuộc sống. Nội dung của phim được định đoạt bởi các hình ảnh, các cuộn phim, hiện hữu nơi các thể cao hơn của tâm con.

Cách duy nhất để con thay đổi hoàn cảnh vỏ ngoài và biểu hiện sự dồi dào mà con mong muốn là thay đổi các hình ảnh con giữ trong bốn thể phàm của con. Nếu con lấy ẩn dụ mà thày đã cho con về tấm gương, những gì con phóng chiếu vào gương chính là các hình ảnh trong bốn thể phàm. Vũ trụ chỉ có thể phản chiếu lại cho con những gì con đã phóng vào tấm gương vũ trụ. Cách duy nhất để thay đổi những gì quay trở lại con là thay đổi những gì con gửi ra, những gì con phóng vào tấm gương. Cách duy nhất để thay đổi những gì con gửi ra là thay đổi những gì ở trong con, thay đổi các hình ảnh mà con giữ nơi bốn tầng của tâm con.

Điều thày đang làm trong suốt khóa học này là thách thức một cách hệ thống các hình ảnh, hình ảnh nhị nguyên, mà hầu hết mọi người đều được dạy dỗ để chấp nhận, được lập trình để chấp nhận, bởi kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài. Khi con dùng khóa học này, con đã khởi sự tiến trình thách thức những hình ảnh con mang trong bốn tầng tâm con. Con đã bắt đầu tiến trình thanh lọc bốn tầng tâm con. Lời dạy và các bài thỉnh của thày tạo thành một tiến trình có hệ thống để thanh tẩy khỏi bốn tầng tâm con không chỉ các hình ảnh bất toàn mà cả các năng lượng tha hóa được lưu giữ nơi bốn tầng, do ánh sáng Thượng đế bị hạ thấp độ rung bởi các hình ảnh bất toàn này.

Hiểu biết là sức mạnh. Khi con nhận ra các điều kiện vỏ ngoài con phải đối diện là sản phẩm của những hình ảnh con giữ trong bốn tầng tâm con, bỗng nhiên con đạt được uy lực to lớn để thay đổi đời mình bằng cách đơn giản thay đổi chúng đi. Con không còn cần cảm thấy mình là một nạn nhân bất lực của những tình huống nằm ngoài khả năng thay đổi của mình. Con có thể bắt đầu cảm thấy mình làm chủ vận mạng của mình. Đối với nhiều người, điều này sẽ đòi hỏi một sự điều chỉnh lớn lao. Nhiều người đã lớn lên với ý tưởng mình là nạn nhân. Nhiều người trách cha mẹ, trách xã hội, trách vận rủi hay trách cả Thượng đế về những hoàn cảnh họ phải đối mặt trong đời, cho nên có thể họ sẽ khó khăn điều chỉnh để có thể chấp nhận là mọi hoàn cảnh mình đối diện, hoặc là sản phẩm của chính mình, hoặc do chính mình thu hút về mình qua các hình ảnh trong tâm mình. Thế là bỗng nhiên, mọi trách nhiệm được đặt lên vai con. Chính con là tác giả và cũng là người hoàn tất số mạng của con – không có ai khác đáng trách ngoài chính con.

15.7. Lấy lại quyền làm chủ đời mình

Khi thày nhìn trái đất ngày hôm nay, thày thấy hàng tỷ người bị kẹt ở ngay điểm này là không muốn nhận trách nhiệm hoàn toàn về bản thân mình. Họ không muốn nhìn nhận là họ có tiềm năng thay đổi mọi khía cạnh của đời họ, mọi khía cạnh trong hoàn cảnh của họ, bằng cách tự thay đổi bản thân, thay đổi các tin tưởng, thái độ và cách tiếp cận cuộc sống của mình. Thậm chí thày còn thấy nhiều người tầm đạo tâm linh bị kẹt lại ở mức này do không chịu nhận trách nhiệm một cách trọn vẹn và chung cuộc. Họ biết là cuộc sống có một khía cạnh tâm linh và họ đã – một số trong hàng chục năm trời – tich cực đeo đuổi sự phát triển tâm linh bằng cách gia nhập nhiều tổ chức, học hỏi nhiều giáo lý và thực hành nhiều pháp tu nhằm gia tốc tăng triển tâm linh. Nhiều người trong số đó đã làm mồi cho cái bẫy do ông hoàng của thế gian giăng ra, cụ thể là con đường vỏ ngoài, con đường giả hiệu, con đường có vẻ đúng cho người phàm nhưng cuối cùng là con đường chết. Đây là con đường bảo rằng con không cần nhận trách nhiệm trọn vẹn và tuyệt đối về chính con, con không cần thật sự – một cách chân thành – thay đổi chính mình, thay đổi hình ảnh mình cầm giữ trong tầng sâu nhất của tâm mình. Con chỉ cần tin vào một số tín điều, tuân theo một số luật lệ vỏ ngoài và thực hành một số kỹ thuật vỏ ngoài, thì con sẽ tự động được cứu rỗi, con sẽ tự động biểu hiện một trạng thái tâm thức cao hơn. Trong các chương trước, thày đã làm tất cả những gì thày có thể nghĩ đến để phơi bày sự sai lầm của lời dối này, và thày hy vọng con có thể chấp nhận đó là một sai lầm và con cũng hiểu tại sao nó sai lầm.

Chìa khóa để hiểu điều này là nhận ra các hình ảnh con giữ trong bốn tầng của tâm con không tự dưng xuất hiện từ hư vô. Con cai quản quả cầu cái ta của con, cái Ta Biết nắm quyền – hay đáng lẽ phải nắm quyền – điều khiển quả cầu cái ta của con. Cái Ta Biết được trù liệu để cai quản bốn thể phàm của con. Không gì có thể đi vào các thể này mà không có sự chấp thuận ý thức của con – trừ khi, tất nhiên, nếu con khước từ quyền lấy quyết định của mình và cho phép cái ta hữu diệt định đoạt những gì đi vào tâm con.

Bốn thể phàm của con là những cỗ xe để con biểu đạt trong cõi vật chất, nghĩa là chúng rung động trong cùng phổ tần số của vũ trụ vật chất. Hiện nay cõi vật chất chưa có đủ lượng ánh sáng và sự thật được tìm thấy ở cõi tâm linh. Điều này đặc biệt đúng đối với trái đất, một hành tinh khá tăm tối nhìn từ góc độ vũ trụ. Khi dòng sống của con bước xuống cõi vật chất trên hành tinh trái đất, bốn thể phàm được tạo ra như một cỗ xe để con biểu đạt trên hành tinh này. Ở nguyên thủy, các thể này hình thành một quả cầu được bảo vệ trong cõi vật chất. Nhưng thực tế hiện nay trên trái đất là con bị bao quanh bởi nhiều hình ảnh bất toàn và năng lượng tha hóa không ngừng tìm đường xâm nhập vào tâm thức con. Mặc dù các hình ảnh và năng lượng này có thể rất hung hãn, nhưng ở ban đầu con được trang bị một bức tường bảo bọc xung quanh con ngăn cản bất kỳ ý tưởng hay năng lượng tha hóa nào xâm nhập bốn thể phàm của con. Con có một hệ miễn dịch tâm lý cũng giống như con có một hệ miễn dịch vật lý. Không gì có thể đi vào bốn thể phàm mà không có sự ưng thuận của con. Con phải cho phép nó vào, và vì vậy tất cả những gì đã vào được là do con đã quyết định như thế. Có thể con đã lấy quyết định để cho cái ta hữu diệt làm người gác cổng cho vương quốc của con, tuy nhiên đó vẫn là một quyết định mà chính con đã lấy.

Con yêu dấu, thày biết rõ điều này đặt trách nhiệm lên vai con, nhưng nó cũng đem lại hệ quả tuyệt vời là đặt mọi quyền hạn trong tay con, hay đúng hơn trong tâm con. Nhận lãnh trách nhiệm cho đời mình không nhất thiết là một điều đáng ngại mà kỳ thực là một sự giải thoát. Khi con lãnh trách nhiệm đời con, con có thể giành lại quyền năng thay đổi đời con. Khi con nhận ra là không gì có thể đi vào bốn thể phàm của mình mà mình không đồng ý, lập tức con giành lại quyền thanh lọc bốn thể đó. Điều cũng đúng tương tự là không gì có thể ở lại trong các thể này mà không có con đồng ý. Nếu con phơi bày một ý tưởng nhị nguyên, một ý tưởng khởi lên từ tâm phản Ki-tô, và nếu con quyết định là con không muốn nó ở lại trong bản thể, thì nó sẽ bị trục xuất và được thay thế bởi sự thật Ki-tô mà con đã chọn thay vào lời dối của phản Ki-tô.

15.8. Quyền năng của tâm

Thày đã cố giúp con khắc phục mọi cảm giác tội lỗi, mọi xu hướng lên án bản thân về lỗi lầm của mình. Thày đã làm mọi cách mà thày có thể nghĩ ra để giải thích cho con là Đấng Sáng tạo không muốn con cảm thấy có tội về lỗi lầm của mình. Tại sao thày đã làm vậy? Thày biết rõ qua kinh nghiệm là có một điều hơn bất cứ gì khác ngăn cản con người nhận trách nhiệm về đời mình và số phận của mình, đó là xu hướng tự lên án, cảm thấy tội lỗi về lỗi lầm của mình. Để tránh nỗi đau tội lỗi và xấu hổ, họ từ chối không nhìn vào, không nhìn nhận lỗi lầm của mình, và tất nhiên điều này ngăn họ thoát ra khỏi lỗi lầm đó.

Việc con tự trách móc là một phóng chiếu của ông hoàng thế gian, từ tâm phản Ki-tô. Các lực này muốn dồn con vào một thế kẹt lưỡng nan tâm linh bằng cách trước hết đánh lừa, gạt gẫm để con phạm lỗi. Xong chúng cố khiến con cảm thấy tội lỗi vì con đã phạm lỗi đến độ con sẽ không bao giờ trở về được với Thượng đế, không bao giờ được cứu chuộc, không bao giờ được giải phóng khỏi những quyết định mình đã lấy trong quá khứ.

Khi con ngộ ra là tất cả những gì mình phải đối mặt, tất cả mọi khía cạnh trong cảnh ngộ của mình, là kết quả của những chọn lựa mình đã lấy, con nắm được uy quyền tuyệt vời là bất kỳ chọn lựa nào trong quá khứ cũng có thể được thay thế tức khắc bởi một chọn lựa tốt hơn trong hiện tại. Làm chuyện này vô cùng đơn giản một khi con hiểu làm cách nào, một khi con chấp nhận là mình có quyền năng, cái Ta Biết có quyền năng thay đổi bất kỳ quyết định nào mình đã lấy trong quá khứ. Con luôn luôn có quyền năng thay thế một quyết định không mấy tốt bằng một quyết định tốt hơn.

Không gì có thể lấy đi quyền năng này khỏi con, kể cả cái ta hữu diệt lẫn ông hoàng thế gian. Cái ta hữu diệt và ông hoàng thế gian đang cố hết sức khiến con tin rằng chúng có thể tước đi quyền năng này khỏi con hay con có thể đánh mất nó khi con phạm lỗi. Chúng làm vậy bằng cách khiến con cảm thấy con là nạn nhân của những lực vượt khỏi tầm kiểm soát của con và do đó con không có cách nào thay đổi một số điều kiện bằng cách chỉ đơn giản thay đổi tâm mình. Chúng chế giễu khả năng thay đổi thế giới qua việc thay đổi chính mình, và trong xã hội duy vật ngày nay – vì chủ nghĩa duy vật chính là thiết kế của ông hoàng thế gian – chúng đã khá thành công khiến cho người ta mua món hàng nhạo báng của chúng.

Thày đã nghe người ta bàn về đề tài này từ hàng thế kỷ. Thày đã nghe từ những kẻ hoài nghi nghĩ ra đủ loại lý lẽ, thày đã nghe họ chế giễu, nhạo báng ý tưởng rằng con có khả năng thay đổi hoàn cảnh vỏ ngoài của mình bằng cách thay đổi tâm mình. Thày biết luận cứ của họ, thày biết nhạo báng của họ, thày đã nghe họ chê cười không ngưng nghỉ các ý tưởng thày đang trình bày cho con. Thế nhưng người ta thường nói: “Người nào cười chót hết là người cười hay hơn hết.” Thày có thể cam đoan với con là người biết sự thật Ki-tô sẽ là người cười chót hết. Một khi con thăng thiên vào cõi tâm linh và đã giải thoát khỏi mọi hạn chế hữu diệt, con sẽ thật sự ở trong vị thế có thể cười chót hết.

Suốt các thời đại đã có những người khám phá quyền năng của tâm mình, và họ đã dùng quyền năng này để thay đổi hoàn cảnh của họ cho tốt đẹp hơn. Một số đã dùng để thể hiện hoàn cảnh vật chất tốt hơn cho đến khi thỏa nguyện mong muốn. Một số đã dùng để tích lũy kho báu trên thiên đàng và thăng vượt cõi vật chất hoàn toàn, hầu họ có thể tiến tới chinh phục sự sống vĩnh hằng ở cõi tâm linh. Giê-su là một ví dụ điển hình của một người đã dùng quyền năng của tâm mình để thăng vượt vòng tử sinh, thăng vượt vòng luân hồi của đau khổ và đấu tranh. Chính thày đây cũng đã làm vậy, và ở cõi tâm linh có vô số sinh thể đã thăng thiên từ trái đất. Các thày có thể ngồi trên đây và nhìn xuống những kẻ hoài nghi đang chối bỏ quyền năng của chính tâm họ, và các thày có thể cười họ. Nhưng các thày không muốn cười các anh chị em chưa thăng thiên của mình. Các thày muốn lấy con đường từ bi, tìm cách soi sáng các anh chị em chưa thăng thiên để chính họ cũng biết làm cách nào họ có thể sử dụng quyền năng của tâm họ để giải thoát khỏi những vòng khổ ải, đau đớn và hạn chế dường như bất tận.

15.9. Giải tỏa rào cản trong bốn tầng của tâm

Con yêu dấu, ngay từ đầu khóa học này, thày đã nói là Cha rất vui lòng trao vương quốc cho con. Lý do duy nhất con không có dồi dào của Thượng đế biểu hiện trong đời mình là vì có cái gì đó đang ngăn chặn nó. Cái gì ngăn chặn dồi dào của Thượng đế? Đó là con đã tạo ra những khối chắn trong bốn tầng của tâm con, trong bốn thể phàm của con. Sự sống dồi dào chỉ có thể đến từ một nơi, nó phải đến từ cõi tâm linh xuyên qua Hiện diện TA LÀ của con. Nếu con muốn sự sống dồi dào trải bày ra trong các hoàn cảnh vật lý trong đời con, thì sự sống dồi dào cùng với viễn quan tinh khiết của sự sống dồi dào được lưu trữ nơi Hiện diện TA LÀ, phải được cho phép tuôn chảy không cản trở, không pha loãng, xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất cho đến khi nó xuống đến cõi vật lý và được chuyển thành điều kiện vật lý. Con không có cách nào khác để có sự sống dồi dào mà Thượng đế mong muốn ban cho con.

Vì mong muốn của Thượng đế là con có sự sống dồi dào, cho nên điều duy nhất có thể ngăn con có được dồi dào chính là một khối chắn, và khối chắn này bắt buộc phải nằm giữa cõi vật lý của trải nghiệm vật lý và cõi tâm linh nơi viễn quan của Thượng đế cư ngụ. Điều đang ngăn chặn sự sống dồi dào là cái gì đó nằm xen kẽ giữa viễn quan Thượng đế và trải nghiệm vật lý của con. Thày đã giải thích là nằm giữa trải nghiệm vật lý của con và viễn quan thuần khiết của Thượng đế có bốn tầng tâm con. Khi con loại bỏ khối rào cản trong bốn thể phàm của mình, thì viễn quan Thượng đế về sự sống dồi dào sẽ có thể biểu hiện thành thực tế vật lý cho con – nếu con chịu đảm nhiệm vai trò của mình.

Con được thiết kế để là một người đồng-sáng tạo cùng với Thượng đế. Con được thiết kế để với lên tầng mức Hiện diện TA LÀ và thấy được viễn quan dồi dào toàn hảo của Thượng đế dành cho con. Khi con nắm lấy viễn quan này, con có thể đem nó vào thể bản sắc, con có thể đặt toàn bộ ý niệm bản sắc của con, là bản sắc liên quan đến cách con tự biểu đạt trong cõi vật chất, trên nền tảng viễn quan dồi dào của Thượng đế. Xong con có thể đem viễn quan này xuống tầng mức của tư tưởng và làm cho nó cụ thể hơn bằng cách nối liền nó với các điều kiện con gặp trên trái đất. Sau đó, con có thể đem nó xuống tầng mức của cảm xúc và chuyển nó thành mong muốn, là mong muốn đích thực của Thượng đế sẽ không giới hạn mà sẽ chỉ nhân lên khả năng sáng tạo của con. Con có thể dùng những mong muốn này – vị thần linh đang sinh tạo xuyên qua con – để phú cho tư tưởng sức mạnh và phương hướng cần thiết hầu tư tưởng chuyển thành hành động vật lý và hoàn cảnh vật lý. Và như thế, con có thể đồng-sáng tạo sự sống dồi dào ngay đây trên hành tinh địa cầu.

Nếu con mang những khối chắn trong bất kỳ thể phàm nào, thì hoặc chúng sẽ bẻ quẹo, hoặc chúng sẽ chặn đứng toàn bộ sự biểu lộ, sự đi xuống của đời sống dồi dào, sự giáng thế của viễn quan thuần khiết của Thượng đế. Nếu cuộn phim trong thể bản sắc của con bị méo mó, cong queo, dơ bẩn, hay nếu cuộn phim chứa đựng hình ảnh bất toàn, thì những hình ảnh này hoặc sẽ che khuất, hoặc sẽ bóp méo viễn quan thuần khiết của bản sắc thiêng liêng và cá thể của con. Tương tự như vậy, các cuộn phim ở những tầng thấp hơn trong tâm con cũng có thể bóp méo hay chặn đứng viễn quan đó. Rốt cuộc con có thể rơi vào tình trạng là không một phần nào của viễn quan nguyên thủy mà Thượng đế dành cho con có thể xuống được tâm ý thức và cõi vật lý. Đời con trở thành một cuộc vật lộn thay vì một vòng xoắn ốc hướng thượng càng ngày càng dồi dào đúng theo thiết kế. Viễn quan thuần khiết của Thượng đế, viễn quan sự sống dồi dào, không thể bị biến đổi hay tiêu hủy bởi bất cứ gì trong cõi vật chất, cho nên viễn quan này vẫn tồn tại ở mức Hiện diện TA LÀ, vẫn được lưu trữ trong tâm Ki-tô hoàn vũ. Tất cả những gì con cần làm là loại bỏ các rào cản khỏi bốn tầng tâm con để cái Ta Biết trở về ý niệm bản sắc đích thực, thay vì đồng hóa với một sinh thể phàm trần hữu diệt bị giam cầm trong một loạt những hoàn cảnh vượt khỏi tầm kiểm soát của nó. Khi con biết mình là ai và tại sao mình ở đây, con có khả năng thị hiện viễn quan toàn hảo đó của Thượng đế cho đời con, cho hành trình của con trong vũ trụ vật chất.

15.10. Tâm con ở tầng nào thì con tìm dồi dào ở tầng đó

Hãy để thày giải thích khái niệm này từ một góc nhìn hơi khác. Mọi người đều ở những tầng tâm thức khác nhau, và chúng ta hãy chuyển dịch khái niệm này vào bốn thể phàm. Cái Ta Biết – trong không gian và thời gian, trong cái ngay đây ngay bây giờ – là điều nó nghĩ nó là, có nghĩa là ý niệm bản sắc của con sẽ khoác vào các hình ảnh mà con tập trung chú ý. Một số người hoàn toàn tập trung vào vũ trụ vật chất và cơ thể vật lý của họ. Họ đã dần dà tự đồng hóa với thế giới vật lý và cơ thể vật lý mà thôi. Cái ta ý thức của họ đã quên mất, hay đã bỏ mất mọi ý niệm mình thực sự là ai, cụ thể mình là một sinh thể tâm linh vô biên bất diệt. Thay vào đó, cái ta ý thức của họ tự nhận diện là một cơ thể vật lý đang sống trong vũ trụ vật lý trên hành tinh trái đất. Họ tin tuyệt đối là cách duy nhất để biểu hiện sự sống dồi dào là xuyên qua việc lao động thân xác và vận dụng vật chất vật lý, tức là những gì họ có thể thấy được và chạm được qua giác quan của thân thể. Họ không có nhận thức gì – và do đó không có khả năng sử dụng – bất kỳ loại năng lượng nào cao hơn, thanh nhẹ hơn, mà thày có gọi là năng lượng tâm lý. Thậm chí nhiều người trong số họ còn không liên lạc được với chính cảm xúc của mình, và do đó không có khả năng dùng cảm xúc để thay đổi hành động vật lý và tìm ra những cách kiếm sống tốt hơn. Tương tự, họ cũng không liên lạc được với ý nghĩ của họ, không có khả năng dùng sức mạnh của tư tưởng để tìm những cách tốt hơn mà biểu hiện dồi dào.

Cuộc tìm kiếm dồi dào của họ bị giới hạn trong vật chất vật lý, trong các năng lượng đã sẵn được đem xuống tầng thấp nhất của vũ trụ vật chất là cõi vật lý. Họ chính là những người “phải làm lụng đổ mồ hôi trán mới có mà ăn” (Genesis 3:19). Nhiều người trong số họ lao lực cả đời bằng cách bán sức lao động của mình cho những ai trả giá cao nhất. Đây là những người làm thuê mà không bao giờ có cơ hội thu thập nhiều dồi dào hơn là một việc làm với lương cố định. Thày không bảo là chuyện này nhất thiết là sai, mà thày chỉ nói là chuyện này không bao giờ có thể giúp họ thị hiện một sự dồi dào lớn hơn những gì được áp đặt bởi thị trường lao động nơi họ sinh sống. Nhiều người trong số họ chơi xổ số với hy vọng một vận may sẽ biến họ thành người giàu có, thế nhưng họ không sẵn lòng thay đổi cách tiếp cận cuộc sống của họ để thị hiện nhiều dồi dào hơn.

Có những người cũng nhận ra là họ không thể thị hiện nhiều dồi dào hơn qua việc làm thuê. Một số đã cố tìm những cách khác để tích tụ dồi dào mà vẫn chỉ dùng đến năng lượng trong cõi vật lý. Mặc dù một số đã thành công làm giàu qua cách này, nhưng hầu hết thì không thể nào. Thật vậy, một số đã quay sang làm chuyện phi pháp như một cách chiếm đoạt bằng vũ lực những gì họ không thể kiếm được qua việc bán sức lao động. Những người này bị đồng hóa hoàn toàn với tầng thấp nhất của vũ trụ vật lý và họ vẫn chưa phát triển được khả năng với lên cao hơn tầng này.

Ở một mức nhận biết cao hơn, con tìm thấy những người nhận ra cuộc sống là nhiều hơn năng lượng của cõi vật lý. Có những năng lượng cao hơn, và bằng cách dùng năng lượng này họ có thể nâng cao cuộc sống và biểu hiện nhiều dồi dào hơn. Thày đã có nói tới năng lượng tâm lý là bất kể loại năng lượng nào vượt ngoài cõi vật lý nhưng bên dưới cõi tâm linh.

Bây giờ chúng ta có thể thấy là năng lượng tâm lý có thể chia làm ba cấp độ – có năng lượng tình cảm, năng lượng lý trí và năng lượng ở mức bản sắc. Một số người nhận biết được loại năng lượng tâm lý rung động ở phổ tần số cảm xúc và họ đã học được cách dùng nó trong đời sống. Cách họ làm là dùng chính cảm xúc của họ, và thường khi họ thị hiện dồi dào bằng cách quyến rũ, hay khuynh loát, cảm xúc của người khác. Con sẽ thấy điều này nơi nhiều nghệ sĩ hay diễn viên. Chẳng hạn một ca sĩ có thể trở nên nổi tiếng và tích tụ của cải vật chất to lớn qua việc sản xuất loại âm nhạc khơi dậy cảm xúc nơi người nghe. Cũng vậy, nhiều người lôi cuốn được tình cảm của người khác, và một ví dụ là các nhà chính trị có khả năng đạt quyền lực qua việc kích động cảm xúc của quần chúng xung quanh một mục tiêu cụ thể.

Hiển nhiên những người như vậy có một nhận biết về các năng lượng vi tế cao hơn là loại người đầu tiên. Họ thường có quyền lực trên những người thiên nhiều hơn về vật chất. Những người chú tâm vào cõi vật chất thường không nhận thức được cảm xúc của mình và không thể, một cách ý thức, chế tạo một cảm xúc đặc thù nào đó. Cho nên đúng vậy, những ai đã điều ngự được cõi cảm xúc có thể giúp người khác sản xuất một cảm xúc đặc thù và được trả tiền khi làm vậy. Tất nhiên họ cũng nắm quyền lực trên người kia xuyên qua cảm xúc, và họ có thể dễ dàng kích động người kia hành xử theo một cách nào đó.

Điều này thể hiện một mức độ nhận biết cao hơn, và việc sử dụng năng lượng tình cảm để thị hiện dồi dào không nhất thiết là sai trái. Nhưng nếu nhận biết của họ không đạt đến mức tâm Ki-tô, sẽ có nguy cơ rất lớn là họ có thể dùng năng lượng cảm xúc cho những mục tiêu vị kỷ. Vì họ không có nhận thức về cái Tất Cả, họ sẽ chỉ giản dị giật dây cảm xúc của người khác để đạt được những thứ họ muốn. Một ví dụ điển hình là nhân viên bán hàng khuynh loát khách hàng mua một món đồ đắt tiền để được nhiều hoa hồng. Một ví dụ cùng cực là Adolf Hitler, một tay thiện nghệ trong kỹ thuật khuynh đảo cảm xúc quần chúng. Ông ta không làm vậy từ mức tâm Ki-tô, mà ông đã dùng tâm phản Ki-tô để đạt mục tiêu của mình. Đó là tại sao ông đã dấy lên một lực đối nghịch mãnh liệt đến độ rốt cuộc nó đập tan tham vọng thống trị thế giới của ông. Suốt dòng lịch sử, một số tội ác tàn bạo nhất quả thật đã được gây ra bởi những kẻ học được cách thao túng năng lượng cảm xúc nhưng chưa đạt được sự điều ngự của con tim vốn chỉ xuất phát từ tâm Ki-tô.

Ở mức cao hơn kế tiếp, con gặp những người đã đạt được một trình độ nhận biết cao hơn về cõi lý trí và quyền năng của tư tưởng. Con thường tìm thấy những người như vậy trong các cơ sở giáo dục, trong số các nhà khoa học có khả năng trí tuệ cao độ và là chuyên gia sử dụng năng lượng tư tưởng. Nhiều người trong số này đã có thành tựu to lớn và nhận biết sâu sắc về cõi vật chất. Thậm chí con còn thấy nhiều triết gia hay nhà thần học với hiểu biết trí thức sâu rộng về khía cạnh tâm linh của cuộc sống. Một lần nữa, nếu không có nhận biết của tâm Ki-tô thì một số hiểm họa nghiêm trọng có thể hiện ra. Con sẽ thấy nhiều nhà khoa học phủ nhận khía cạnh tâm linh của cuộc sống, kể cả khía cạnh tâm linh của chính bản chất con người họ.

Làm sao những người như vậy có thể vượt quá được tầng lý trí? Họ không thể vượt quá được tầng này, và đó là tại sao con thấy họ, suốt một kiếp sống, vẫn cứ tiếp tục là người trí thức và cuối cùng thì họ tiếp tục là kẻ bất mãn. Đa số sẽ lập tức bác bỏ lời nhận định này, và họ sẽ bảo là họ hoàn toàn thỏa mãn với cuộc đeo đuổi trí thức của họ. Nhưng nếu con có thể nhìn vào tâm lý của họ, con sẽ thấy có gì đó đang ăn mòn hạnh phúc của họ, có gì đó thiếu sót trong đời họ. Họ biết là có gì thiếu sót nhưng họ không biết cái đó là gì, bởi vì họ không chịu với lên cao hơn tầng lý trí để nhìn nhận bản sắc thực của họ là một sinh thể tâm linh. Vấn đề ở đây là trí năng rất giỏi biện minh cho quan điểm của mình và thuyết phục người khác, và điều này cho họ một cảm giác uy quyền sẽ đánh bẫy họ trong niềm tin là họ luôn luôn đúng, và bên ngoài lý luận trí thức thì không hề có sự thật nào cả. Nếu những người như vậy không có phân biện Ki-tô, không có cách chi con giúp được họ nhìn ra các giới hạn của lý luận nhị nguyên.

Các thày thông giáo và người Pha-ri-si thuở trước có một hiểu biết trí thức lớn rộng về thần học, nhưng họ không sẵn lòng với lên tâm Ki-tô. Đó là tại sao họ không thể nhận diện Ki-tô Hằng sống khi thày xuất hiện ngay trước mặt họ bằng xương bằng thịt. Thay vì nhận ra Ki-tô trong Giê-su thì họ lại đàn áp thày và âm mưu để thày bị giết hại. Họ không muốn thày làm xáo trộn sự yên ổn của họ trong khi họ kiểm soát được mọi chuyện và nhét được nguyên vũ trụ vào chiếc hộp tư duy của họ. Một người rất có thể tập trung vào tầng tư tưởng mà vẫn không nhận biết được những gì ở trên, đồng thời không điều ngự được những gì ở dưới. Đó là tại sao con thấy nhiều nhà trí thức không điều ngự được cảm xúc của mình để có thể chuyển ý tưởng của mình thành hành động.

Khi con vượt quá tầng lý trí, con bước vào tầng bản sắc. Đây là tầng cao nhất của cõi vật chất, và hầu hết mọi người trên hành tinh địa cầu hoàn toàn không hay biết gì về tầng này cùng tầm quan trọng của nó. Tại sao họ lại không biết đến cõi bản sắc? Các hình ảnh được lưu giữ trong thể bản sắc chính là nền tảng cho sự biểu đạt của con trong vũ trụ vật chất, nền tảng cho cách con nhìn mình và nhìn cuộc sống như thế nào. Nếu con thấy mình, nếu cái Ta Biết thấy nó là một sinh thể tâm linh bất diệt chỉ đang tự biểu đạt xuyên qua bốn thể phàm, thì có khả năng là con nhận biết được thể bản sắc của con vì con biết con là nhiều hơn nội dung của thể này. Nếu vậy thì con có quyền năng thay đổi các hình ảnh trong thể bản sắc theo viễn quan toàn hảo của tâm Ki-tô. Nếu con đã mất ký ức về bản sắc thật của mình như một sinh thể tâm linh, nếu con nhận diện mình như một sinh thể vật chất, thì đơn giản con sẽ không thể nhận biết được thể bản sắc cùng khả năng thay đổi ý niệm bản sắc của mình dựa theo bất cứ gì vượt khỏi vật chất. Con không thể có quyền năng thay đổi ý niệm bản sắc một cách ý thức, và lý do là vì nếu con thấy mình là một sinh thể hữu diệt thì chính bản sắc này vượt ra ngoài mọi chất vấn. Bản sắc của con sẽ bị giam trong các hình ảnh được lưu trữ trong thể bản sắc và con sẽ coi chúng là đương nhiên. Bản sắc của con sẽ dựa trên những hình ảnh và tin tưởng mà con nghĩ không thể được chất vấn, không nên chất vấn hay không cần chất vấn bởi vì chúng đúng tuyệt đối. Con xem chúng như lời sấm, con xem chúng là sự thật không thể sai lầm, bất di bất dịch.

Con không tin là có hiểu biết nào lớn hơn ngoài các hình ảnh đã được lập trình vào thể bản sắc của con bởi cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian. Con đã hoàn toàn mắc kẹt trong ảo tưởng mình là một con người giới hạn, hữu diệt. Vì con không thể sống mà không có một ý niệm bản sắc, cho nên việc chất vấn ý niệm bản sắc có thể khiến con mất chân đứng, mất nền tảng trong cuộc sống. Con không thể chất vấn các tin tưởng trong thể bản sắc chừng nào con còn nghĩ là không có gì khác vượt quá hình ảnh đó về bản thân. Chìa khóa để phá vỡ bế tắc này là nhận ra có gì đó nhiều hơn cái bản sắc được tìm thấy trong thể bản sắc của con.

Trong thời đại hôm nay, nhiều người đã có được một nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống và thế giới vật chất, kể cả nhận thức lớn hơn về năng lượng tâm lý. Nhận thức lớn hơn này và khả năng sử dụng năng lượng tâm lý không nhất thiết tương đương với việc đạt được tự do tâm linh thật sự và sự sống dồi dào. Có hiểm họa là người ta có thể dùng cái biết về năng lượng tâm lý để đoạt những thứ mình muốn bằng vũ lực, đoạt nó từ người khác, thường thường qua việc khuynh loát tư tưởng hay cảm xúc của người khác. Khi làm vậy, họ khóa chặt mình vào con đường giả, con đường có vẻ đúng cho người phàm nhưng lại dẫn đến cái chết tâm linh. Cách duy nhất để tránh mắc vào bẫy này, cái bẫy do cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian giăng ra, là với lên cao hơn vũ trụ vật chất và nhận ra là có gì đó vượt khỏi tâm nhị nguyên, vượt khỏi tâm phản Ki-tô.

Cách duy nhất để thoát ra khỏi nhà tù do các thế lực thế gian tạo ra là với lên cái hiểu cao hơn của tâm Ki-tô. Con chỉ có thể tìm thấy cái hiểu cao hơn này bằng cách với ra ngoài vũ trụ vật chất, và để làm vậy, con phải sẵn lòng thách thức các hình ảnh trong thể bản sắc của con bảo rằng con không là gì hơn một người phàm trần hữu diệt.

Hầu hết mọi người đều bị kẹt lại ở các tầng vật lý, cảm xúc hay lý trí, và họ sẽ không bao giờ vượt quá tầng của họ cho đến khi họ chịu chất vấn những gì mà cho tới giờ họ xem là vượt ngoài mọi chất vấn. Họ sẽ không vượt lên được cho tới khi họ sẵn lòng thách thức chính những ý tưởng cùng tin tưởng mà cho tới giờ họ xem là đương nhiên, là những sự thật không thể sai lầm, không thể hoặc không nên tra vấn. Chỉ khi nào con sẵn lòng thách thức niềm tin rằng con là một sinh thể hữu diệt, hay con là một kẻ có tội khốn nạn, thì con mới có thể tiếp xúc với tâm Ki-tô và nhận được sự thật rằng con là một sinh thể tâm linh bất diệt, một người đồng-sáng tạo với Thượng đế của con. Chỉ khi đó con mới thoát khỏi được cái bẫy của tình trạng hữu diệt, là điều mà Kinh thánh thật sự nói đến qua câu “sự chết là kẻ thù cuối cùng” (1Corinthians 15:26). Đây là cái bẫy của con đường giả trá dẫn đến cái chết tâm linh thay vì sự tự thăng vượt vĩnh cửu khi con chảy với Dòng sông sự Sống và không ngừng đồng-sáng tạo với Thượng đế.

15.11. Không từ dưới đi lên, mà từ trên đi xuống

Những gì thày đang nói với con ở đây chính là tinh túy của sự sống, tinh túy của việc thị hiện sự sống dồi dào. Thày biết là những ý tưởng này có vẻ hơi trừu tượng, nhưng trong các chương kế tiếp thày sẽ trình bày thực tiễn hơn cho con. Điều thày muốn đạt được trong chương này là giúp con hiểu rằng bí mật thật sự của việc thị hiện dồi dào là con cần khuếch trương sự nhận biết về bốn thể phàm của con. Thật quan trọng con hiểu được sự thật sau đây, là một sự thật thường bị các đạo sư về thịnh vượng trên thế giới bỏ qua.

Người ta thường nghĩ là để thanh lọc bốn thể phàm, con nên bắt đầu từ dưới đi lên. Dù sao thì thày cũng đã nói, vấn đề thực sự trên trái đất là con người đã rơi xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn. Điều này đã xảy ra vì họ đã từ từ làm ô nhiễm bốn thể phàm của mình bằng những hình ảnh bất toàn cho đến khi cái ta ý thức của họ bắt đầu tự đồng hóa với cơ thể vật lý và cõi vật lý. Ý niệm bản sắc của họ dần dà bị hạ thấp xuống mức vật lý, cho nên con có thể nghĩ là con cần khởi sự ở nơi con đang đứng và làm việc từ dưới đi lên.

Con sẽ làm giống như nhiều người đang làm trong thế giới ngày nay. Con sẽ tìm cách thanh lọc và tăng thể lực cho cơ thể vật lý qua nhiều cách khác nhau. Ở ngoài kia có rất nhiều phương pháp tập tành cơ thể, chẳng hạn như chế độ ăn uống, tập thể dục hay làm sạch cơ thể cho không còn độc tố. Nhiều người đã có tiến bộ qua việc thanh tẩy thể xác, cho nên thày không đang bảo là con không nên chăm sóc cơ thể. Thế nhưng động cơ và mục tiêu đằng sau nỗ lực tập tành mới quan trọng hơn cả.

Con có thể cho rằng để tìm lại ý niệm bản sắc đích thực của mình, con sẽ bắt đầu với việc thanh lọc cơ thể. Xong đến bước kế tiếp, con sẽ học cách làm chủ cảm xúc của con, rồi đến tư tưởng, và chỉ sau đó con mới bắt đầu thay đổi ý niệm bản sắc. Đây là con đường có vẻ đúng đắn cho một người phàm vì nó có vẻ quá hợp lý và lô-gích. Mặc dù con có thể tiến bộ đôi chút theo cách này, nhưng con sẽ tiến rất chậm và con sẽ không thể tiến xa hơn một mức nào đó. Thanh lọc cơ thể, cảm xúc và tư tưởng, thậm chí cả làm việc với ý niệm bản sắc của mình, cũng sẽ không tự động biến con thành một sinh thể Ki-tô. Nó có thể biến con thành một sinh thể phàm trần vô cùng tinh xảo và mạnh mẽ, có khả năng tạo ra một số hiện tượng nào đó – kể cả của cải vật chất – nhưng sinh thể này sẽ không thấy bất cứ lý do nào để buông bỏ cảm giác là mình tự chủ bằng cách quy hàng tâm Ki-tô.

Con không thể đạt được tiến bộ tối hậu bằng con đường này. Lý do là vì tâm ý thức của con không thể thay đổi cảm xúc của con – nó chỉ có khả năng kềm nén cảm xúc. Cũng vậy, thể tình cảm của con không thể thay đổi tư tưởng của con – nó chỉ có khả năng lựa ra những ý tưởng phù hợp với ham muốn của nó xong tìm cách ngăn chặn các ý tưởng còn lại. Thể lý trí của con không thể thay đổi ý niệm bản sắc của con – nó chỉ có khả năng che phủ bản sắc này bằng một hình ảnh trí năng. Đơn giản là con sẽ chỉ tìm cách tạo ra bằng tâm ý thức một chương trình máy tính có khả năng áp đảo các chương trình ở những tầng cao hơn của tâm con. Điều này sẽ chỉ gia tăng sự phân rẽ và căng thẳng nội tâm, cho nên một cách tiếp cận hay hơn gấp bội là con khởi sự từ trên và loại bỏ các chương trình đang giới hạn con.

Nếu con tìm cách kềm nén các ý nghĩ và cảm xúc sâu hơn, con sẽ đi theo con đường vòng vèo nhất dẫn con vào ngõ cụt, và ngõ cụt này là con tìm cách hoàn thiện cái ta hữu diệt mà cứ tưởng là một khi nó đáp ứng một chuẩn mực toàn hảo nào đó, một chuẩn mực dựa trên tâm nhị nguyên, thì nó sẽ được chấp nhận trong mắt Thượng đế và nhờ vậy có thể làm cỗ xe đưa con lên thiên đàng. Trong các chương trước, thày đã bỏ ra rất nhiều thì giờ trình bày về sự cần thiết phải để cho ý niệm bản sắc hữu diệt chết đi. Đó là để giúp con tránh không rơi vào cạm bẫy cứ cố hoàn thiện ý niệm bản sắc đó theo một chuẩn mực nhị nguyên, một chuẩn mực sẽ không bao giờ chấp nhận được trong mắt Thượng đế vì nó không dựa trên tâm Ki-tô.

Chìa khóa thực sự cho sự sống dồi dào là ngộ ra sự thật thày đã nói với con, cụ thể là trung tâm cuộc sống của con là cái Ta Biết cùng những quyết định con lấy. Cái Ta Biết có khả năng tự đồng hóa với, và tự đồng hóa như, bất cứ gì nó nghĩ đến, dù là trong thế gian này hay vượt khỏi thế gian. Chìa khóa thực sự cho dồi dào là nhận biết được cái Ta Biết, nhận biết được rằng con là những gì con nghĩ con là. Thay vì làm việc từ dưới đi lên xuyên qua bốn thể phàm và có thể bị kẹt lại ở bất cứ tầng nào nơi con đạt được một khả năng thiện nghệ nào đó mà con không sẵn lòng buông bỏ, thì con có thể ngay lập tức xoay chuyển ý niệm bản sắc của con. Con có thể đi thẳng vào thể bản sắc và bắt đầu chất vấn, thách thức cái ý niệm bản sắc giới hạn đã được lập trình vào đó qua tâm phản Ki-tô. Con có thể bắt đầu với lên sự thật cao hơn của tâm Ki-tô bằng cách nối kết với cái ta Ki-tô của con và nhận được sự thật này ở một mức độ cá nhân. Khi con dùng chìa khóa của hiểu biết ở ngay trong con, con có thể lập tức bắt đầu thay đổi ý niệm bản sắc của con. Một khi con thay đổi ý niệm bản sắc, không thể tránh là con sẽ bắt đầu thay đổi tư tưởng, rồi cảm xúc của con sẽ bắt đầu thay đổi, và như vậy các hành động vật lý cũng thay đổi theo.

Nhiều người tin rằng để cải thiện đời họ, họ cần thay đổi cách cư xử. Họ cố dùng ý chí có ý thức, hay một hệ thống vỏ ngoài nào đó, để thay đổi cách cư xử. Mặc dù việc thay đổi cách cư xử là một chuyện khả thi, thay đổi này có một cái giá phải trả, vì con vẫn đang dùng tầng thấp của tâm con, cái tâm ý thức, để thay đổi cách cư xử. Con vẫn đang tìm cách sử dụng ý niệm nhận biết hạn chế của con để thay đổi cư xử vỏ ngoài, nhưng con không làm gì để thật sự thay đổi thực tại nội tâm là cách con tự nhìn mình như thế nào. Con nghĩ con có thể thay đổi một vài khía cạnh trong cách cư xử của con rồi đạt được một kết quả vỏ ngoài. Một số kết quả có thể đạt được, nhưng con sẽ không bao giờ vượt quá được mức này, và đời con biến thành một cuộc vật lộn gian nan, luôn luôn tìm cách kỷ luật hành vi của mình. Con đang tìm cách dùng tâm nhị nguyên để sửa đổi tâm nhị nguyên, con đang tìm cách giải quyết một vấn đề từ cùng mức tâm thức đã tạo ra vấn đề. Thay vì vượt qua cuộc đấu tranh, con chỉ giản dị gia tăng sự phức tạp và cường độ của cuộc đấu tranh. Con vẫn là một ngôi nhà bị phân rẽ, và con vẫn tiếp tục đánh nhau với các thế lực đang kéo con ra mọi hướng.

Sự thật là hành vi của con là sản phẩm của cảm xúc, cảm xúc là sản phẩm của ý tưởng, và ý tưởng là sản phẩm của ý niệm bản sắc. Nếu con tìm cách thay đổi hành vi mà không thay đổi cảm xúc, con chỉ làm vậy được bằng cách dùng vũ lực để kềm nén những cảm xúc đã thôi thúc con có những hành vi mà con đang cố thay đổi. Đây là thế kẹt tiến thoái lưỡng nan mà Paul đã nói đến qua câu: “Điều lành tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều dữ tôi không muốn thì tôi lại làm” (Romans 7:19). Đây là vấn đề nan giải muôn thuở của con người, tức là con quyết định bằng tâm vỏ ngoài là con muốn thay đổi cách cư xử, nhưng thể cảm xúc của con lại không ngừng thôi thúc con tiếp tục cách cư xử cũ, và đó chính là lý do con đã bước vào khuôn nếp cư xử đó.

Chẳng hạn con thấy nhiều người bị nghiện rượu hay nghiện ăn. Họ quyết định với tâm vỏ ngoài là họ muốn ngừng uống rượu hay ngừng ăn thái quá. Nhưng thể cảm xúc liên tục bảo họ là họ muốn uống rượu, muốn ăn, cho nên họ phải liên tục chiến đấu với chính họ. Cách tiếp cận thực sự để thay đổi cư xử của mình là nhận ra cư xử này khởi lên từ một số cảm xúc, cho nên mình cần thay đổi cảm xúc trước khi cố thay đổi cư xử. Cảm thể của con không là tầng cao nhất trong bản thể con vì cảm xúc khởi lên từ ý tưởng. Con phải thay đổi ý tưởng trước khi con có thể thay đổi cảm xúc – nhưng chờ đã – ý tưởng của con vẫn không phải là nguyên nhân gốc rễ bởi vì ý tưởng khởi lên từ ý niệm bản sắc. Cách duy nhất để thực sự thay đổi ý tưởng là thay đổi ý niệm bản sắc.

Con không thể làm việc hiệu quả từ dưới đi lên. Sẽ hiệu quả hơn và mạnh mẽ hơn gấp bội nếu con đi thẳng lên trên cùng và bắt đầu với ý niệm bản sắc của con, rồi sau đó tất cả các tầng dưới của tâm con sẽ cứ thế nối đuôi theo. Tâm ý thức nằm thấp hơn thể cảm xúc, cho nên nó có quyền lực giới hạn trên cảm xúc của con. Cách hiệu quả duy nhất để thay đổi cảm xúc là thay đổi tư tưởng. Cách thay đổi tư tưởng là thay đổi ý niệm bản sắc. Cho nên vấn đề nằm ở chỗ là tâm ý thức – tâm tùy thuộc vào bộ não vật lý – có rất ít quyền năng để thay đổi ý niệm bản sắc. Giải pháp hữu hiệu duy nhất là cái Ta Biết tách mình ra khỏi tâm ý thức và tái lập bản sắc đích thực của con như một sinh thể tâm linh. Sinh thể này nằm bên trên, nằm vượt khỏi bất kỳ nội dung nào trong bốn thể phàm và do đó nó có quyền năng thay đổi nội dung này.

15.12. Con không phải là anh lính quèn

Để lấy một minh họa, con hãy tưởng tượng một nhóm khoa học gia ngồi trong rạp chiếu phim. Họ nhìn hình ảnh trên màn hình và quyết định là họ muốn hiểu rõ các hình ảnh này được sản xuất từ đâu và tại sao chúng lại có hình dạng như thế. Vì họ là nhà khoa học duy vật cho nên họ chỉ nhìn vào màn hình. Họ không cởi mở với ý tưởng là hình ảnh trên màn hình có thể không được sản xuất ở mức màn hình mà được chiếu lên màn hình từ một nơi khác, từ một mức thực tại cao hơn. Họ mổ xẻ màn hình, xem nó được xây dựng thế nào, đồng thời họ cũng mổ xẻ các hình ảnh cùng hình dạng của chúng, cố tìm xem chúng có thay đổi theo một khuôn mẫu nào không. Họ đinh ninh là nếu họ hiểu được cách hình ảnh biến đổi thì họ sẽ biết tại sao chúng lại khoác vào hình dạng đó.

Liệu con có thể thực sự hiểu được hình ảnh trên màn hình chiếu bóng mà chỉ xem xét màn hình không thôi? Quan trọng hơn, liệu con có thể nào thay đổi hình ảnh xuất hiện trên màn hình bằng cách chỉ làm việc ở mức màn hình? Đúng là con có thể thay đổi hình ảnh bằng cách sơn màn hình màu đen, và khi đó con không còn thấy hình ảnh sáng sủa nào nữa. Nhưng làm vậy vẫn không thay đổi những gì được chiếu lên màn hình từ máy chiếu phim. Để thực sự thay đổi hình ảnh xuất hiện trên màn hình, con phải đi vào phòng chiếu phim và thay cuộn phim trên máy chiếu.

Trong bản thể con có bốn cuộn phim: cơ thể vật lý, thể cảm xúc, thể lý trí và thể bản sắc. Chúng làm việc cái này nối theo cái kia. Hình ảnh vật lý là sản phẩm của hình ảnh cảm xúc, hình ảnh cảm xúc là sản phẩm của hình ảnh lý trí. Con có thể cố thay đổi mãi không thôi các hình ảnh cảm xúc mà vẫn không có tác dụng gì trên các hình ảnh lý trí. Nếu con tự nhận diện mình là một kẻ có tội ngay trong bản chất, như nhiều người đạo Cơ đốc được dạy dỗ, thì có một số ý tưởng con sẽ không bao giờ chấp nhận. Mọi ý tưởng của con sẽ bị giới hạn trong khuôn khổ ý niệm bản sắc của con, nghĩa là con sẽ chỉ có thể nghĩ mình là một kẻ có tội rất cần đến một vị cứu tinh từ ngoài. Không thể tránh được là điều này sẽ khiến cảm xúc của con cũng bị giới hạn trong một khuôn khổ, và con có xu hướng cảm thấy bất lực hay bị tê liệt, luôn luôn tìm kiếm ai đó sẽ đến cứu mình hay bảo mình phải làm gì. Và một lần nữa, điều này sẽ hạn chế hành động của con, con sẽ có khuynh hướng đi theo một lãnh đạo hay một giáo hội vỏ ngoài, con sẽ ngại làm những hành vi vượt ngoài khuôn mẫu. Người ta có thể sống cả đời như vậy trong một bộ áo tù bó chặt tay chân mà tiến bộ rất ít.

Vì đây là một điểm quan trọng đến vậy nên thày sẽ cho con thêm một minh họa. Hãy tưởng tượng có vị tổng thống của một nước kia quyết định tuyên chiến với một nước khác. Quyết định này được chuyển xuống cấp tham mưu quân sự để quyết định thời điểm cùng địa điểm tổng quát của chiến dịch. Kế hoạch tổng quát này sau đó được chuyển xuống cấp sĩ quan để quyết định mọi chi tiết cuộc tấn công, đánh cụ thể mục tiêu nào và giờ nào, đơn vị nào sẽ tham chiến và thiết bị nào được sử dụng. Cuối cùng lệnh tấn công được thi hành ở mức mỗi đơn vị, và giờ đây chúng ta có một anh lính đứng giữa một trận chiến lớn. Anh ta có thể không thích lắm hoàn cảnh của mình, và anh cảm thấy mình không có chọn lựa nào để thay đổi hoàn cảnh này. Lý do là vì hoàn cảnh của anh là sản phẩm của nguyên một chuỗi quyết định ở những cấp lãnh đạo cao hơn. Hoàn cảnh của người lính không thể được thay đổi ở mức người lính, mà chỉ có thể thay đổi cơ bản ở một cấp cao hơn.

Tổng thống tượng trưng cho thể bản sắc của con, bộ tham mưu là tư tưởng của con, sĩ quan là cảm xúc và anh lính riêng lẻ đó là tâm ý thức của con. Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng anh ấy không muốn chết. Chắc chắn anh có thể có một số biện pháp để tự bảo vệ, kể cả việc nâng cao kỹ năng chiến đấu để tiêu diệt quân địch trước khi chúng giết anh. Anh có thể đạt một số thành quả bằng cách làm việc ở mức của anh, kể cả việc dùng vũ lực để tự vệ, tiêu diệt người khác. Nhưng dù anh có làm gì ở mức của mình, việc này sẽ không ảnh hưởng gì đến cấp sĩ quan cùng kế hoạch của họ cho trận đánh sắp tới, hay ảnh hưởng ban tham mưu và chiến lược của họ cho toàn bộ chiến dịch. Nó sẽ không ảnh hưởng gì đến tổng thống cùng quyết định khai chiến của ông ta. Anh lính bị kẹt cứng, và anh không có cách nào thực sự nắm lấy vận mạng của anh.

Làm thế nào anh thay đổi được tình trạng này đây? Trên lý thuyết, anh có thể cố đi từ dưới lên xuyên qua mỗi cấp trong hệ thống. Anh có thể thuyết phục các sĩ quan rút đơn vị của anh ra khỏi trận chiến, nhưng chính họ có nhiệm vụ thi hành kế hoạch tổng thể, và nếu họ cần đến đơn vị của anh thì anh sẽ không thành công. Xong anh có thể cố liên lạc với ban tham mưu, xin họ thay đổi chiến lược, nhưng điều này sẽ cản trở quyết định của tổng thống, và một lần nữa anh sẽ gặp chống đối.

Cách tối hậu để người lính này nắm lấy vận mạng của mình và sống sót là đi thẳng lên tổng thống và yêu cầu ông ta ngừng cuộc chiến. Ngay khi tổng thống quyết định thì bộ tham mưu lẫn các sĩ quan sẽ phải tuân lệnh, và anh lính được tự do trở về nhà. Kịch bản này thích hợp, vì điều ngăn con không có được sự sống dồi dào chính là cuộc chiến diễn ra giữa các thành viên bên trong con (Romans 7:23). Con hãy tưởng tượng anh lính kia rút ra khỏi chiến trường và đi đến dinh tổng thống. Khi anh bước vào văn phòng tổng thống, anh khám phá là không có ai ngồi đó, ghế tổng thống trống trơn. Trong một chớp, anh ngộ ra là không có tổng thống, và bộ tham mưu cùng các sĩ quan chỉ tiếp tục đánh nhau vì lý do đơn giản là chẳng có ai để ngừng cuộc chiến. Họ chỉ thi hành mệnh lệnh nhưng chưa bao giờ họ chất vấn xem có còn tổng thống ở đó hay không để xác nhận mệnh lệnh. Họ chưa bao giờ dám chất vấn cấp trên trong nguyên hệ thống chỉ huy, hay chất vấn tại sao chiến tranh lại khởi sự.

Thoạt tiên anh lính của chúng ta bị sốc, nhưng sau đó anh nhận thấy một tấm biển nhỏ trên ghế tổng thống. Anh bước lại gần và đọc: “Nếu bạn đã vào được phòng này thì bạn có tiềm năng trở thành vị tổng thống tới. Nếu bạn muốn chấm dứt cuộc chiến, bạn là người độc nhất có khả năng làm vậy, nhưng bạn phải sẵn lòng nắm quyền chỉ huy.” Nếu con muốn cuộc chiến giữa các thành viên trong con chấm dứt, con phải sẵn lòng bước lên nắm lấy quyền chỉ huy bốn thể phàm của con. Con phải ngồi vào ghế tổng thống và lãnh trách nhiệm về tình hình. Con chỉ có thể làm vậy khi cái Ta Biết tách mình ra khỏi mọi dính mắc với các thể thấp, ngừng hạn chế mình trong bất kỳ tầng thấp nào – ngừng cho mình là anh lính quèn. Con phải đi thẳng lên thể bản sắc của con, thiết lập một bản sắc đúng đắn dựa trên sự thật Ki-tô và tự đặt mình vào vị trí chỉ huy tối cao của bản thể mình. Khi đó, con có thể chấm dứt cuộc chiến và binh lính có thể trở về nhà ở Vườn Eden.

15.13. Con đang góp phần vào một kế hoạch vĩ đại

Nếu con muốn đạt thành quả tối hậu, nếu con muốn tăng triển tối đa, con cần thách thức ý niệm bản sắc rằng con là một người phàm trần hữu diệt, con là một kẻ có tội khốn nạn, và không có gì con có thể làm để mang lại sự cứu rỗi cho bản thân và thị hiện sự sống dồi dào. Con cần thách thức tất cả mọi hạn chế đã được lập trình vào trong con bởi cái ta hữu diệt của con, bởi tâm phản Ki-tô, bởi gia đình, giáo hội và nhà nước. Khi con thách thức các hình ảnh này và bắt đầu nhận ra quả thực mình là một sinh thể tâm linh vô biên đang ở đây không chỉ để hưởng đời sống vật chất sung sướng, mà còn đến đây với một sứ vụ tâm linh quan trọng, thì toàn bộ tầm nhìn của con về cuộc sống sẽ bắt đầu thay đổi. Con sẽ có một cảm nhận sâu sắc hơn về chí hướng, về ý nghĩa, về cuộc đời như một cơ hội tuyệt vời để biểu lộ khả năng sáng tạo của mình và trở nên nhiều hơn nữa trong thiết kế mà Đấng Sáng tạo đã dành cho con.  

Điều này sẽ đem lại biến đổi to lớn và cơ bản trong mọi khía cạnh đời con vì nó sẽ thay đổi cách con nhìn mọi chuyện. Khi con bắt đầu kinh qua thay đổi này, con sẽ thấy cảm giác vật lộn dần dần giảm bớt cho đến khi nó biến mất hoàn toàn. Sẽ tới một điểm khi thay vì cảm thấy cuộc sống là một gánh nặng bị ép buộc lên con, con bắt đầu cảm thấy cuộc sống quả thật là một cơ hội to lớn mà chính con đã nắm lấy bởi vì dòng sống của con, cái Ta Biết, đã thực sự mong muốn đi vào cõi vật chất để đem sự toàn hảo của viễn quan cao hơn của con vào cõi này. Con đích thực đã muốn đến đây vì con muốn góp phần vào kế hoạch vĩ đại đem vương quốc Thượng đế đến hành tinh địa cầu. Con muốn góp phần đổ đầy ánh sáng và sự thật vào bầu cõi này của vũ trụ vật chất để bóng tối không còn nữa và tất cả mọi thứ chỉ phản ánh sự toàn hảo được cất giữ trong tâm Ki-tô hoàn vũ.

Con yêu dấu, nếu con đi vào cốt lõi của bản sắc con, tức là bản sắc tâm linh vượt khỏi ý niệm bản sắc vật chất, con sẽ khám phá đó chính là lý do con ở đây. Con ở đây vì con yêu sinh thể mà con là, và con mong muốn chia sẻ sinh thể mà con là, một người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Cuộc sống không phải là một gánh nặng, cuộc sống không phải do Thượng đế áp đặt lên con, một ông thần nóng giận trên trời muốn trừng phạt con bằng cách bắt con phải đau khổ. Cuộc sống là một cơ hội, cuộc sống là một chọn lựa. Ở một thời điểm trong quá khứ xa xôi, chính con đã chọn bước xuống cõi vật chất này để đem ánh sáng vào bóng tối. Thày cũng biết là giữa giây phút vượt thời gian đó và giây phút hiện tại trong thời gian và không gian, con đã quên bẵng mất tại sao con đến đây.

Nếu con chịu bỏ nỗ lực thách thức ý niệm bản sắc giới hạn của mình, con có thể – trong một thời gian ngắn không ngờ – được tái sinh trong nhận biết nguyên thủy rằng con là ai và tại sao con đến đây. Khi đó, mọi cảm nhận vật lộn sẽ tan biến giống như sương tan trong tia nắng bình minh. Bỗng nhiên con sẽ bắt đầu nhìn thấy mặt trời của bản thể cao của con, mặt trời của Hiện diện TA LÀ, chiếu xuyên qua tất cả mọi tầng của tâm con. Khi mặt trời này bắt đầu rọi sáng xuyên qua bốn thể phàm, nó sẽ làm tan chảy bóng tối cùng mọi giới hạn, và cảm giác vật lộn cũng sẽ theo chân biến mất. Nó tan biến như thể nó chưa bao giờ hiện hữu, và đời con sẽ khoác vào một ý nghĩa và hướng đi hoàn toàn mới.

Bỗng nhiên con sẽ nối kết lại với thực tại cuộc sống, rằng cuộc sống là an lạc – cuộc  sống là dòng chảy liên tục của tình thương Thượng đế, niềm vui Thượng đế, hạnh phúc Thượng đế đang xuôi chảy đằng sau mọi hình tướng bề mặt được lưu trữ trong bốn phần thấp của tâm con. Con có thể lao mình vào dòng chảy của sự sống và chạm được niềm vui tái ngộ với cái Tất Cả của Thượng đế, niềm vui góp phần vào đồ án vĩ đại là sự trải bày của công trình sáng tạo của Thượng đế. Đây là tấm thảm của sự sống, nó tráng lệ đến độ không ai có thể tham gia vào đó mà không cảm thấy kinh ngạc lẫn biết ơn, biết ơn là mình được chứng kiến sự trải bày của thiết kế vĩ đại này từ một góc nhìn cá nhân, đặc biệt.

Ôi con yêu dấu, cuộc sống là niềm vui. Đây là thực tại đằng sau mọi sự vật lộn của con người trên hành tinh này. Thày không có mong muốn nào mạnh hơn là giúp mỗi người trên hành tinh nhìn xa hơn cảm giác vật lộn đó và cho phép một tia nắng của mặt trời bản thể cao của họ rọi xuyên qua. Tia nắng này sẽ xua tan cảm giác đấu tranh để họ có thể nối kết lại với niềm vui đích thực là chính bản thể họ. Con yêu dấu, thày biết chuyện này nghe có vẻ bất khả thi từ tâm thái hiện thời của con, nhưng thày xin nói với con là nó có vẻ bất khả thi chỉ vì tia nắng của mặt trời Hiện diện TA LÀ đang bị ngăn chặn bởi các hình ảnh bất toàn và năng lượng tha hóa được cầm giữ trong bốn tầng của tâm con. Nếu con bước theo chân thày và sử dụng những dụng cụ để thanh lọc bốn thể phàm, thày có thể cam đoan với con là một ngày con sẽ thấy được một tia nắng rọi chiếu qua tâm thức, nó sẽ cho con bằng chứng không thể chối cãi là, thật vậy, cuộc sống là nhiều hơn những gì hầu hết mọi người trên hành tinh này trải nghiệm. Cho nên con hãy đi theo thày khi thày vươn lên cao hơn, và con với thày, mình cùng nhau chạm mặt trời.

13 | Luật hoàn trả: Cho tức là nhận

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 18/4/2005.

Trái tim yêu dấu của thày, bây giờ thày sẽ trao cho con một chìa khóa nữa mà con cần phải hiểu trước khi con có thể thật sự thị hiện sự sống dồi dào. Khi thày quan sát quá trình lịch sử cũng như lịch sử của từng dòng sống riêng lẻ, trong đó có con, thày nhận thấy có một điều thật sự ngăn cản con người thị hiện sự sống dồi dào là xu hướng chờ đợi điều kiện ngoại cảnh phải thích hợp trước khi con có thể hành động, trước khi con thay đổi bản thân, trước khi con từ bỏ một phần nào đó của cái ta hữu diệt. Vấn đề này xuất phát từ chính cái ta hữu diệt và xu hướng cố hữu của nó là muốn đạt được một trạng thái an toàn tối hậu.

13.1. Tự ngã cho con một cảm giác trọn vẹn giả hiệu   

Cái ta hữu diệt mang sẵn bên trong một sự xung đột, một mâu thuẫn không thể nào tránh, không thể giải quyết. Cái ta hữu diệt của con ra đời khi cái Ta Biết quyết định không lấy quyết định nữa, cho nên nó muốn lấy quyết định giùm con. Vì cái Ta Biết không bao giờ đánh mất lòng khao khát sự trọn vẹn, cái ta hữu diệt muốn thỏa mãn mong muốn này. Nhưng vì nó không thể hiểu sự trọn vẹn đích thực là gì, cho nên nó tìm cách cho con một cảm giác an toàn bằng cách kiểm soát mọi khía cạnh của đời con.

Nguồn tối hậu và duy nhất của trọn vẹn đích thực là khi cái Ta Biết tự đồng hóa với Hiện diện TA LÀ của con và dự phần, lao mình vào Dòng sông sự Sống. Chỉ khi nào con ở trong dòng chảy dồi dào không ngừng của Thượng đế – dòng chảy tự thăng vượt, trở nên hơn nữa – thì con mới có thể cảm thấy trọn vẹn thật sự. Cái ta hữu diệt không bao giờ có thể ở trong dòng chảy này của sự sống, bởi vì như Giê-su đã nói, nó không có sự sống trong nó (John 6:53). Nó không bao giờ có thể cho con một cảm giác trọn vẹn đích thực. Nó sẽ tìm cách chế tạo một cái gì thay thế, một cảm giác trọn vẹn giả, và điều này được mô tả trong Kinh thánh là những kẻ kêu gọi hòa bình nhưng không có hòa bình (Jeremiah 6:14).

Đây là mâu thuẫn cốt yếu, sự phân rẽ nằm ở trung tâm cái ta hữu diệt. Chìa khóa thực sự của trọn vẹn là nhập vào Dòng sông sự Sống, tức là không ngừng tự thăng vượt. Để thực sự trọn vẹn, con phải liên tục thăng vượt chính mình, liên tục trở nên nhiều hơn những gì con đang là ngay bây giờ. Đây là niềm vui cuộc sống, đây là trọn vẹn đích thực. Cái ta hữu diệt cố tạo ra ảo tưởng trọn vẹn bằng cách ngăn chặn sự tăng trưởng, ngăn chận tự thăng vượt, ngăn cản con trở nên hơn nữa. Hình ảnh nó có về trọn vẹn là một trạng thái “toàn hảo,” có nghĩa là mọi chuyện đều đứng yên và không gì thay đổi. Nó tin nó có thể đạt đến sự toàn hảo này qua việc kiểm soát con, kiểm soát mọi người khác, thậm chí kiểm soát cả vũ trụ vật chất. Cái ta hữu diệt của con và ông hoàng của thế gian không ngừng cố gắng kiểm soát vũ trụ, ép vũ trụ phải tuân theo tâm ảnh của chúng.

Tiếc thay, hình ảnh về sự toàn hảo cố định này vô cùng thuyết phục, và nó đã xâm nhập vào nhiều nền văn hóa lẫn tôn giáo. Nhiều tôn giáo giảng dạy hình ảnh một Thượng đế bên ngoài và quả quyết Thượng đế này toàn hảo. Họ tin là cái gì toàn hảo không thể nào thay đổi. Cái ta hữu diệt và các thế lực phản Ki-tô luôn luôn cố gắng ngăn chặn sự tự thăng vượt, ngăn chặn tăng trưởng, ngăn chặn tiến trình của Thượng đế trở nên hơn nữa xuyên qua con. Chúng cố tạo dựng một vương quốc giả mạo, một vương quốc thế phàm không có tăng triển, nơi chúng đã quy định một trạng thái “toàn hảo” dựa trên tâm thức nhị nguyên. Chúng đã xoay xở để khiến hầu hết mọi người và mọi xã hội chui vào hộp tư duy đó, chui vào khuôn đúc đó của sự toàn hảo.

Đây là một ảo tưởng. Điều này hoàn toàn bất khả thi, là cố làm một chuyện không thể nào làm được. Một trong những cơ chế an toàn được cài sẵn trong vũ trụ vật chất là không gì có thể đứng yên. Vì con đã được ban cho quyền tự quyết, con có thể chọn rút ra khỏi Dòng sông sự Sống chảy không ngừng nghỉ. Con có thể leo lên bờ sông và đứng bất động trên bờ trong khi Dòng sông sự Sống cứ tiếp tục chảy qua mặt con. Vì Thượng đế đã cho con quyền tự quyết, ngài cũng cho con khả năng làm chuyện đó, nhưng ngài cũng thiết lập vũ trụ vật chất với một yếu tố trì hoãn cho phép con duy trì ảo tưởng là mình đang đứng yên trong thế giới nhỏ bé của mình. Thế là con đã tạo ra một trạng thái toàn hảo nào đó, và nếu như con cứ duy trì hiện trạng như vậy thì con sẽ ở trong thiên đàng này mãi mãi. Ảo tưởng này chỉ có thể tồn tại trong hộp tư duy của cái ta hữu diệt, và cũng giống như mọi khía cạnh khác của cái ta hữu diệt, nó chỉ có thể tồn tại một thời gian. Không thể tránh được lực co lại của Mẹ sẽ rốt cuộc phá vỡ ảo tưởng. Đó là tại sao trong chiều dài lịch sử, nhiều nền văn minh đã đạt đến một trình độ thành đạt rất cao xong đã sụp đổ một cách khó hiểu. Các nền văn minh này đã sụp đổ vì họ nghĩ họ đã đạt được sự toàn hảo và do đó họ đã từ chối thăng vượt chính họ. Điều không tránh khỏi là lực co lại của Mẹ sẽ phá sụp những tòa tháp Babel mà họ đã xây dựng trong ảo mộng tòa tháp sẽ vươn đến tận trời.

Nhân loại đã đeo đuổi mục đích bất khả thi này từ hàng ngàn và hàng ngàn năm trời, lâu hơn cả những gì các nhà sử học và khoa học của con hiện nay công nhận. Con có thể tiếp tục đeo đuổi như vậy, nếu con muốn, cho đến hết thời gian được phân bổ cho con. Thày không ở đây để khuyến khích con làm vậy. Thày ở đây để khuyến khích con kéo mình ra khỏi cuộc tìm cầu vô vọng này, và thay vào đó, con nhận ra sự thật muôn đời rằng chìa khóa cho sự trọn vẹn đích thực, và chìa khóa duy nhất cho cứu rỗi, là quay trở về Dòng sông sự Sống và không ngừng tự thăng vượt.

13.2. An toàn trong nhị nguyên là một tìm kiếm vô vọng

Cái ta hữu diệt của con được lập trình để gắng hết sức ngăn con tự thăng vượt, ngăn con vượt ra ngoài chiếc hộp tư duy được quy định bởi các tin tưởng nhị nguyên của nó. Cái ta hữu diệt đã thành công để khiến cho cái Ta Biết, ít ra phần nào, tin vào lời dối rằng toàn hảo có nghĩa là đứng yên. Cái ta hữu diệt đã thành công khiến cho cái Ta Biết tin rằng con cần an toàn. Trong nhiều trường hợp, nó lợi dụng tình trạng bất an của thế giới bên ngoài, tình trạng hỗn loạn do tâm thức nhị nguyên gây ra, để khiến con đeo đuổi cảm giác ổn định, an toàn và thoải mái đó. Nếu con quan sát loài người trên thế giới một cách trung thực, con sẽ thấy mặc dù có nhiều thói nghiện vỏ ngoài, nhưng đằng sau tất cả thói nghiện đó có thói nghiện an toàn, thói nghiện thoải mái. Nhiều người rất ghiền an toàn, và trên hết, họ cố xây dựng một cảm giác an toàn nào đó. Khi làm vậy, họ sẵn sàng hy sinh sự tăng trưởng, tắt máy cuộc đời, giết chết niềm vui cuộc sống. Họ muốn tiến trình cuộc sống phải ngừng lại để họ có thể có và giữ một cảm giác an toàn dựa trên ý tưởng là nếu không có gì thay đối thì không có gì xấu có thể xảy ra.

Cuộc đeo đuổi trạng thái an toàn này xuất phát từ nỗi sợ tăng trưởng, nỗi sợ thay đổi. Tinh túy của cuộc sống là tăng trưởng, nghĩa là tự thăng vượt. Vì cái ta hữu diệt không thể hiểu nổi điều này, nó đã xoay xở để phóng chiếu vào bản thể con nỗi sợ thay đổi, dựa trên suy luận rằng thay đổi chỉ có thể tệ hơn, thay đổi chỉ có thể xấu, thay đổi chỉ có thể mất mát. Thày đã lặp đi lặp lại là con có quyền tự quyết và tất cả xoay quanh cái Ta Biết cùng các quyết định mà con lấy. Nếu con cho phép cái ta hữu diệt quyết định giùm con, con sẽ không bao giờ phá được gông cùm của cuộc đeo đuổi vô vọng đó – đeo đuổi sự an toàn và ổn định trong một thế giới không ngừng thay đổi và không thể tránh thay đổi. Tại sao không thể tránh được thay đổi? Bởi vì định luật của Thượng đế được thiết lập để ngăn con kẹt lại trong một trạng thái giới hạn. Định luật quy định là hoặc con phải thay đổi bằng cách đi theo động lực trở nên hơn nữa, hoặc con phải thay đổi vì lực co lại của Mẹ sẽ đập bể các hình tượng khô cứng của con, đập bể những gì con đang tìm cách giữ nguyên như cũ. Con phải thay đổi qua sự thăng vượt bản thân hoặc sự co thắt bản thân. Nếu con ôm chặt một hình tượng khô cứng, lực co lại của Mẹ sẽ tạo ra một lực đối chọi sẽ thách thức hình tượng của con hầu giải phóng con.

Cuộc đeo đuổi vô vọng để tìm một sự an toàn không thể đạt được trong thế giới này chính là điều sẽ biến đời con thành một cuộc vật lộn không ngừng. Cái ta hữu diệt tin rằng nếu như nó có thể có được cảm giác an toàn tối hậu đó nơi không có gì thay đổi, thì cuộc vật lộn của con sẽ chấm dứt. Nếu như con ngừng mọi nỗ lực tự thăng vượt thì con sẽ ở lại mãi mãi trong trạng thái thiên đàng đó. Nhưng chính cuộc tìm kiếm ổn định, chính cuộc tìm kiếm sự bất biến, đã tạo ra vật lộn vì nó đặt con vào thế đối nghịch với chính bản chất cuộc sống là luôn luôn thay đổi qua hình thức tự thăng vượt. Cách duy nhất con có thể bắt đầu thoát ra khỏi cảm giác đấu tranh này là cái Ta Biết nhận ra là cái ta hữu diệt đang chạy theo một chuyện không tưởng.

13.3. Để đời con thay đổi, chính con phải thay đổi

Con phải hiểu đầy đủ điều thày vừa nói với con, cụ thể là chìa khóa tối hậu để được an toàn và trọn vẹn là xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống, hầu con liên tục tăng trưởng và trở nên hơn nữa thay vì tìm cách giữ nguyên như cũ. Tăng trưởng không có nghĩa là mất mát. Làm sao con có thể mất được khi con tăng trưởng và trở nên nhiều hơn? Cái Ta Biết không thể nào mất mát khi nó tăng trưởng. Nhưng cái ta hữu diệt và các thế lực của thế gian quả thật có thể mất mát khi cái Ta Biết tăng trưởng và thăng vượt các hạn chế mà chúng đã tìm cách định ra cho con. Đó là tại sao chúng đã phóng chiếu nỗi sợ tăng trưởng vào bản thể con và nối liền tăng trưởng với nỗi sợ mất mát. Chính chúng mới là kẻ sợ mất mát, nhưng chúng đã xoay xở để khiến cái Ta Biết tự đồng hoá, một phần hay toàn bộ, với nỗi sợ mất mát này. Đây là lý do tại sao biết bao người trên hành tinh này không muốn thay đổi, họ lo sợ sự thay đổi chỉ có thể tệ hơn. Nhiều người kể chuyện “thuở trước vàng son” để nói về một thời khi mọi chuyện tốt đẹp hơn và sự thay đổi chỉ khiến cho tệ hơn. Trên thực tế, rất nhiều các thay đổi đang xảy ra trên thế giới rõ ràng là tốt hơn, đem lại nhiều trù phú hơn cho nhiều người hơn.

Nếu con muốn thị hiện sự sống dồi dào, con sẽ cần gì? Chúng ta hãy kiểm lại thực tế một cách đơn giản. Thực tế là hiện nay con không có sự sống dồi dào. Nếu con đã có sự sống dồi dào thì tại sao con lại đi học khóa này? Nếu con chưa có sự sống dồi dào, con sẽ cần gì để đạt dồi dào? Để đạt sự sống dồi dào, một điều gì đó phải thay đổi. Nếu con muốn có cái gì con hiện chưa có, thì một điều gì đó phải thay đổi. Nếu con không sẵn lòng thay đổi, nếu con sợ thay đổi, làm thế nào con có thể đạt được cái con chưa có? Đối với một số người, đây có vẻ là một dòng lý luận thật đơn giản, dường như ngây thơ, thô thiển hay hiển nhiên. Nhưng nếu con đã thật sự hiểu nguyên tắc giản dị này thì con đã không đang đọc khóa học này; con sẽ đang tận hưởng sự sống dồi dào đó rồi.

Nếu con muốn được cái gì con chưa có thì một điều gì đó phải thay đổi. Và điều gì phải thay đổi chứ? Điều phải thay đổi là chính con, cái Ta Biết. Con phải thay đổi cách con tiếp cận cuộc sống. Nếu cách tiếp cận hiện thời của con không đem lại sự sống dồi dào, thì cách thực tế duy nhất để thị hiện dồi dào là thay đổi cách con tiếp cận cuộc sống. Nếu những gì con đã làm cho đến nay đã không đem lại kết quả mong muốn, thì con phải thay đổi cách tiếp cận. Một lần nữa, con hãy xem định nghĩa của Albert Einstein về điên rồ – ông nói điên rồ là khi con cứ tiếp tục làm cùng một chuyện nhưng lại chờ đợi kết quả khác hơn. Đây chính là sự điên rồ được cài đặt trong cái ta hữu diệt của con. Cái ta hữu diệt giống như một máy tính được lập trình để làm cùng một chuyện hết lần này sau lần khác. Nó thực sự tin rằng nếu nó cứ tiếp tục làm cùng một chuyện, nếu nó cứ cố ngừng kim đồng hồ, cố ngừng sự tự thăng vượt, thì một ngày nào đó nó sẽ chế tạo ra trạng thái an toàn tối hậu nơi không có gì thay đổi. Cái ta hữu diệt sẽ cứ làm mãi như vậy, giống như chiếc máy tính cứ làm mãi cùng một chuyện cho đến khi con bảo nó làm chuyện khác. Cái ta hữu diệt không thể thay đổi cách tiếp cận cơ bản của nó, nó không có khả năng thay đổi bản chất của nó, tương tự như chiếc máy tính không có khả năng thay đổi lập trình của nó.

Người duy nhất có khả năng thay đổi những gì đang xảy ra trong đời con là cái Ta Biết. Con phải lấy quyết định là con sẵn lòng tự thăng vượt. Con phải đi bước đầu và từ bỏ một số tin tưởng nhị nguyên của cái ta hữu diệt, mặc dù con đã có thể dùng các tin tưởng này để gây dựng một cảm giác an toàn mong manh. Đây là nguyên tắc thiết yếu để thị hiện dồi dào, một nguyên tắc mà hầu hết mọi người đã bỏ sót – ngay cả những người đã tìm hiểu sự dồi dào từ rất lâu, thậm chí cả các đạo sư về dồi dào. Nếu con muốn đời con thay đổi, chính con phải thay đổi. Nếu con muốn thế giới của con thay đổi, con phải bắt đầu thay đổi chính mình. Nếu con muốn trải nghiệm sống của con thay đổi, con phải đi bước đầu bằng cách thay đổi tâm thức của mình, thay đổi cách mình tiếp cận đời sống.

Nền tảng của thay đổi là con sẵn lòng từ bỏ ít nhất một phần ý niệm bản sắc hiện thời của con. Con phải sẵn lòng từ bỏ một số tin tưởng nhị nguyên của cái ta hữu diệt, là những tin tưởng giữ con kẹt lại trong nhà tù của các giới hạn và cảm giác thiếu thốn. Nguyên tắc cơ bản của tăng trưởng là con phải sẵn lòng để cho ý niệm bản sắc hiện thời của con chết đi hầu con có thể tái sinh vào một ý niệm bản sắc mới, rộng lớn hơn. Vấn đề chủ chốt ở đây là con không thể bước vào ý niệm bản sắc mới đó – thậm chí có lẽ con không thể thấy được cả ý niệm bản sắc này – cho đến khi con sẵn lòng để cho bản sắc cũ chết đi. Con không thể nhận được dồi dào cho đến khi con chịu buông bỏ các hạn chế của mình. Cho phép thày nói lớn hết sức: Con phải cho trước khi con có thể nhận!

13.4. Vũ trụ phản chiếu lại tâm thức của con

Con yêu dấu, chuyện này không làm sao khác được, và thày đã giải thích cho con lý do khi thày nói rằng vũ trụ là một tấm gương. Trong một quyển sách [Bước theo con đường thần bí của Giê-su], Giê-su đã đưa ra một minh họa tuyệt vời về nguyên tắc này mà thày sẽ dùng lại ở đây. Hãy tưởng tượng con đang ngồi trước một tấm gương, nhìn vào hình ảnh của chính mình. Bây giờ con quyết định là con muốn hình ảnh trong gương mỉm cười với con. Làm thế nào chuyện này xảy ra được đây? Chỉ một cách mà thôi – chính con phải mỉm cười vào tấm gương. Gương chỉ có thể phản chiếu lại cùng hình ảnh được phóng chiếu vào nó. Nếu con muốn hình ảnh trong gương mỉm cười, con phải mỉm cười trước tiên. Đây là một sự thật hiển nhiên mà ai ai cũng hiểu, nhưng không phải ai ai cũng có thể áp dụng cho hình ảnh lớn hơn của cuộc sống. Vũ trụ vật chất là một tấm gương vũ trụ. Nó chỉ có thể phản chiếu lại cho con những gì con phóng chiếu vào nó. Nếu con muốn dồi dào biểu hiện trong đời con, con phải trước tiên biểu hiện tâm thức dồi dào, và sau đó – xuyên qua tâm thức đó – phóng chiếu sự dồi dào vào gương vũ trụ. Khi con làm vậy, tấm gương vũ trụ sẽ không thể tránh phản chiếu lại dồi dào cho con.

Để hiểu chuyện này vận hành thế nào, con cần biết là vũ trụ vật chất mang sẵn một yếu tố trì hoãn. Sẽ mất một thời gian nào đó trước khi sự phản chiếu quay trở về con. Đây là điều làm rối trí và nản lòng nhiều người tìm kiếm tâm linh chân thành. Thật sự hầu hết mọi người đang ngồi trước tấm gương vũ trụ và muốn thế giới mỉm cười với mình, nhưng họ lại không sẵn lòng mỉm cười với thế giới trước tiên. Họ đang nói, trong nghĩa đen: “Khi nào thế giới mỉm cười với tôi thì tôi sẽ mỉm cười lại. Khi nào thế giới cho tôi những gì tôi muốn thì tôi sẽ vui.”

Đây là một cách tiếp cận ngược chiều, không bao giờ có thể thành công. Tấm gương vũ trụ không thể phản chiếu về con những gì con chưa thể hiện trong tâm thức con. Cũng giống như chuyện chờ đợi hình ảnh của con trên một tấm gương vật lý mỉm cười với con trước khi con mỉm cười với nó. Chuyện này không thể nào xảy ra. Cái ta hữu diệt cứ cố khiến cho chuyện này xảy ra, nó liên tục cố khiến con tin rằng chuyện này có thể xảy ra. Nó bảo, nếu như con cứ tiếp tục làm theo lời chỉ bảo của nó và của ông hoàng thế gian trong một thời gian đủ dài, thì tới lúc vũ trụ sẽ mỉm cười với con mà con không cần mỉm cười trước.

Một trong những lừa dối lớn nhất được sử dụng chống lại nhân loại là niềm tin rằng hạnh phúc của con tùy thuộc hoàn toàn vào các điều kiện ngoại cảnh. Hạnh phúc là một cảm nhận diễn ra trong quả cầu cái ta. Như thày đã cố giải thích qua những chìa khóa trước, con có tiềm năng cai quản quả cầu cái ta của con. Con có khả năng chế tạo hạnh phúc – quả thực con phải chế tạo hạnh phúc – từ bên trong quả cầu cái ta của con. Con sẽ không bao giờ hoàn toàn hạnh phúc được chừng nào con còn tin vào ảo tưởng nhị nguyên rằng hạnh phúc của mình tùy thuộc vào bất cứ gì bên ngoài quả cầu cái ta của mình.

13.5. Hạnh phúc của con không tùy thuộc ngoại cảnh

Thày cũng biết đây là một lời dối vi tế và nhiều người tin như vậy. Tại sao họ tin như vậy? Vì cái ta ý thức của họ đã quyết định là họ không muốn lấy quyết định. Họ muốn tiếp tục tin rằng cách tiếp cận của cái ta hữu diệt là chính đáng. Họ muốn tiếp tục tin rằng nếu như họ cứ cho phép cái ta hữu diệt lấy quyết định giùm họ, cuối cùng họ sẽ chứng nghiệm thiên đường đã hứa. Mong muốn này có một lý do đơn giản. Nếu họ thừa nhận cách tiếp cận của cái ta hữu diệt không hiệu quả thì sẽ có nghĩa là họ lại phải bắt đầu lấy quyết định. Nếu họ không muốn làm vậy, họ cần phải tiếp tục tin vào ảo tưởng của cái ta hữu diệt. Họ không có chọn lựa nào khác hơn là hỗ trợ ảo tưởng này, và bởi vì cách suy luận của cái ta hữu diệt vốn nhị nguyên và tương đối, họ luôn luôn có thể tìm ra những luận cứ sẽ hỗ trợ lời dối và ảo tưởng của cái ta hữu diệt.

Cách tiếp cận cuộc sống của cái ta hữu diệt không chỉ được hỗ trợ bởi cách suy luận nhị nguyên của tâm phản Ki-tô, mà nó cũng được hỗ trợ bởi kinh nghiệm đời sống của con. Vũ trụ là một tấm gương phản chiếu lại cho con những gì con gửi ra. Nếu con gửi ra một cảm nhận thiếu thốn, tấm gương vũ trụ sẽ phản chiếu lại những điều kiện vật lý có thiếu thốn. Tin tưởng nhị nguyên rằng con sống trong một vũ trụ có dồi dào hạn chế và con chỉ có thể dồi dào bằng cách đoạt từ người khác, có vẻ như được chính cuộc sống xác nhận. Làm sao lập luận do cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian đưa ra có thể sai được khi chính cuộc sống cũng có vẻ đồng ý? Sự thể biến thành một vòng tròn khép kín, một đường suy luận luẩn quẩn, một thế kẹt lưỡng nan không có lối thoát – trừ khi con với lên sự thật cao hơn của tâm Ki-tô.

Vì vũ trụ là một tấm gương, điều con tin sẽ trở thành một lời tiên tri tự nó ứng nghiệm. Nếu con tin là mình sống trong một thế giới thiếu thốn, đó sẽ là điều con trải nghiệm. Cách duy nhất để thoát ra khỏi thế giới thiếu thốn là thăng vượt trạng thái tâm thức chế tạo ra trải nghiệm này. Trước khi con có thể được sống trong một vũ trụ dồi dào, con phải trước tiên bước vào một trạng thái tâm thức dựa trên sự dồi dào. Như câu nói nổi tiếng của Henry Ford: “Cho dù con tin là con có thể, hay con tin là con không thể – con cũng đúng!”

Trước khi con có thể rời khỏi thế giới thiếu thốn, con – tức cái Ta Biết – phải phá vỡ vòng dây siết cổ của sự đồng hóa với cái ta hữu diệt và tin tưởng nhị nguyên của nó. Con phải cho phép ý niệm cái ta mà con đã xây dựng từ sự đồng hóa này chết đi. Chỉ sau khi con để nó chết thì con mới tái sinh vào một ý niệm bản sắc cao hơn. Con phải chịu được sự thật là trước khi con có được một cái gì tốt hơn, con phải trước hết từ bỏ cái con đang có ngay bây giờ. Và để thực hiện điều này, con phải chấm dứt thói nghiện an toàn đang ngăn con buông bỏ những gì con đang có để được một cái gì chưa biểu hiện trong vật lý. Con phải thay thế nó bằng đức tin – là cái biết nội tâm vượt khỏi mọi sự hiểu biết – đức tin rằng các định luật của Thượng đế thực sự hiệu quả, và nếu con tìm cầu Nước Trời và sự công chính của tâm thức Ki-tô trước tiên, thì mọi thứ khác sẽ được bồi thêm cho con (Matthew 6:33).

13.6. Con không thể mua sự trọn vẹn

Con yêu dấu, lời dối do các thế lực thế gian quảng bá là con không cần thăng vượt chính con. Nếu con muốn thay đổi bất cứ gì trong đời mình, nếu con muốn thấy bất cứ thay đổi nào tốt hơn, thì con – tức cái Ta Biết – phải quyết định chấp nhận đó là một lời nói dối. Con phải quyết định là con không còn muốn rơi vào cám dỗ ở lại trong trạng thái thoải mái an toàn. Một khi con quyết định không chấp nhận lời dối này nữa, con phải đi bước lôgíc kế tiếp. Con phải khắc phục lời dối thứ nhì, rằng ngay bây giờ con chưa có những thứ con cần để tự thăng vượt. Lời dối này cố khiến con tin là con cần phải chờ một số điều kiện ngoại cảnh trước khi con có thể bước tới.

Có một kẻ thù bên trong và một kẻ thù bên ngoài đang tìm cách kiểm soát cái Ta Biết. Chúng làm thế nào? Bằng cách khiến cái Ta Biết tin vào lời dối rằng bên trong con không có những thứ con cần, rằng một cách nào đó con không trọn vẹn hay khiếm khuyết. Chúng dùng những hạn chế hiện thời và lỗi lầm quá khứ của con để cố chứng minh điều này. Tại sao cái Ta Biết lại dễ rơi vào lời dối đó? Vì hai lý do. Lý do thứ nhất là vì con cảm thấy không trọn vẹn, và do đó cái Ta Biết mang động lực muốn đạt sự trọn vẹn. Tất nhiên, cái Ta Biết hiện không cảm thấy trọn vẹn vì nó đang thiếu cái gì đó. Cho nên con dễ rơi vào suy luận bảo rằng sở dĩ con thiếu thốn hay thiếu sót gì đó là vì chính bản thân con không trọn vẹn, con cần một thứ gì con không có. Và điều này khiến con dễ rơi vào lời dối thứ nhì mà các lực của thế gian phóng chiếu vào con, là con cần một thứ gì từ bên ngoài chính mình hầu trở về thiên đường trọn vẹn mà con đã mất. Lời dối bảo, tự thân con không có những thứ cần thiết để được trọn vẹn, cho nên con cần một cái gì hay một ai đó từ ngoài. Đương nhiên, cái “ai đó” chính là cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian, chúng hứa là nếu như con nhắm mắt đi theo chúng thì chúng sẽ dẫn con đến nơi chốn tuyệt vời mà chúng định nghĩa là thiên đường.

Đúng là cái Ta Biết không cảm thấy trọn vẹn vì nó đã đánh mất một cái gì trong quá khứ xa xôi. Cũng rất đúng là con cần cái gì đó từ ngoài cái Ta Biết để tái lập cảm giác trọn vẹn. Lời dối nằm ở chỗ cái đó chỉ có thể tìm thấy bên ngoài quả cầu cái ta của con. Kỳ thực điều con cần để tái lập sự trọn vẹn chỉ có thể tìm thấy bên trong quả cầu cái ta. Con cần tái khám phá mình thực sự là ai, tức một phần nối dài của một sinh thể tâm linh rộng lớn hơn – mà thày đã gọi là Hiện diện TA LÀ của con nhưng thật ra là nguyên một dòng dõi, một hàng ngũ nhiều tầng gồm những sinh thể tâm linh trở ngược lên tận Đấng Sáng tạo của con. Chỉ khi nào con tái lập cảm nhận hợp nhất với Đấng Sáng tạo, hợp nhất với mọi sự sống, thì con mới cảm thấy trọn vẹn. Cảm nhận hợp nhất này chỉ có thể được thiết lập bằng cách đi vào bên trong quả cầu cái ta và tìm thấy những gì đã sẵn ở đó, đã luôn luôn ở đó, nhưng đã bị che phủ bởi tấm màn ảo tưởng do cái ta hữu diệt thêu dệt.

Về nhiều mặt, cái ta hữu diệt giống như chiếc máy tính, nhưng cũng như ông hoàng của thế gian, nó là nhiều hơn một máy tính. Hai kẻ thù của con biết rất rõ con cần gì để tái lập sự trọn vẹn, và chúng phải ngăn con làm vậy để con tiếp tục nuôi béo chúng với năng lượng tha hóa hầu chúng có thể duy trì một sự tồn tại tách biệt. Nhưng chúng không thể mãi mãi ngăn con tìm cầu sự trọn vẹn. Mặc dù chúng có thể dựng lên nhiều chuyện trong thế gian để con bị lạc hướng và bỏ lơ cuộc tìm kiếm trong một thời gian, chúng sẽ không thành công mãi mãi. Các thế lực thế gian không thể mãi mãi ngăn cản một dòng sống đi tìm sự trọn vẹn tâm linh đích thực. Điều ông hoàng thế gian đã làm là bày ra một con đường giả, con đường có vẻ đúng cho người phàm nhưng cuối cùng là con đường chết. Lý lẽ cơ bản của con đường giả là con phải tìm trọn vẹn, tìm cứu rỗi, bên ngoài chính con. Để ủng hộ lời dối này, chúng bảo chính sự kiện con đang không trọn vẹn chứng minh là con không mang sẵn trong con những gì cần thiết để mà trọn vẹn. Con phải tìm cái đó ở bên ngoài, tức là trong thế gian.

Tất cả mọi thứ trong thế gian này được tạo bằng ánh sáng ở một độ rung thấp hơn ánh sáng trong cõi tâm linh. Không có gì trong thế gian này có thể cho con một cảm nhận trọn vẹn đích thực. Dù con có gom góp bao nhiêu tiền bạc, con cũng không thể mua sự trọn vẹn bằng tiền bạc. Tuyệt đối không có cách nào tái lập cảm nhận trọn vẹn xuyên qua tiền bạc hay bất cứ gì mà tiền bạc có thể mua. Chuyện này không thể làm được, và nếu con tìm hiểu cuộc đời của những người giàu nhất thế giới, con sẽ thấy họ đã không thể dùng tiền để mua hạnh phúc và tâm an bình cho dù họ có bao nhiêu của cải. Trong một thời gian, có thể họ nghĩ là họ đã mua được sự trọn vẹn, nhưng ảo tưởng này không thể kéo dài mãi mãi.

13.7. Phục hồi đức tin

Điều này dẫn chúng ta đến một đề tài thày biết sẽ gây khó chịu cho nhiều người trong thế giới hiện đại, cụ thể là đề tài đức tin. Con sống trong một thời đại khoa học, và khoa học đã làm rất nhiều để nâng cao các điều kiện sinh sống vật chất. Khoa học cũng đã làm rất nhiều để năng cao hiểu biết của nhân loại về các quy luật vật chất vận hành vũ trụ nơi con sống. Tiếc thay, khoa học cũng đã làm rất nhiều để làm suy yếu một trong những đức tính thiết yếu cho sự tìm kiếm dồi dào, cụ thể là đức tin – đức tin nơi những gì không thể nhìn thấy, không thể chứng minh qua những phương tiện có thể được nắm bắt bởi giác quan vật lý hay cách suy luận nhị nguyên của cái ta hữu diệt. Như Kinh thánh nói rất thực: “Đức tin là chất liệu của những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều chưa thấy” (Hebrews 11:1).

Một trong những đóng góp quý giá của khoa học là giúp cho con người hiểu được khái niệm về quy luật tự nhiên. Khoa học cũng đã loại bỏ một phần huyền bí và dị đoan ra khỏi cuộc sống, là niềm mê tín tràn lan trong các thời đại trước, phần lớn được khích động bởi tôn giáo, là các tôn giáo chính thống đã dựng lên hình ảnh giả về một Thượng đế bên ngoài. Tuy đây là một diễn biến tích cực, nhưng khoa học cũng đã khiến cho nhiều người lơ là, bỏ qua hay phủ nhận khía cạnh tâm linh của cuộc sống. Nếu con muốn thị hiện sự dồi dào đích thực và một cảm nhận trọn vẹn đúng nghĩa, con không thể bỏ qua sự kiện con là nhiều hơn một sinh thể vật chất. Con phải nhìn nhận sự thật con là một sinh thể tâm linh, bởi vì chỉ như vậy thì con mới có thể bước vào bên trong và tìm thấy sự trọn vẹn nội tâm mà con tìm cầu, một sự trọn vẹn không bao giờ có thể được chế tạo qua các phương tiện máy móc trong thế giới này.

Khi khoa học bảo rằng vũ trụ vật chất được điều khiển bởi các quy luật cơ học luôn luôn vận hành cùng một cách không bao giờ sai sót, điều này có phần đúng nhưng không phải là toàn bộ sự thật. Vũ trụ vật chất được điều hành bởi một số quy luật, và các luật này thì không thay đổi trong cách vận hành – chúng hoạt động một cách máy móc, từa tựa như một cỗ máy. Nhưng có một bộ quy luật cao hơn, mà chúng ta có thể gọi là quy luật tâm linh, và đây là những quy luật mà Giê-su đã đến để lưu ý nhân loại. Giê-su làm vậy một phần bằng cách thực hiện những việc người ta gọi là phép lạ. Bất cứ nhà khoa học nào cũng sẽ bảo con là phép lạ của Giê-su không thể nào có thật. Đứng về cơ học thì con không thể nào đi bộ trên mặt nước, biến nước thành rượu hay vực người chết sống lại. Đúng thực là nếu con chỉ vận dụng các quy luật hiện diện trong cõi vật chất, con sẽ không thể nào thực hiện những công việc đó. Nhưng cõi vật chất chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, một phần của một tổng thể rộng lớn hơn. Cõi vật chất là phần nối dài của cõi tâm linh, nó được tạo ra từ năng lượng của cõi tâm linh được hạ thấp độ rung. Bên dưới các quy luật vật chất là một bộ những quy luật tâm linh sâu xa hơn, và sau đây là sự khác biệt cơ bản.

Khi con bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên, con chỉ có thể dùng các quy luật vật chất. Ngay lúc cái Ta Biết bắt đầu đồng hóa như một con người hữu diệt, con đánh mất khả năng sử dụng các quy luật tâm linh cao hơn. Một người kẹt trong nhị nguyên không bao giờ có thể thực hiện những công việc mà Giê-su đã làm. Như Giê-su nói: “Kẻ nào tin ta cũng sẽ làm những công việc ta làm” (John 14:12). Ý nghĩa nội tâm là những ai tin theo Giê-su – đến độ làm theo gương thày và cố gắng đạt đến tâm thức Ki-tô – sẽ có khả năng sử dụng các quy luật tâm linh cao hơn.

Khi con dùng các quy luật tâm linh này, quả là con có thể thực hiện những cái gọi là phép lạ của Giê-su. Những kỳ tích này không thật là phép lạ theo nghĩa chúng không thể được giải thích và chỉ có thể được Giê-su thực hiện. Chúng hoàn toàn là thành quả tự nhiên của một người trong tâm thức Ki-tô sử dụng những quy luật tâm linh cao hơn có khả năng phủ quyết và thay thế quy luật vật chất. Khái niệm tâm làm chủ vật chất là một điều hoàn toàn khả dĩ, nhưng chỉ có tâm Ki-tô mới cho con khả năng điều ngự vật chất thật sự. Khả năng làm chủ vật chất này không phải là chuyện huyễn tưởng, mà thực sự là kế hoạch của Đấng Sáng tạo dành cho con, và đó là tại sao ngài mới bảo những người đồng-sáng tạo của ngài hãy nắm quyền cai quản trái đất. Cách tối hậu để làm chủ vũ trụ vật chất là lấy tâm làm chủ vật chất, hầu Ánh sáng Mẫu-Vật tức khắc trải bày ra hình tư tưởng của con mà không gặp yếu tố trì hoãn. Điều thày đang trình bày ở đây là một cách diễn tả mới cho câu “vũ trụ là một tấm gương.” Có thể nói là con – tức cái Ta Biết – đã được thiết kế để là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế, và con không bao giờ có thể ngừng đồng-sáng tạo. Cho dù con có xem mình là gì đi nữa, con vẫn luôn luôn đồng-sáng tạo. Những gì con đồng-sáng tạo sẽ là sự biểu lộ của trạng thái tâm thức hiện thời của con, của hình ảnh bản thân con trong lúc này. Những gì con đồng-sáng tạo trong trải nghiệm vật chất của con là sự diễn tả của trạng thái tâm thức, hình ảnh về bản thân và thế giới quan của con.

Nếu con tự đồng hóa như một con người hữu diệt sống trong một thế giới hạn chế, những gì con đồng-sáng tạo sẽ là sự trải bày của trạng thái tâm thức này. Có nghĩa là việc đồng-sáng tạo của con chỉ có thể sử dụng các quy luật vật chất cùng những năng lượng đã bị hạ thấp xuống độ rung của phổ tần số vật chất. Đây là tại sao việc thị hiện dồi dào của con sẽ bị hạn chế trong các năng lượng được tìm thấy trong phổ tần số vật chất và các quy luật điều hành năng lượng trong trạng thái rung động này. Đây là tại sao con phải gom góp sự dồi dào bằng cách chiếm đoạt từ người khác thay vì sinh sản ra từ nguồn cung cấp vô tận của vũ trụ. Và đây là tại sao đời con trở thành một cuộc vật lộn thay vì là một trải nghiệm an lạc, tăng trưởng và tự thăng vượt không bao giờ ngừng.

Thượng đế đã cho con quyền tạo ra bất kỳ trải nghiệm nào con muốn – ít ra trong một thời gian. Nếu con muốn đời mình là một cuộc vật lộn, con có quyền tạo ra cuộc vật lộn, và con có quyền kéo dài cuộc vật lộn bao lâu con muốn. Do con đang theo khóa học này, thày đoán con đã đi đến kết luận là con không còn muốn vật lộn nữa, con muốn cái gì hơn thế, cái gì tốt hơn. Nếu thật sự con muốn hơn thế, con phải vươn ra khỏi cái ta hữu diệt cùng lối suy luận nhị nguyên của nó. Con phải vươn ra khỏi các quy luật cơ học và các năng lượng thấp tần số của vũ trụ vật chất. Để bắt đầu sử dụng các quy luật tâm linh, con phải làm hai chuyện. Con phải sẵn lòng đi bước đầu tiên. Và con cũng phải có đức tin là nếu con cứ tiếp tục đi những bước đúng đắn, rốt cuộc con sẽ nhìn thấy thay đổi trong đời mình.

13.8. Đức tin dựa trên hiểu biết Ki-tô

Điều chúng ta làm được trong thời đại hôm nay – một điều rất khó đạt được cho người tầm đạo tâm linh trong các thế kỷ trước – là chúng ta có thể vận dụng những khám phá của khoa học. Thay vì đức tin mù quáng, chúng ta có thể có đức tin dựa trên hiểu biết, dựa trên tảng đá của hiểu biết Ki-tô. Suốt các thời đại, nhiều tôn giáo và nhiều người tâm linh đã nghĩ rằng để thực sự có đức tin, con cần nhắm mắt tin vào hứa hẹn của tôn giáo mình, tin vào các tín điều do tôn giáo mình định ra – mặc dù con không thể hiểu các quy luật đằng sau lời hứa và không thể giải mã tín điều. Đó là loại đức tin giả hiệu phát sinh từ sự kiện tôn giáo chính thống đã tước mất chìa khóa của hiểu biết.

Tôn giáo không thể cho con người sự hiểu biết mà họ cần để có đức tin chân chính, một đức tin dựa trên cái biết nội tâm thay vì sự nhắm mắt tuân thủ các tín điều vỏ ngoài. Đây là khác biệt cơ bản giữa niềm tin mù quáng mà các tôn giáo chính thống cổ võ, và đức tin đích thực mà Giê-su cùng mọi vị thày tâm linh chân chính khuyến khích khắp các thời đại. Giê-su không muốn người ta nhắm mắt tin theo lời dạy của thày, mà thày muốn ai nấy sử dụng chìa khóa của hiểu biết để bước vào bên trong chính mình và đạt được hiểu biết từ cái ta Ki-tô sẽ cho phép mình biết với cái biết nội tâm rằng lời dạy của thày là chân thực.

Điều chúng ta cần làm trong thời đại hôm nay là lấy hiểu biết của khoa học và đưa nó vượt khỏi vũ trụ vật chất. Thật là một diễn biến đáng tiếc khi khoa học đã hoàn toàn xa rời tôn giáo. Điều này cũng dễ hiểu với tình trạng của tôn giáo thời trung cổ và việc giáo hội chính thống đã đàn áp các nhà khoa học đầu tiên như thế nào vì khám phá của họ. Về lâu về dài, đây không phải là một tình trạng có thể bền vững vì cả khoa học lẫn tôn giáo đều không thể phát huy hết tiềm năng thực sự của mình nếu cả hai cứ đối chọi với nhau. Nhân loại không thể tiến vào một thời đại hoàng kim chừng nào khoa học và tôn giáo còn giao chiến với nhau. Cả khoa học lẫn tôn giáo cần đi theo định luật cơ bản về sự tự thăng vượt, vì nếu không thì rốt cuộc cả hai sẽ lỗi thời. Ở một mức cá nhân hơn, con không thể đạt sự sống dồi dào nếu con không giải quyết cái có vẻ là mối xung đột giữa hai thế giới quan khoa học và tôn giáo, một xung đột mà con đã biết đến từ tuổi thơ ấu.

Đúng như khoa học đã nói với con, thế giới vận hành theo một số quy luật cơ học nhất định. Sự thiếu sót của khoa học trong hình thức hiện tại nằm ở chỗ khoa học từ chối nhìn xa hơn vũ trụ vật chất. Con cần thừa nhận sự thật thiết yếu là có một bộ quy luật tâm linh vượt khỏi các quy luật vật chất. Các quy luật này cũng hoạt động một cách máy móc, theo nghĩa là nếu con phóng một hình ảnh đấu tranh vào tấm gương vũ trụ, vũ trụ sẽ phản chiếu lại cho con những điều kiện trải bày ra cảm nhận đấu tranh của con. Nếu con phóng chiếu một hình ảnh hạnh phúc và dồi dào vào tấm gương, vũ trụ cũng sẽ phản chiếu lại điều này cho con.

Các quy luật tâm linh không hẳn là đơn giản như các quy luật vật chất mà khoa học hiện nay biết đến. Vũ trụ vật chất được thiết kế với một yếu tố trì hoãn để cho phép con phạm lỗi mà không tự hủy hoại ngay lập tức. Yếu tố trì hoãn này hoạt động theo các quy luật cơ học, nhưng vì khoa học hiện nay không công nhận bất cứ gì vượt khỏi vật chất, cho nên các nhà khoa học không thể hiểu nổi các quy luật này vận hành thế nào. Kết quả là hầu hết mọi người cũng không hiểu các quy luật này. Khoa học không thể cho họ hiểu biết này, và tôn giáo chính thống cũng vậy khi tôn giáo bám chặt vào tín điều quá khứ và từ chối áp dụng chìa khóa của hiểu biết để dần dần hiểu được sâu hơn.

Trong một chương tới, thày sẽ mô tả chi tiết hơn các chu kỳ của năng lượng chảy xuống từ cõi tâm linh xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất. Điều thày muốn con hiểu trong phần này là khi con quyết định thay đổi cách tiếp cận cuộc sống, khi con quyết định với lên một cách tiếp cận tâm linh hơn, con sẽ khởi động những nguyên nhân chắc chắn sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu lại cho con. Vấn đề là nguyên nhân mà con khởi động sẽ không phản chiếu lại ngay lập tức – ít ra cho tới khi con đạt được tâm thức Ki-tô trọn vẹn. Nguyên nhân mà con khởi động phải làm việc tuần tự xuyên qua hệ thống năng lượng của vũ trụ vật chất trước khi thị hiện thành những điều kiện vật lý thực tế trong đời con, và điều này cần thời gian. Thêm vào đó, cũng có thể là nguyên nhân sẽ bắt đầu quay về con nhưng nó có thể bị cầm chân, ngăn chặn hay đổi hướng bởi một số điều kiện trong tâm con.

13.9. Thị hiện dồi dào là một hành trình

Nỗ lực của con để cải thiện đời mình sẽ gặp một sự chống đối nào đó, và nếu con không hiểu lực kháng cự và làm gì đó để ứng phó, con sẽ không nhìn thấy kết quả nỗ lực của mình. Khắp thế giới có hàng triệu người cầu nguyện thày mỗi ngày. Nhiều người trong số này đã cầu nguyện thày từ nhiều năm hay nhiều thập kỷ, thường là để có sự thay đổi trong đời họ. Lời cầu của họ đã không được hồi đáp và đa số không hiểu nổi tại sao. Hàng tỷ người cầu nguyện bất kỳ vị thần linh nào mà họ biết, nhưng lời cầu của họ cũng không được hồi đáp. Một số đã mất hết đức tin và rời bỏ mọi loại tôn giáo vì lời cầu của họ không được đáp ứng, còn một số khác thì vẫn tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục làm cùng một chuyện với kỳ vọng một ngày kia Thượng đế sẽ cho họ một câu trả lời khác hơn.

Con cần nâng cao hiểu biết của mình về những gì con cần làm để thị hiện điều con mong muốn. Điều con cần làm là con phải nắm lại quyền cai quản đời mình và tích cực loại bỏ những rào cản đang ngăn chặn lời cầu nguyện của con được hồi đáp, ngăn chặn con nhận được sự dồi dào của Thượng đế. Những khối chắn này là do chính con tạo ra xuyên qua sự đồng hóa với cái ta hữu diệt, và chỉ có con mới có thể giải thể chúng. Thày không thể, thày không có ủy quyền từ Thượng đế để bước vào quả cầu cái ta của con và gỡ bỏ các khối chắn của cái ta hữu diệt của con. Thày không thể gỡ bỏ các tin tưởng nhị nguyên của cái ta hữu diệt của con, thày không thể gỡ bỏ năng lượng tha hóa mà con đã cho phép tích tụ trong quả cầu cái ta của mình. Con là người đã tạo ra các điều kiện này và cho phép chúng đi vào quả cầu cái ta, và con chính là người phải gỡ bỏ chúng. Điều thày có thể làm cho con là giải thích cách làm như thế nào, và thày sẽ làm vậy trong các chương tới.

Việc thị hiện dồi dào trong đời con đòi hỏi con phải bắt đầu thay đổi cách tiếp cận cuộc sống bằng cách thay đổi tâm thức của con. Khi con bắt đầu thay đổi tâm thức, con sẽ chắc chắn khởi động một số nguyên nhân, và các nguyên nhân này sẽ tuân theo quy luật tâm linh cao hơn do Thượng đế quy định. Các quy luật này cũng mang tính cơ học và tất yếu y như định luật về trọng lực vậy. Nếu con ném một vật lên không trung, con biết là nó sẽ rơi trở lại mặt đất. Nếu con thực sự thay đổi tâm thức, con nên biết là nó sẽ chắc chắn biểu hiện trong thực tế vật lý của con. Sự biểu hiện sẽ không xảy ra tức thì, vì có thể con đã dựng lên một số rào cản ngăn trở sự biểu hiện tới được phổ tần số vật lý. Cho đến khi con gỡ bỏ các rào cản này đi, thì các nguyên nhân con đã khởi động sẽ vẫn tiếp tục là một tiềm năng chưa thể biểu hiện trong vật lý. Đó vẫn là những điều hy vọng nhưng chưa được nhìn thấy.

Khi con thay đổi cách tiếp cận cuộc sống, con không thể chờ đợi – như nhiều đạo sư về thịnh vượng hứa với con – là con sẽ nhìn thấy kết quả tức thì. Con có thể mất một thời gian để thấy kết quả vật lý cho nỗ lực của mình. Thời gian này sẽ tùy thuộc từng cá nhân, tùy thuộc vào số rào cản mà con đã dựng lên trong quả cầu cái ta. Để thực sự thay đổi trải nghiệm cuộc sống, con phải có một lượng đức tin nào đó. Con phải sẵn lòng đi bước đầu tiên mà không thấy ngay kết quả, không lập tức có ngay bằng chứng là mình đang đi con đường đúng đắn. Hãy thử tưởng tượng là thày nghĩ ra một hệ thống cải thiện bản thân, và nếu con tuân theo lời khuyên của thày thì con sẽ nhìn thấy những thay đổi tức thì trong vũ trụ vật chất. Nếu thày có một hệ thống như vậy, con sẽ có thể chứng mình tức khắc là hệ thống này hiệu quả. Nhưng vũ trụ vật chất không vận hành như thế. Điều thày có thể làm cho con là giải thích cách thức hoạt động của hệ thống năng lượng của vũ trụ vật chất và những gì con cần làm để tạo ra thay đổi vật lý trong đời mình. Vì con sẽ mất thời gian để thị hiện kết quả, con phải có một đức tin nào đó, con phải sẵn lòng làm thử và tiếp tục thử thêm cho dù con không lập tức thấy được kết quả cho nỗ lực của mình.  

Người ta từng nói là một hành trình dài ngàn dặm khởi đầu bằng một bước. Con cũng nên xem tiến trình thị hiện dồi dào trong đời con như một hành trình. Con cần thời gian để hoàn tất hành trình. Một chuyến đi dài ngàn dặm khởi đầu bằng một bước, nhưng con không thể hoàn tất chuyến đi trong một bước. Nó chỉ có thể hoàn tất khi con liên tục bước đi từng bước nhỏ một cho đến khi con tới đích. Nỗ lực cải thiện cuộc sống của con cũng giống như vậy. Con phải tiếp cận nó như một hành trình. Con phải sẵn lòng đi bước đầu tiên để hành trình bắt đầu và con không bị kẹt trong thế bất động. Nhưng con không thể chờ đợi là bước đầu tiên này sẽ tự động đưa con tới đích ngay lập tức. Con phải sẵn lòng tiếp tục bước đi từng bước một cho đến khi con thấy kết quả hiện thực từ nỗ lực của mình.

13.10. Vũ trụ sẽ phản chiếu lại đức tin của con

Đây là điểm mà một lần nữa chúng ta gặp phải vấn đề. Ở một mức độ nào đó, vấn đề này được củng cố bởi khoa học, bởi ông hoàng của thế gian, bởi các thày giả. Khoa học đã sản xuất nhiều công nghệ đem lại cho con người những kết quả tức thì, sự thoả mãn tức khắc. Khi con bước vào căn phòng tối và bật công-tắc trên tường, con chờ đợi ánh đèn sẽ bật lên tức khắc. Khi con vào xe và vặn chìa khóa, con chờ đợi xe sẽ nổ máy tức thì. Công nghệ đã dạy cho con người là nếu họ không có được kết quả mong đợi ngay lập tức, thì phải có gì đó không ổn. Ông hoàng của thế gian đã lợi dụng sự phát triển của khoa học để khơi dậy trong tâm con người niềm tin vi tế là họ có quyền được thỏa mãn tức thì. Một lần nữa, chuyện này biến thành một con đường giả mà nhiều đạo sư về thịnh vượng đã khai thác bằng cách hứa hẹn kết quả tức thì. Hầu hết những ai đã tin vào lời hứa hẹn này đều vỡ lẽ là kết quả tức thì thường không tức thì chút nào. Lý do là vì, để đạt được kết quả đích thực, con cần thay đổi tâm thức của con, và tâm thức của con có tới mấy lớp cần được thanh lọc trước khi con nhìn thấy thành quả vật lý cho nỗ lực của mình.

Thày đã đến để cho con con đường đích thực dẫn đến sự sống dồi dào, và vì vậy thày sẽ không hứa hẹn kết quả tức khắc. Thày sẽ làm điều mà nhiều đạo sư về thịnh vượng sẽ bảo là tự sát – xét từ góc độ kinh doanh, nhưng thày đâu làm chuyện kinh doanh. Thày sẽ bảo con, một cách rõ ràng và thẳng thừng, rằng con sẽ không trải nghiệm thành quả tức khắc từ bất kỳ phương pháp nào thày trao cho con trong khóa học này. Ít nhất thày có thể hứa với con là con sẽ không nhìn thấy của cải thừa mứa thị hiện trong đời con ngay lập tức. Con có thể trải nghiệm một loại thành quả khác, cụ thể là sự gia tăng cảm giác an lạc tâm linh, và quả thực đây là điều có thể xảy ra gần như tức khắc khi con đi theo con đường thày phác họa.

Thay vào đó, điều thày sẽ làm cho con là chỉ ra con đường đích thực để thị hiện dồi dào. Thày sẽ trình bày cho con những tầng khác nhau của vũ trụ vật chất, những tầng khác nhau của chính tâm con, và làm thế nào một nguyên nhân mà con khởi động bằng tâm ý thức phải tuần hoàn xuyên các tầng này trước khi có thể thị hiện như một điều kiện vật chất trong đời con. Thày sẽ chỉ cho con làm thế nào con có thể loại bỏ một cách hệ thống những khối chắn trong các tầng của tâm con đang ngăn chặn viễn quan dồi dào của con trở thành hiện thực vật lý. Đây là một cách tiếp cận sẽ đem lại cho con hiểu biết, và dựa trên hiểu biết này, con có thể xây dựng một loại đức tin mới. Đức tin này không mù quáng. Đức tin này đặt nền tảng trên sự hiểu biết về cách vũ trụ vận hành và tại sao viễn quan dồi dào của con phải mất thời gian để trở thành hiện thực vật lý.

Tại sao thày lại dài dòng giải thích cho con sự cần thiết phải có đức tin? Tại sao không đơn giản chỉ cho con làm cách nào con có thể thị hiện mọi thứ? Thày làm vậy vì con cần phải hiểu là thực tế của những gì thày đang nói với con ở đây không thể chứng minh được trừ khi con có đức tin. Thày đã nói với con nhiều lần rằng vũ trụ là một tấm gương. Thày đã thấy nhiều người đọc sách hay tham dự hội thảo để học cách thị hiện dồi dào trong cuộc sống, và họ đã áp dụng một cách miên mật các phương pháp được chỉ dạy.

Ở ngoài kia có nhiều thày giả, nhưng không phải tất cả mọi đạo sư đều là thày giả. Một số đạo sư trong lãnh vực thị hiện thịnh vượng quả thực có dạy một số nguyên tắc chân chính có thể đem lại thành quả nếu áp dụng. Vấn đề là nếu học viên áp dụng các kỹ thuật đạt tăng trưởng tâm linh hay thịnh vượng trong khi vẫn mang trong lòng một số nghi vấn về giá trị hay hiệu quả của kỹ thuật, thì các kỹ thuật đó không thể có tác dụng. Vũ trụ là một tấm gương. Nếu con phóng chiếu lòng ngờ vực vào tấm gương vũ trụ thì gương chỉ có thể phản chiếu lại các điều kiện của tâm thức con. Khi con thực hành một kỹ thuật chính đáng để tăng trưởng tâm linh hay có dồi dào nhưng tâm con vẫn lởn vởn nghi vấn, thì vũ trụ sẽ phản chiếu lại cho con những điều kiện xác nhận nghi vấn của con. Nghi vấn của con về tính hiệu quả của kỹ thuật sẽ làm giảm hiệu quả của kỹ thuật. Nếu con nghi ngờ liệu một kỹ thuật có hiệu quả hay không, thì kỹ thuật đó sẽ không hiệu quả – đối với con. Nếu con áp dụng cùng kỹ thuật đó với đức tin, vũ trụ sẽ phản chiếu lại đức tin này cho con và quả nhiên kỹ thuật sẽ thành công.

Suốt các thời đại, nhiều người đã lấy lời dạy của Giê-su, cố gắng đem ra áp dụng trong đời mình. Vì họ có một số nghi ngờ hay vì họ không hiểu giáo lý đầy đủ, họ đã không đạt được kết quả mong muốn. Rốt cuộc họ suy luận là con đường do Giê-su vạch ra đơn giản không hiệu quả. Họ kết luận những lời hứa của tôn giáo là lời hứa hão. Nhưng con đường do Giê-su vạch ra thật sự đem lại kết quả. Con đường do tất cả mọi tôn giáo chân chính khác vạch ra – có mấy tôn giáo như vậy – thật sự đem lại kết quả.

13.11. Đức tin chính là hiện thực

Quả thật con có trong quả cầu cái ta của con tất cả những gì con cần để thị hiện sự sống dồi dào, tăng trưởng tâm linh và đạt sự cứu rỗi tối hậu. Lời dối của ông hoàng thế gian là con không có trong chính mình những gì con cần để được cứu rỗi, rằng con cần một vị cứu tinh, con cần một ai khác hay một điều gì từ bên ngoài để được trọn vẹn. Đây là lời dối trá vì con vốn có mọi thứ bên trong con rồi. Để tận dụng những gì con có, con phải tới chỗ sử dụng được chúng với đức tin trọn vẹn, một đức tin đích thực dựa trên kiến thức lẫn hiểu biết. Chỉ khi nào con dùng những gì con có với đức tin hoàn toàn thì tấm gương vũ trụ mới phản chiếu lại cho con những gì con tin, những gì con đã chấp nhận là một thực tại hiện thực. Chỉ khi đó con mới thị hiện những kết quả mà con mong mỏi.

Vũ trụ phản chiếu lại cho con những điều kiện vật lý biểu diễn các hình tư tưởng con giữ trong tâm. Nếu hình tư tưởng dựa trên nghi vấn hay giả định không chính xác, đó sẽ là điều tấm gương phản chiếu lại cho con. Nếu hình tư tưởng của con dựa trên một đức tin vượt khỏi sự hiểu biết, sự hiểu biết nhị nguyên của cái ta hữu diệt, thì vũ trụ sẽ phản chiếu lại cho con sự sống dồi dào. Chỉ khi nào con thực sự thay đổi tâm thức, bỏ qua bên các nghi ngờ và lý luận nhị nguyên của cái ta hữu diệt, thì con mới đạt được sự sống dồi dào mà Cha con sẽ hoan hỉ ban cho con. Chỉ khi nào con có niềm tin tuyệt đối vào Thượng đế và thực tại của ngài, thì con mới có khả năng và ý muốn nhận được sự sống dồi dào của ngài. Chỉ khi nào con thực sự chấp nhận mình là ai thì con mới chấp nhận là mình xứng đáng được nhận sự sống dồi dào và mình có khả năng biểu hiện nó từ bên trong chính mình. Chỉ khi nào con có sự chấp nhận nội tâm toàn diện này thì con mới có đức tin tuyệt đối – đức tin dựa trên tảng đá Ki-tô thay vì cát lún của tâm thức nhị nguyên – cho phép con chấp nhận là quả thực sự dồi dào của Thượng đế có thể được biểu hiện và trải bày trong vũ trụ vật chất. Đó là tại sao đức tin là chất liệu của những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều chưa thấy. Con phải có đức tin đến độ khi con với lên tâm Ki-tô và đứng thẳng hàng với thực tại Thượng đế, thì thực tại này sẽ thị hiện trong đời con. Đây không phải là chuyện huyễn tưởng mà là chuyện học cách vận hành của quy luật Thượng đế, xong áp dụng các quy luật này với đức tin trọn vẹn để viễn quan nội tâm của mình trở thành hiện thực – như Giê-su đã có nhiều dịp chứng tỏ.

Con hãy lấy một quyển Kinh thánh và đọc những lần Giê-su chữa bệnh. Con sẽ thấy là trong mỗi trường hợp, đức tin của người bệnh đã giữ một vai trò thiết yếu trong việc chữa lành. Trong một số trường hợp, Giê-su hỏi người đó có thật tin rằng thày có uy lực chữa lành hay không, và chỉ khi họ có đức tin thì họ mới được chữa lành (Matthew 9:28). Lại có trường hợp Giê-su đến thăm một thị trấn, và do sự thiếu đức tin của cư dân ở đó mà không ai được chữa lành (Matthew 13:58). Một lần nữa, đây lại là hệ quả của vũ trụ như một tấm gương. Nếu con tin tuyệt đối là một điều gì sẽ xảy ra thì nó sẽ xảy ra. Nếu con nghi ngờ thì nó sẽ không xảy ra, và như vậy chính lòng nghi ngờ của con đang được thị hiện. Trước khi thày có thể giải thích cho con làm thế nào các nguyên nhân mà con khởi động di chuyển xuyên qua vũ trụ vật chất, thày cần giảng cho con tầm quan trọng của việc đặt niềm tin vào chính tiến trình đó.

13.12. Trước khi con có thể nhận, con phải sẵn sàng cho

Chìa khóa cốt yếu trong việc thị hiện dồi dào là con phải bắt đầu tỏa rạng dồi dào. Chìa khóa cốt yếu trong việc nhận dồi dào của Thượng đế là buông bỏ trước hết bất cứ dính mắc nào con có với thế gian. Thày đã nghiên cứu con người và tâm lý của họ trong một thời gian rất dài. Thày đã nghiên cứu những người tìm nhiều dồi dào hơn và những người tìm sự tăng trưởng tâm linh dưới mọi hình thức. Thày có thể cam đoan với con là, hơn bất cứ gì khác, vấn đề ngăn cản họ thị hiện sự dồi dào chính là họ thiếu đức tin.

Có một vấn đề cố hữu mà con cần phải hiểu. Hầu hết mọi người khi họ gắng sức đạt được dồi dào, đó là vì họ cảm thấy không dồi dào, họ cảm thấy không trọn vẹn, khiếm khuyết, thiếu thốn. Khi họ bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên thì họ suy luận theo tâm nhị nguyên. Họ cảm thấy là để có dồi dào, họ cần phải nhận được gì đó từ ngoài. Khi đã tìm cầu sự dồi dào thì khó làm sao tránh được tâm trạng cho rằng mình cần nhận được gì đó. Họ cần tìm ra một cách khiến vũ trụ cho họ những gì họ muốn. Vũ trụ là một tấm gương, cho nên nếu họ phóng chiếu sự thiếu hụt ra tấm gương, thì gương sẽ phản chiếu lại một tình trạng thiếu hụt. Nếu con phóng chiếu ra tấm gương một trạng thái dồi dào, sẵn sàng cho ra, thì vũ trụ cũng sẽ phản chiếu lại dồi dào cho con, qua đó vũ trụ và người khác sẽ cho con nhiều hơn. Điều này được Giê-su giải thích khi thày nói: “Ai đã có thì sẽ được cho thêm, và họ được thêm dồi dào. Còn ai không có thì sẽ bị lấy mất, ngay cả những gì họ có” (Matthew 13:12).

Con không thể thị hiện dồi dào chừng nào con còn ở trong trạng thái tâm thức khiến con cảm thấy thiếu hụt. Con không thể có được dồi dào chừng nào con còn ở trong tâm trạng thiếu thốn. Nếu con gửi cái trống không vào tấm gương vũ trụ, gương sẽ phản chiếu được gì cho con ngoại trừ thêm nhiều trống không? Cách duy nhất để nhận được dồi dào là phóng chiếu dồi dào vào tấm gương vũ trụ, và để làm được vậy, con phải thay đổi trạng thái tâm con để con không còn cảm thấy thiếu hụt. Con phải khắc phục xu hướng bám giữ những gì con đang có, sợ phải cho đi cái ít ỏi mà con nghĩ mình có. Con phải đem con vào một trạng thái trù phú nơi con sẵn lòng cho ra. Trước khi con có thể nhận, con phải sẵn sàng cho.

Con phải sẵn lòng cho ra những gì con có trước khi con có thể nhận thêm. Đây là nguyên lý Giê-su đã giải thích khi thày nói là nếu con tìm cách cứu mạng sống của mình – tức ý niệm sống còn hữu diệt của mình – thì con sẽ mất đi sự sống (Matthew 16:25). Nếu con sẵn lòng mất đời sống – tức các dính mắc vào một ý niệm sống còn giới hạn – trong mục đích đạt được tâm thức Ki-tô, thì con sẽ tìm thấy sự sống vĩnh cửu, sự sống dồi dào. Nếu con tìm cách bám chặt những gì con có, con sẽ phóng ra một trạng thái thiếu thốn vào vũ trụ và vũ trụ sẽ phản chiếu nó lại cho con. Cách duy nhất để thay đổi sự thể này là con phải buông bỏ ý niệm bản sắc giới hạn của con. Con phải buông bỏ các dính mắc mà con có ngay bây giờ trước khi Thượng đế có thể cho con nhiều hơn.

Hãy để thày trình bày ý tưởng này từ một góc độ khác. Nhiều người cho rằng điều họ muốn là sự dồi dào, và các thế lực của thế gian đã lập trình khiến họ nghĩ là họ phải nhận được dồi dào từ thế giới vật chất. Kỳ thực, điều họ muốn là sự trọn vẹn, và trọn vẹn thì chỉ có thể tìm thấy trong quả cầu cái ta của họ. Khi con bước vào bên trong và tìm vương quốc của Thượng đế cùng sự công chính của ngài – tức là việc sử dụng đúng đắn các khả năng sáng tạo của mình – con sẽ nhận được sự sống dồi dào trực tiếp từ Thượng đế (Matthew 6:33). Xong con sẽ tỏa rạng tâm thức dồi dào đó, và tấm gương vũ trụ sẽ bắt buộc phản chiếu nó trở về con dưới dạng sự dồi dào vật chất – nếu đây là điều con muốn thật sự. Chừng nào con tin là con cần gì đó từ bên ngoài chính con, con sẽ không thể đạt đến trọn vẹn đích thực. Tấm gương vũ trụ chỉ có thể phản ánh lại cho con trạng thái thiếu thốn.

13.13. Cho ra không nhất thiết là bố thí

Khi thày nói đến việc cho ra, không nhất thiết là thày muốn nói đến việc bố thí của cải vật chất. Thày muốn nói chủ yếu đến việc từ bỏ ý niệm bản sắc giới hạn hữu diệt của mình, ý niệm rằng mình tách biệt khỏi dòng chảy dồi dào bất tận của Thượng đế. Con cần buông bỏ dính mắc tình cảm với những thứ của thế gian, vì những thứ này khiến con cảm thấy như thể con không làm sao trọn vẹn được nếu con không có chúng. Đây là nguyên lý của sự tăng trưởng mà thày đã có đề cập trước đây. Sự tăng trưởng, ngay trong bản chất, là một tiến trình thăng vượt bản thân. Khi con tăng trưởng, con trở nên hơn nữa. Nhưng trước khi con có thể tăng trưởng, con phải sẵn lòng buông bỏ hình tư tưởng hiện thời của con.

Trước khi con có thể nhận dồi dào của Thượng đế, con phải chịu buông bỏ trạng thái thiếu thốn hiện thời của con. Cách duy nhất để buông bỏ trạng thái thiếu thốn, cảm giác mình không có đủ, là con phải chịu buông bỏ những gì con có. Cách duy nhất để nhận một ý niệm sống lớn hơn là con phải sẵn lòng buông bỏ ý niệm sống giới hạn. Con phải sẵn lòng khắc phục các dính mắc con đang có, sẵn lòng mất đi ý niệm sống giới hạn để nhận lấy một ý niệm sống lớn hơn – là ý niệm sống sẽ phóng ra một hình ảnh dồi dào hơn vào tấm gương vũ trụ.

Có một quy luật tâm linh nói rằng bất cứ gì con phóng chiếu vào tấm gương vũ trụ sẽ – qua quyền năng của tâm con – được phản chiếu lại cho con dưới dạng các điều kiện vật lý trong đời con. Nếu con thay đổi tâm mình từ trọng tâm thiếu thốn sang trọng tâm dồi dào, vũ trụ sẽ theo đó mà hồi đáp. Để chứng minh quy luật này, con phải sẵn lòng buông bỏ cảm nhận giới hạn hiện thời và khoác vào một cảm nhận dồi dào. Xong con phải tin tưởng là trong tương lai, vũ trụ sẽ trả lại cho con những điều kiện phản ánh tâm thái mới của con. Con phải sẵn lòng cho đi mà không có gì chắc chắn, không có bằng chứng vật lý nào là con sẽ nhận lại phần thưởng xứng đáng của mình. Lý do là vì phần thưởng sẽ cần thời gian để quay trở về con. Ngay lúc con cho đi, không thể có bằng chứng vật lý nào cho thấy là con sẽ nhận được. Con phải cho đi trong đức tin, và con phải sẵn lòng giữ vững niềm tin này cho đến khi phần thưởng hiện thực dưới dạng vật lý.

Quy luật của Thượng đế luôn luôn hiệu nghiệm, quy luật của ngài không bao giờ sai sót. Nhưng cách vận hành của quy luật là trả về cho con bất cứ gì con gửi ra. Nếu con tin vào quy luật – nếu con có đức tin là bất cứ gì con cho sẽ được trả lại nhân lên nhiều lần – thì con sẽ chứng minh quy luật. Con sẽ làm vậy bằng cách giữ vững đức tin là cuối cùng mình sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng. Nếu con nghi ngờ quy luật, hay nếu con không giữ được niềm tin cho đến khi kết quả vật lý thị hiện, thì con cũng sẽ chứng minh quy luật. Con sẽ chứng minh là cảm nhận vật lộn tạo ra vật lộn.

13.14. Con là một mặt trời tỏa rạng dồi dào

Con được thiết kế để là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế, con được thiết kế để ánh sáng Thượng đế, sự dồi dào của Thượng đế, tuôn chảy qua con. Đây là nguyên lý được Giê-su giải thích qua câu: “Con đã được lãnh miễn phí thì hãy cho miễn phí” (Matthew 10:8). Để thị hiện dồi dào trong đời mình, con phải tới điểm xem mình là một mặt trời không ngừng tỏa rạng ánh sáng tâm linh chan hòa từ nguồn cung cấp bất tận của Thượng đế. Nếu con biết là con đang tiếp cận một nguồn ánh sáng bất tận từ Thượng đế, tại sao con lại ngại trao ánh sáng đó đi (dưới sự hướng dẫn minh triết của cái ta Ki-tô của con, để con không ném ngọc trai trước mặt heo)? Con cần mở rộng nhận biết để biết được là mình đang nhận miễn phí ánh sáng từ Thượng đế thì mình cũng có thể trao miễn phí cho người khác. Chỉ khi nào con cho ra những gì con có một cách tự do, thì con mới nhận được nhiều hơn một cách tự do.

Vấn đề, tất nhiên, là ngay bây giờ con không trải nghiệm là mình đang nhận ánh sáng tâm linh từ Thượng đế. Lý do là vì con đã tự đồng hóa như cái ta hữu diệt, và cái ta hữu diệt thì không thể cảm nhận dòng chảy dồi dào của Thượng đế. Đây là điểm cốt yếu – cái ta hữu diệt không bao giờ có thể chứng minh là quy luật của Thượng đế hiệu nghiệm. Để chứng minh quy luật, con phải khởi sự tiến trình tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt. Và để khởi sự tiến trình, con phải sẵn lòng thử nghiệm mặc dù con không có bằng chứng là thử nghiệm của mình sẽ thành công. Con phải sẵn lòng cho ra mặc dù con không có bằng chứng là con sẽ nhận vào. Con phải sẵn lòng đi bước kế tiếp mặc dù con không biết bước này sẽ dẫn mình tới đâu. Để thị hiện dồi dào trong đời con, con phải học cách sử dụng những quy luật tâm linh cao hơn vượt khỏi các quy luật vật chất. Cái ta hữu diệt của con không thể sử dụng, hay thậm chí nhận diện, những quy luật này. Con phải sẵn lòng với tay ra khỏi cái ta hữu diệt, và con phải tiếp tục với đến tâm Ki-tô cho dù con không nhìn thấy kết quả trong một thời gian.

Quá nhiều người đã bắt đầu sử dụng một kỹ thuật để có dồi dào hay tăng trưởng tâm linh. Xong họ chán nản, ngừng lại, ngay trước khi họ sắp sửa nhìn thấy kết quả. Đó là tại sao điều thiết yếu là con hiểu được bốn tầng của vũ trụ vật chất, và làm thế nào những nguyên nhân do con khởi động phải tuần hoàn xuyên qua bốn tầng này trước khi con thấy kết quả vật lý. Đây là hiểu biết thày sẽ cho con trong những chương tới, và thày hy vọng nó sẽ giúp con xây dựng một đức tin dựa trên cái hiểu của tâm Ki-tô, vượt khỏi cái hiểu của cái ta hữu diệt. Một khi con có đức tin này, con sẽ sẵn lòng đi bước đầu tiên về hướng sự sống dồi dào, và con sẽ tiếp tục đi từng bước một cho đến khi con thị hiện dồi dào đó trong trải nghiệm đời sống. Con hãy đi theo thày, để thày trao cho con một tầm hiểu sâu xa hơn về bốn tầng của vũ trụ vật chất, và làm thế nào mọi chuyện trong thế giới vật chất đều khởi đầu bằng một ý tưởng, một hình tư tưởng nơi một cõi cao hơn.

11 | Hợp nhất là nguồn suối an lạc

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 17/4/2005.

Trái tim yêu dấu của thày, bây giờ chúng ta đã đến điểm trọng yếu trong loạt bài giảng này từ tim thày đến tim con. Điểm này trọng yếu vì trừ khi con thấm nhuần và chấp nhận trọn vẹn những gì thày sắp sửa nó với con, thì nỗ lực của thày để giúp con đón nhận sự sống dồi dào sẽ thất bại. Thay vì bước theo chân thày vào một cuộc đời sung mãn, con sẽ đi theo – hay tiếp tục đi theo – các đạo sư giả vào một cuộc đời thiếu thốn chật vật.

11.1. Tâm thức nhị nguyên là một mê cung

Cái Ta Biết đã quyết định thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên và, từng bước một, nó càng ngày càng bị bao trùm trong tâm thái đó cho đến khi con đánh mất sự nối kết ý thức với Hiện diện TA LÀ của con và con rơi xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn. Ngay lúc con tuột mất sợi dây liên lạc thì cái ta hữu diệt của con ra đời. Cái ta hữu diệt này hình thành kẻ thù bên trong làm việc đồng hành với kẻ thù bên ngoài, tức các thế lực phản Ki-tô, để cố giam con lại mãi mãi trong tâm thức nhị nguyên. Chúng sẽ làm chuyện này bằng đủ mọi cách, và thày đã phác họa một số chiến lược chúng sử dụng để giữ con trong bẫy. Bây giờ thày sẽ trình bày cho con chiến lược cơ bản, chiến lược chỉ đạo, được các thế lực nhị nguyên sử dụng để giữ con trong cái hộp tư duy đó. Và để hiểu chiến lược này cũng như cách nó được dùng để chống lại con, con cần hiểu đặc tính cốt yếu của cái ta hữu diệt.

Cái Ta Biết là trụ sở của ý chí tự quyết của con. Cái Ta Biết là người lấy quyết định. Cái Ta Biết có khả năng lấy những quyết định thuận hợp với định luật và ý muốn của Thượng đế, hay những quyết định không thẳng hàng với định luật và ý muốn của Thượng đế. Mọi chuyện trong đời con đều xoay quanh cái Ta Biết và các quyết định con lấy. Bất cứ lúc nào cái Ta Biết cũng là những gì nó thấy nó là. Cái Ta Biết lấy quyết định dựa trên ý niệm bản sắc hiện thời của nó, hiểu biết và hệ thống tin tưởng hiện thời của nó. Cái Ta Biết đã được tạo ra như một nối dài của sự nhận biết thuần khiết của Thượng đế. Nó mang sẵn ý muốn được là một phần của Dòng sông sự Sống, tuôn chảy với tạo vật của cái Tất cả của Thượng đế và trở thành hơn nữa. Cái Ta Biết luôn luôn muốn làm việc phải. Nó luôn luôn cố chọn phương án nào phù hợp với mục đích nó đang hiện hữu, nâng cao cuộc sống của nó lẫn tạo vật của cái Tất cả – theo cách nó hiện đang hiểu bản sắc và sự nối kết của nó với cái Tất cả.

Cái Ta Biết luôn luôn chọn phương án mà nó xem là tốt nhất cho nó và tốt nhất cho tổng thể. Vấn đề là nếu nó bắt đầu tự đồng hóa với tâm nhị nguyên, nó không thể thấy được cái gì sau cùng sẽ tốt nhất cho nó và cho Tất cả. Thay vào đó, các chọn lựa duy nhất mà nó nhìn thấy là những chọn lựa dựa trên tâm thức nhị nguyên. Cho dù nó lấy chọn lựa nào đi nữa, nó cũng bị bao trùm nhiều hơn trong tâm thức nhị nguyên. Một khi nó vượt quá điểm tới hạn, đánh mất sợi dây liên lạc với Hiện diện TA LÀ, nó không thể nhìn ra lối thoát được nữa khỏi một tình trạng mà giờ đây có vẻ là một mê cung nơi mọi chọn lựa đều dẫn vào ngõ cụt. Con hãy tưởng tượng một mê cung được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới, làm bằng những hàng cây cao. Tưởng tượng con đứng trên một bục cao nhìn xuống một mê cung như vậy với bao người đang cố tìm đường thoát ra khỏi mê cung. Khi con nhìn từ trên cao, thật quá dễ nhận ra đường nào dẫn vào ngõ cụt, đường nào đưa ra khỏi mê cung. Bây giờ hãy tưởng tượng con đổi nhãn quan, con ở ngay trong mê cung và tất cả những gì con nhìn thấy là những bức tường xanh bao quanh con. Bỗng nhiên, việc biết được đường nào dẫn đến ngõ cụt hay lối ra trở thành chuyện bất khả. Đây chính xác là sự khác biệt giữa việc con còn một chút tâm thức Ki-tô, một nối kết nào đó với Hiện diện TA LÀ của mình, với việc con hoàn toàn kẹt cứng trong tâm thức nhị nguyên.  

Cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian biết là cái Ta Biết không ngu ngốc và muốn làm điều phải. Vậy làm thế nào chúng có thể khiến con làm điều gì khởi lên từ tâm thức nhị nguyên và do đó sẽ gây hại cho con? Chúng chỉ có thể làm được bằng cách khiến cái Ta Biết bị bối rối trong một hệ thống tin tưởng tương đối, nhị nguyên, che mờ thực tế là một số hành động có thể làm hại con. Trong thế giới nhị nguyên, tất cả mọi thứ đều tương đối và cái ta hữu diệt luôn luôn có thể biện minh cho những việc nó muốn làm. Khi con nhìn cuộc sống xuyên qua phin lọc nhị nguyên này, con không thể thấy là bất cứ gì con làm – ngay cả những chuyện có vẻ tốt đi nữa – sẽ chỉ giam con chặt hơn trong tâm thức phản Ki-tô.

11.2. Nhiều hơn dẫn đến ít hơn

Khi cái Ta Biết quyết định thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, chính nó đã lấy quyết định này. Chắc chắn nó bị cám dỗ bởi sự có mặt của tâm thức nhị nguyên. Khi đó, cái Ta Biết chưa tạo ra cái ta hữu diệt trong quả cầu cái ta của nó, nhưng nó đã mở cửa ra cho cám dỗ từ kẻ thù bên ngoài, tâm thức rắn. Đây là một quyết định mà cái Ta Biết đã lấy do nó đâm ra nghi ngờ sự chính đáng của vị thày tâm linh của nó cùng sự hướng dẫn của thày. Nó đâm ra hoang mang không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra nếu thay vì làm theo hướng dẫn của thày tâm linh, nó quyết định bước ra ngoài khuôn khổ an toàn của lời hướng dẫn. Tại sao cái Ta Biết lại chọn lựa như vậy? Nó chọn làm vậy chủ yếu là vì ý muốn trở nên hơn nữa, phối hợp với sự thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là thiếu kinh nghiệm về tâm thức nhị nguyên. Cái Ta Biết bắt đầu tự hỏi: “Liệu có gì nhiều hơn để trải nghiệm khi tôi bước ra ngoài khuôn khổ các định luật của Thượng đế và lời hướng dẫn của vị thày? Cảm giác sẽ như thế nào, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên? Liệu tôi sẽ trở nên hơn nữa, liệu tôi sẽ thu hoạch thêm trải nghiệm mà tôi không có được nếu tôi ở lại trong khuôn khổ lời hướng dẫn của thày?”

Bằng cách thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, cái Ta Biết quả là đã có những trải nghiệm vượt khỏi những gì nó có thể có nếu nó ở lại trong hợp nhất. Từ một nhãn quan nào đó, có thể nói là quả thực đã có cái gì đó nhiều hơn – nghĩa là cái gì đó khác lạ – để trải nghiệm bên ngoài hợp nhất so với bên trong hợp nhất. Vấn đề là khi thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, cái Ta Biết đã không trở nên nhiều hơn cái nó là trước khi dự phần vào trạng thái này. Ngược lại là đằng khác, cái Ta Biết đã trở nên ít hơn cái nó đã được tạo ra để là, ít hơn cái nó từng là trước khi thử nghiệm nhị nguyên. Thay vì tự đồng hóa như một sinh thể tâm linh bất diệt với khả năng sáng tạo vô hạn, cái Ta Biết giờ đây bắt đầu tự đồng hóa như một sinh thể giới hạn mắc kẹt trong các chọn lựa cũ của mình, và do đó bị đóng hộp trong rất nhiều hạn chế.

Con càng bước sâu xuống tâm thức nhị nguyên thì con càng chấp nhận nhiều hạn chế là thực và không thể tránh khỏi. Con ngày càng bị bao trùm trong giới hạn, thiếu thốn và khổ đau. Con trở nên kém hơn sinh thể bất diệt, tự do trong Thượng đế, mà con đã được tạo ra để là. Điều này có thể mang lại một ý nghĩa mới cho câu nói dân gian rằng “ít hơn là nhiều hơn.” Bởi vì thật sự, nếu con đi tìm sự nhiều hơn bằng cách bước ra ngoài hợp nhất với Thượng đế và hạn chế tiềm năng sáng tạo của mình, thì cuối cùng con sẽ là ít hơn.

11.3. Con đường dồi dào của hợp nhất

Thượng đế đã cho con quyền tự quyết. Cá nhân con không bắt buộc phải thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Nhưng chuyện gần như không thể tránh được là ít nhất có một số người đồng-sáng tạo sẽ chọn thử nghiệm với trạng thái tâm thức đó. Dòng sống của con đã không được tạo ra với sự nhận biết trọn vẹn của Thượng đế, và do đó con đã không có cái biết tuyệt đối về chuyện gì sẽ xảy ra nếu con bắt đầu thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Con cũng không có kinh nghiệm nào trước đó để mà so sánh. Tất cả những gì con có thể làm là tuân theo hướng dẫn của thày con, nhưng vị thày này lại ở ngoài con. Câu hỏi trở thành: “Liệu con có thể đi theo hướng dẫn của một vị thày bên ngoài và thể nhập các hướng dẫn này cho đến khi chúng thực sự là một phần của bản thể con và con hiểu rõ tại sao chúng đã được ban ra? Hay liệu con cần trải nghiệm cảm giác đi ngược lại hướng dẫn của thày để biết xem chuyện gì sẽ xảy ra? Qua phương pháp thử và sửa sai, con có thể lấy quyết định và hiểu được tại sao lời hướng dẫn của thày đã được ban ra.”

Có hai cách tăng triển. Một cách là đi theo một vị thày tâm linh chân chính cho đến khi con thấm nhuần hoàn toàn lời hướng dẫn của thày, cho đến khi con trở thành một với thày trọn vẹn đến độ con biết tại sao thày đã ban ra hướng dẫn đó. Con không còn xem thày là một sinh thể bên ngoài và con không còn xem lời hướng dẫn của thày là đến từ một nguồn ở ngoài con. Con đã khuếch lớn ý niệm cái ta của con để bao gồm cả thày. Con đã, trên đường trở thành một với cái Tất cả của Thượng đế, trở thành một với thày. Con xem thày như một phần của bản thể rộng lớn của con, và con xem hướng dẫn của thày như xuất phát từ bên trong bản thể rộng lớn này.

Con đường đích thực dẫn đến cứu rỗi là con đường gia tăng cảm nhận hợp nhất của con với Thượng đế cho đến khi con đạt được tâm thức Thượng đế trọn vẹn, sự hợp nhất trọn vẹn với cái Tất cả của Đấng Sáng tạo ra con. Như một bàn đạp đi lên hợp nhất với cái Tất cả của Thượng đế, Đấng Sáng tạo đã định ra một con đường để con theo. Con đường này là cho con một vị thày bên ngoài có nhiều kinh nghiệm hơn con. Nếu con chịu đi theo hướng dẫn của thày, và đi theo trong tinh thần kết hợp, con sẽ cuối cùng đạt tới một trạng thái hợp nhất với thày. Đây là một bàn đạp dẫn đến hợp nhất với Đấng Sáng tạo của con. Khi dòng sống của con lần đầu tiên mạo hiểm vào vũ trụ vật chất, có chút quên lãng xảy ra và con đánh mất cảm nhận trực tiếp rằng con là một với Đấng Sáng tạo, là một nối dài của Đấng Sáng tạo. Con biết mình có một Hiện diện TA LÀ, tức là Sinh thể tâm linh ngụ trên một cõi cao hơn, nhưng con không hiểu được trọn vẹn rằng Hiện diện TA LÀ là một nối dài của Đấng Sáng tạo. Để giúp con tăng triển cái hiểu này, Đấng Sáng tạo ban cho con một vị thày tâm linh có mặt ở cùng tầng rung động nơi cái Ta Biết đã đi xuống. Với mức tâm thức lúc đó, con có thể nhìn thấy và thông hiểu vị thày bên ngoài, và do đó con có thể nghe thấy lời hướng dẫn của thày. Đó chính là khu Vườn Eden, tức một biểu tượng cho trạng thái tâm thức mà dòng sống có khi nó lần đầu tiên đi xuống vùng năng lượng dày đặc của vũ trụ vật chất.

Ngược với một số người thường nghĩ hay lời giảng dạy của một số tôn giáo, con không chỉ đơn giản bị ném vào thế giới này mà không có nơi nương tựa, không có mối liên hệ nào với cõi tâm linh. Con được ban cho một môi trường bảo bọc với một vị thày thương yêu có khả năng hướng dẫn con. Tiềm năng cao nhất cho môi trường này là con không chỉ đơn giản làm theo hướng dẫn của thày mà con sẽ nhìn đằng sau lời chỉ dẫn vỏ ngoài để đạt tới một cảm nhận hợp nhất với thày. Và qua đó con sẽ đạt tới cùng tầng nhận biết tâm linh, cùng mức độ chứng đạt như thày. Điều này sẽ đưa con lên cao hơn trong mối hợp nhất với Thượng đế, đến độ con không thể đánh mất cảm nhận hợp nhất này được nữa, bởi vì giờ đây con đã đồng hóa vĩnh viễn với Hiện diện TA LÀ của con. Con đã thể nhập và chấp nhận trọn vẹn con là một nối dài của Thượng đế, và cái Ta Biết có khả năng thấy mình là một với cái Tất cả của Đấng Sáng tạo, thậm chí là một với cái Tất cả của Bản thể thuần khiết của Thượng đế.

Nhiều dòng sống quả thực đã đi theo con đường hợp nhất với vị thày bên ngoài và nhờ vậy đạt tới hợp nhất với phần rộng lớn hơn của bản thể họ. Chúng ta có thể gọi đây là con đường của sự sống dồi dào vì chừng nào con còn duy trì nối kết với cõi tâm linh, con sẽ có một cảm giác dồi dào trong đời mình.

11.4. Con đường thiếu thốn của tách biệt

Một số dòng sống quyết định bỏ qua cơ hội đạt hợp nhất với vị thày bên ngoài như một bàn đạp cho sự hợp nhất với Thượng đế bên trong. Thay vào đó, họ đi theo một thày bên ngoài khác, là thày giả tượng trưng cho tách biệt khỏi Thượng đế, nghịch lại sự hợp nhất với Thượng đế. Thày giả muốn con vâng lời mù quáng thay vì hợp nhất, và đối với một dòng sống bị kẹt trong trạng thái không muốn lấy quyết định, sự vâng lời là chuyện dễ làm hơn. Đơn giản, đây là con đường ít kháng cự nhất.

Con yêu dấu, đây là cách tăng triển thứ nhì, nhưng tiếc thay, đây là con đường đầy rủi ro. Rủi ro chính là dòng sống có thể bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên và ở lại đó trong một thời gian vô hạn định. Trên lý thuyết thì con có thể tăng triển theo cách này hay cách kia. Nếu một dòng sống đi ngược lại chỉ dẫn của vị thày tâm linh, y sẽ bắt đầu trải nghiệm một cuộc sống đầy vật lộn và thiếu dồi dào. Dòng sống có thể – qua trải nghiệm trực tiếp – học được là việc ở lại trong vòng tròn hợp nhất là điều lợi ích nhất cho y, và giờ đây y có kinh nghiệm thực tế để làm cơ sở cho hiểu biết của mình. Nhưng có rủi ro là y trở nên đồng hóa với tâm thức nhị nguyên đến độ quên mất vị thày tâm linh, y quên mất là có một con đường khác hơn cuộc vật lộn của nhị nguyên. Dòng sống có thể ở lại trong trạng thái quên lãng này một cách vô hạn định, hay ít ra cho đến hết thời hạn được phân bổ cho y và y phải bỏ lại ý niệm bản sắc hữu diệt của mình. Chọn lựa thử nghiệm tâm thức nhị nguyên luôn luôn là một cách học hỏi rủi ro. Đó thật sự là Trường đời Cay đắng.

Dòng sống của con đã có thể tránh được chọn lựa này, nhưng điều không thể tránh là một số người đồng-sáng tạo sẽ chọn lựa như vậy. Họ muốn tìm xem, như thày giả quả quyết, là họ có thể trở nên hơn nữa bằng cách tách mình ra khỏi vị thày do Thượng đế bổ nhiệm hay không. Lúc đầu thì chuyện này có vẻ là một trò chơi ngây thơ vô hại, và quả thực, nó phần nào vô hại lúc đầu. Miễn là cái Ta Biết còn duy trì một sự nối kết nào đó với Hiện diện TA LÀ, thì con có thể thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên mà không bị mắc kẹt trong đó. Vấn đề là tâm thức nhị nguyên vi tế đến độ nhiều người đồng-sáng tạo không nhận ra là họ đang bắt đầu đồng hóa với tâm thức nhị nguyên. Chuyện này diễn ra từ từ đến nỗi họ không hoàn toàn nhận thức chuyện gì đang xảy ra, và nhận thức này chỉ đến vào giây phút sự thật mà thày đã có mô tả.

Sau khi giây phút sự thật xảy ra, cái Ta Biết phản ứng lại tình huống bằng một loại cảm xúc tiêu cực nào đó. Có nhiều cảm xúc như vậy, chẳng hạn như sợ hãi, tức giận hay trách móc. Con có thể tự trách mình, trách móc Thượng đế, trách móc thày giả hay trách móc cả thày thật. Hoặc con có thể có nhiều cảm xúc tiêu cực khác. Đằng sau tất cả những cảm xúc này là sự nhìn nhận mình đã đánh mất sự hồn nhiên – cảm nhận hợp nhất nội tâm với Hiện diện TA LÀ của mình – sự nhìn nhận rằng con bị sa ngã đánh mất Ân sủng. Vì cái Ta Biết nhìn mọi chuyện qua phin lọc nhị nguyên, nó cũng nhìn giây phút sự thật đó trong quan điểm nhị nguyên. Vì con nhìn mọi chuyện qua tâm thức tách biệt, con phản ứng lại giây phút sự thật một cách tiêu cực. Con tìm cách chạy trốn khỏi nó thay vì dùng nó như một cơ hội để trở về với vị thày. Một khi con bắt đầu chạy trốn khỏi Thượng đế thì chọn lựa duy nhất mà con có thể thấy là cứ chạy trốn tiếp.

11.5. Phó mặc quyết định của mình cho tự ngã

Vào lúc đó, có thày giả đứng ngay đó để thì thầm vào tai con rằng con đã tách rời vĩnh viễn khỏi Thượng đế và con không thể nào quay trở lại được nữa. Đây là thời điểm then chốt. Nếu dòng sống quyết định bất chấp lời cám dỗ này và quay trở lại vị thày thật, y có thể nhanh chóng khắc phục tâm thức nhị nguyên bằng cách quy phục sự chỉ đạo của thày thật. Nhưng nếu dòng sống quyết định nghe theo lời gian dối tối hậu này, giờ đây y sẽ phải đối phó với ảo tưởng rằng mình đã vĩnh viễn tách rời khỏi Thượng đế, tách rời khỏi Hiện diện TA LÀ. Khi đối mặt với tâm thái này, với cảm nhận mất mát không thể bù đắp này, dòng sống, cái Ta Biết, thường lấy một quyết định định mệnh.

Dòng sống nhận ra là mình sa ngã vì mình đã lấy một số quyết định. Chỉ vì cái Ta Biết có quyền tự quyết mà nó mới có thể thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Một số dòng sống đi đến kết luận là nếu như mình không có quyền tự quyết gì hết, nếu như mình đã không lấy quyết định nào hết, thì mình đã không sa ngã. Họ suy luận là vấn đề nằm ở chỗ họ có quyền tự quyết, vấn đề nằm ở chỗ họ đã lấy quyết định. Họ chỉ quyết định sai lầm là vì họ có khả năng quyết định.

Một lần nữa, thày giả lại đứng ngay đó để cám dỗ, cụ thể là nếu như cái Ta Biết ngừng lấy quyết định thì nó sẽ không quyết định sai nữa. Nó sẽ được cứu chuộc, nó sẽ trở về thiên đàng đã mất bằng cách đi theo một vị thày bên ngoài và vị thày này sẽ quyết định giùm nó. Đây là lời dối bảo rằng một cách nào đó con có thể đền bù những quyết định sai lầm trong quá khứ bằng cách không quyết định sai lầm trong tương lai. Nghĩa là cách duy nhất để tránh quyết định sai lầm là ngừng lấy bất kỳ quyết định nào, bằng cách cho phép một thẩm quyền bên ngoài bảo mình phải cư xử thế nào và phải tin những gì. Con yêu dấu, khi một dòng sống chấp nhận lời dối này và quyết định mình không còn muốn quyết định nữa, mình không còn muốn lấy quyết định nữa, thì ngay lúc đó cái ta hữu diệt chào đời.

Cho đến giờ thày đã giải thích sự xuất hiện của cái ta hữu diệt bằng cách nói rằng các quyết định nhị nguyên của con cùng năng lượng tha hóa do chúng tạo ra đã dần dần tích tụ cho đến khi một khối lượng tới hạn hình thành. Tuy điều này đúng, nhưng cơ chế bên dưới là điều thày đang giải thích cho con ở đây. Cơ chế cơ bản là cái Ta Biết quyết định là nó không còn muốn lấy quyết định nữa. Từ quyết định này, một sinh thể tự nhận biết được sinh ra với khả năng và ý muốn lấy quyết định giùm con. Sinh thể tự nhận biết này là cái thày đã gọi là cái ta hữu diệt và nhiều nhà tâm lý học gọi là tự ngã.

11.6. Tự ngã không bao giờ nhận là nó sai lầm

Vấn đề với diễn biến này là bản chất cuộc sống chính là việc lấy quyết định. Con không có cách chi tránh khỏi lấy quyết định. Đơn giản là con không thể sống, dù trong thế giới này hay trong cõi tâm linh, mà không lấy quyết định. Nếu cái Ta Biết không lấy quyết định thì ai sẽ lấy quyết định trong đời con đây? Nếu cái Ta Biết từ chối thực thi đặc quyền mà Thượng đế đã cho con là lấy quyết định cho dòng sống của con, thì giờ đây cái ta hữu diệt sẽ tiếp quản và quyết định giùm con.

Cái ta hữu diệt ra đời vì cái Ta Biết từ chối lấy quyết định. Cái ta hữu diệt được thiết kế để là thế lực thống trị sẽ lấy quyết định cho con. Nó tin là nó đã được tạo ra để quyết định và nó quyết định giỏi hơn cái Ta Biết. Ngay trong bản chất, cái ta hữu diệt là một thế lực hung hãn và nó tin là nó biết cách điều hành cuộc sống của con giỏi hơn cái Ta Biết. Niềm tin này, tất nhiên, được củng cố triệt để bởi ông hoàng của thế gian, là các thế lực bên ngoài sử dụng cái ta hữu diệt để điều khiển đời con. Các thế lực này tin là chúng biết cách vận hành vũ trụ giỏi hơn Thượng đế. Cái ta hữu diệt hoàn toàn tin chắc là nó đúng và bất cứ gì trái với quan điểm và ý muốn của nó đều sai – chẳng hạn một vị thày hay một giáo lý tâm linh. Tất nhiên vấn đề là cái ta hữu diệt, do bản chất của nó, không thể nhìn thấy bất cứ gì vượt khỏi tâm thức nhị nguyên. Nó chỉ có thể suy nghĩ và lý luận trong cõi nhị nguyên, và bất cứ quyết định nào nó lấy giùm con sẽ chỉ giam con chặt hơn vào cõi nhị nguyên. Khi con nhìn xuyên qua phin lọc này, cuộc sống sẽ giống như một mê cung không lối thoát.

Vì cái ta hữu diệt sống trong thế giới nhị nguyên, nó luôn luôn có thể nghĩ ra một luận cứ biện hộ cho những gì nó muốn làm. Nó luôn luôn hoàn toàn tin chắc là nó đúng và tất cả mọi ai khác – kể cả cái Ta Biết, một vị thày tâm linh hay ngay cả Thượng đế – đều sai. Nó tin chắc là nó đang điều hành đời con tốt nhất và nó đang giữ con trên con đường độc nhất dẫn đến cứu rỗi. Con đường này chính là con đường dựa trên lời dối bảo rằng con có thể được cứu chuộc bằng cách không bao giờ quyết định sai lầm. Vì cái ta hữu diệt dùng lý luận nhị nguyên, nó luôn luôn có thể nghĩ ra một lập luận khiến nó có vẻ như chưa bao giờ quyết định sai lầm. Kỳ thực, tất cả mọi quyết định của nó đều sai lầm theo nghĩa là chúng sẽ không đưa con đến gần hơn sự sống dồi dào.

Con hãy nhìn hành tinh này xem làm thế nào một số người có thể lấy những quyết định khủng khiếp nhất mà vẫn tin chắc là mình đúng. Con hãy nhìn – để đơn cử một ví dụ mà ai ai cũng công nhận – làm thế nào một người như Adolph Hitler có thể gây ra cái chết của biết bao triệu người mà vẫn tin chắc là mình làm đúng. Đây là điều các nhà tâm lý học gọi là tư duy phủ nhận, xuất phát từ sự kiện cái ta hữu diệt có một phương thức hoạt động cơ bản, đó là nó không bao giờ có thể sai lầm. Nó sẽ mãi mãi tiếp tục sử dụng lý luận nhị nguyên để “chứng minh” là nó không sai, bất kể những gì xảy ra trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Từ nhãn quan Thượng đế, việc con phạm lỗi không phải là một thảm họa. Ngài không lên án con mà ngài chỉ muốn con được giải thoát khỏi lỗi lầm và tiếp tục bước tới. Khi con sa ngã vào lời cám dỗ của cái ta hữu diệt và từ chối nhìn nhận mình đã lầm lỗi, con không thể thoát ra khỏi lỗi lầm đó. Thay vào đó, con sẽ tiếp tục lấy những quyết định dựa trên lỗi lầm cũ, và như vậy con chồng chất hết sai lầm này đến sai lầm khác trong một vòng xoáy hướng hạ có thể tiếp diễn gần như mãi mãi. Phạm lỗi không cứ là một quyết định tồi tệ, nhưng từ chối nhìn nhận và sửa chữa lỗi lầm là một quyết định thật tồi tệ vì chắc chắn nó sẽ biến thành một cái bẫy. Cách duy nhất để thoát khỏi bẫy là con thoát khỏi cám dỗ muốn biện minh cho hành động quá khứ của mình qua trí suy luận nhị nguyên của cái ta hữu diệt. Con phải công khai nhìn nhận là mình đã lấy một quyết định tồi tệ và sau đó con thay thế nó bằng một quyết định tốt hơn.

11.7. Nhận lãnh trách nhiệm đời mình

Điểm cốt yếu mà thày muốn truyền đạt trong chương này là chỉ có một con đường đích thực đến cứu rỗi, đến sự sống bất diệt mà thôi. Đó là con đường khi cái Ta Biết thức tỉnh với thực tế nó là ai, thực tế là nó đã được Thượng đế phú cho quyền tự quyết. Một khi tỉnh ngộ, cái Ta Biết phải quyết định nắm lại quyền lấy quyết định trong đời mình. Đơn giản không có con đường cứu rỗi nào khác.

Có con đường có vẻ đúng cho con người, và con đường này có vẻ đúng cho con người vì nó có vẻ đúng cho cái ta hữu diệt của bất cứ người nào. Đó là con đường bảo rằng con không cần giành lại quyền lấy quyết định. Đó là con đường bảo rằng con có thể tiếp tục cho phép một ai khác quyết định giùm con và nếu con cứ đi theo đường này thì cuối cùng con sẽ được cứu rỗi. Đó là con đường đã được các thày giả của thế gian thiết lập. Nó có vô số biến thể, nó được ngụy trang bằng nhiều cách. Một số những cách này mang tính tôn giáo công khai, một số khác có vẻ là những kỹ thuật tự cứu (self-help) hay phương pháp vô hại tạo sự dồi dào trong cuộc sống. Cho dù dáng vẻ bề ngoài là gì, chúng đều hứa hẹn cùng một thứ, cụ thể là bằng cách đi theo một triết lý nào đó, thực hành một kỹ thuật hay gia nhập một tổ chức vỏ ngoài, thì bằng cách nào đó con sẽ đạt được mục tiêu được đề ra như trong phép lạ.

Các tôn giáo củng cố thần tượng một Thượng đế bên ngoài cũng cổ võ cho con đường giả này. Có một câu trong Kinh thánh thường bị các tín đồ Cơ đốc chính mạch bỏ qua. Đó là câu chuyện Giê-su quở mắng các thày thông giáo và người Pha-ri-si khi Giê-su khẳng định không một chút nghi ngờ rằng nếu sự công chính của con không trội hơn sự công chính của thày thông giáo và người Pha-ri-si thì con sẽ không vào được Nước Trời (Matthew 5:20). Quá nhiều người đạo Cơ đốc gạt qua bên câu nói này, cho rằng câu nói chỉ áp dụng cho các thày thông giáo và người Pha-ri-si. Họ hoàn toàn quên mất không nhìn vào cái xà trong mắt họ. Họ hoàn toàn không nhận ra là Giê-su không nói đến một nhóm người nhất định, mà Giê-su đang nói đến con đường giả mà thày đây đang mô tả, là con đường tin rằng bằng cách đi theo những giáo điều vỏ ngoài, tuân thủ những quy luật vỏ ngoài hay tham gia những nghi lễ hay pháp tu vỏ ngoài, con sẽ được cứu rỗi một cách tự động và chắc chắn.

Đạo Cơ đốc chính mạch thật ra đang đề cao con đường giả này khi bảo rằng Giê-su, trong tư cách một vị cứu tinh bên ngoài, là chìa khóa cho sự cứu rỗi của con và sẽ làm mọi việc cho con. Chìa khóa đích thực cho sự cứu rỗi của con không phải là Ki-tô bên ngoài mà Ki-tô bên trong, xuyên qua đó con đạt cảm nhận hợp nhất nội tâm với Thượng đế sẽ hồi phục sự hồn nhiên của con, hồi phục chính con trong Ân sủng và đưa con trở vào Nước Trời ở trong con.

Các thày thông giáo và người Pha-ri-si tưởng họ là người công chính, và họ suy luận như vậy dựa trên sự kiện họ thuộc tôn giáo chân chính độc nhất theo định nghĩa của họ. Họ một mực tin vào tất cả các giáo điều vỏ ngoài của tôn giáo này và cách diễn giải từng chữ theo nghĩa đen. Họ cũng tuân thủ mọi quy luật vỏ ngoài mà tôn giáo họ định ra, như họ phải nói năng thế nào, ăn uống những gì, mặc quần áo gì và cư xử làm sao trong mọi khía cạnh cuộc sống. Họ tham gia mọi nghi lễ, và họ nghĩ bởi vì mình làm rất đúng tất cả những chuyện vỏ ngoài như thế thì nhất định Thượng đế sẽ phải cứu mình. Họ đã tạo ra một hình ảnh về sự cứu rỗi dựa trên ý tưởng Thượng đế ở bên ngoài, và một cách nào đó, họ có thể mua bán với ngài. Chỉ cần họ tuân theo mọi quy luật vỏ ngoài thì đương nhiên Thượng đế sẽ phải giao hàng và cho phép họ vào Nước Trời.

11.8. Lật ngược từng quyết định nhị nguyên đã lấy

Nước Trời đích thực ở trong chính con vì đó là một cảm nhận hợp nhất với Thượng đế. Chỉ cảm nhận hợp nhất này mới là chìa khoá cho sự cứu rỗi. Làm sao con có thể đạt được cảm nhận hợp nhất với Thượng đế bằng cách máy móc tuân theo quy luật vỏ ngoài và mù quáng tin vào giáo điều vỏ ngoài? Con đường đến cứu rỗi không phải là một chuyến xe lửa mà con mua vé, bước lên toa và ngồi xuống ghế, và bây giờ con có thể nhắm mắt ngủ vì người lái sẽ đưa xe đến đích. Con đường đích thực đến cứu rỗi là một con đường mà con phải đi từng bước một, và với mỗi bực leo lên cầu thang xoắn ốc đó, con phải lấy một quyết định để lật ngược quyết định nhị nguyên đã khiến con đi xuống cùng bực này trên cầu thang.

Không có cách nào con có thể trở về Nước Trời mà không lấy những quyết định hoàn toàn ý thức. Tuyệt đối không có cách nào con có thể trở về cảm nhận hợp nhất với Thượng đế bằng cách cho phép một ai khác quyết định giùm con. Cái ta hữu diệt của con chỉ có thể lấy những quyết định kéo con xa khỏi hợp nhất với Thượng đế, và bất kỳ thẩm quyền nào bên ngoài cũng vậy. Khác biệt giữa một thày thật và một thày giả là vị thày thật sẽ cho con những sáng ngộ mà con cần có để lấy những quyết định tốt nhất cho con. Thày thật sẽ không bao giờ quyết định giùm con. Thày thật sẽ cho con những thông tin con cần, xong để yên cho con lấy quyết định riêng của mình. Thày thật biết rõ là chỉ bằng cách lấy quyết định riêng của mình thì con mới tăng triển. Thày giả sẽ không cung cấp cho con tất cả thông tin con cần. Y sẽ cố tình giấu giếm thông tin khỏi con và chỉ cung cấp những kiến thức sẽ khiến con ngả theo những gì y muốn con làm. Thày giả cũng sẽ vui mừng lấy quyết định giùm con, và y làm vậy xuyên qua cái ta hữu diệt đã được thiết kế ngay từ đầu để lấy quyết định giùm con.

Có một đường có vẻ đúng cho con người nhưng cuối cùng là con đường của sự chết. Con đường giả này là khi con cho phép người khác bảo con phải làm gì, dù đó là thày bên ngoài, giới chức tôn giáo, đạo sư tự xưng là tâm linh, hay chuyên gia đời sống dồi dào. Thậm chí đó còn là con đường cho phép cái ta hữu diệt tiếp tục lấy quyết định giùm con, là những quyết định chắc chắn phải dựa trên tâm thức nhị nguyên. Chỉ có một con đường chân chính duy nhất. Như Giê-su nói: “Cánh cửa hẹp và đường đi chật chính là con đường dẫn đến sự sống, và chỉ có ít người tìm thấy” (Matthew 7:14). Đó là con đường mà con phải giành lại quyền tự quyết của mình, khả năng quyết định của mình, và con phải lấy những quyết định này ở mỗi bực đưa con trở lên cầu thang xoắn ốc cho đến khi cuối cùng con bước qua ngưỡng cửa ở trên cùng và tắm trong mặt trời của Hiện diện TA LÀ của con. Không có đường nào khác dẫn đến cứu rỗi, và đây chính là điều Giê-su đã nói mọi người, đây là điều Phật đã nói mọi người, đây là điều các hiền giả Vệ đà đã nói mọi người, và đây là điều mọi vị thày tâm linh chân chính đã đến hành tinh này từ hàng ngàn và hàng ngàn năm qua đã nói mọi người. Không hề có con đường bên ngoài nào dẫn đến cứu rỗi. Đường tu là một con đường nội tâm qua đó con lấy những quyết định đưa con gần hơn tới điểm con chấp nhận mình chưa bao giờ thực sự tách biệt khỏi Thượng đế của mình.

11.9. Đấng An ủi

Điểm trung tâm của cuộc sống con người là làm cách nào có những quyết định đúng đắn. Tuyệt đối không có cách chi con lấy quyết định đúng đắn nếu các quyết định này dựa trên suy luận của tâm nhị nguyên, tâm phản Ki-tô. Cách duy nhất để quyết định đúng đắn – là những quyết định sẽ giúp con đến gần hơn hợp nhất với Thượng đế – là đặt chúng trên nền tảng của tâm thức Ki-tô. Làm thế nào một người đã rơi xuống tâm thức nhị nguyên có được những quyết định dựa trên tâm thức Ki-tô đây? Con có thể có được vì Thượng đế đã không bỏ con một mình. Như Giê-su nói: “Và ta sẽ cầu Cha để Cha cho con một đấng An ủi khác sẽ ở với con đời đời” (John 14:16).

Luật cân bằng làm việc rất thuận lợi cho con. Quả cầu cái ta của con đúng lý không được nhận bất cứ ảnh hưởng ngoại lai nào. Nó được dành riêng cho cái Ta Biết cư ngụ, và cái Ta Biết sẽ lần hồi đổ đầy ánh sáng vào đó cho đến khi không còn chỗ nào cho bóng tối. Cả thày giả lẫn thày thật đều không có quyền xâm phạm quả cầu cái ta của con, và không bên nào có thể làm vậy mà không có sự ưng thuận của con. Khi con tạo ra cái ta hữu diệt, con đã cho phép một chất liệu ngoại lai, thậm chí một sinh thể ngoại lai, xâm nhập quả cầu cái ta. Sinh thể này trở thành tiêu điểm cho tâm thức phản Ki-tô. Theo luật cân bằng, con không thể tồn tại nếu quả cầu cái ta của con chứa đựng một tiêu điểm cho thế lực phản Ki-tô mà không có gì để cân bằng lại. Hầu duy trì sự cân bằng, luật này đòi hỏi là nếu con cho phép tiêu điểm của tâm thức phản Ki-tô đi vào quả cầu cái ta, thì các thế lực của ánh sáng, các vị thày tâm linh chân truyền, cũng có thẩm quyền tái lập cân bằng qua việc đặt vào đó một tiêu điểm cho tâm thức Ki-tô.

Chừng nào con còn có sự kết nối nội tâm trực tiếp với Hiện diện TA LÀ và một vị thày bên ngoài đại diện cho Ki-tô, con không cần đến tiêu điểm này trong quả cầu cái ta. Nhưng khi con rơi xuống tâm thức nhị nguyên và bắt đầu đồng hóa với cái ta hữu diệt, con đánh mất sự nối kết trực tiếp với Hiện diện TA LÀ và sự ý thức về vị thày bên ngoài. Giờ đây các thày tâm linh của con cần phải cho con một cái gì để con có thể nối lại liên lạc với cõi tâm linh. Cái đó chính là điều Giê-su gọi là đấng An ủi, và Giê-su nói: “Đấng ấy sẽ dạy con mọi điều, nhắc cho con nhớ lại mọi điều ta đã nói với con” (John 14:26). Đấng An ủi này, mà thày muốn gọi là cái ta Ki-tô của con, là một vị thày nội tâm có khả năng cho con sự thật Ki-tô. Khi con lắng nghe vị thày bên trong này, vị cứu tinh bên trong này, con luôn luôn có thể đạt được những sáng ngộ mà con cần để lấy những quyết định dựa trên sự thật Ki-tô, tảng đá Ki-tô, thay vì cát lún của tâm thức nhị nguyên.

Con không có cách chi quyết định đúng đắn bằng cách lắng nghe cái ta hữu diệt và các thày giả bên ngoài con. Thượng đế đã không bỏ con bơ vơ không an ủi, mặc dù con đã quay lưng lại vị thày bên ngoài mà ngài đã gửi con và đánh mất kết nối với cái ta bất tử của con. Ngài đã vẫn gửi cho con một đấng An ủi dưới dạng cái ta Ki-tô ngụ ngay quả cầu cái ta của con. Cái ta Ki-tô này là vị thày nội tâm có khả năng lẫn ý muốn dạy con mọi điều, nhắc lại cho con mọi điều, để con có nền tảng tốt nhất mà lấy những quyết định sẽ cho phép con thăng lên cầu thang xoắn ốc và đến gần hơn mục đích tối thượng là hợp nhất với Thượng đế.

Đây cũng là điều Giê-su gọi là “chìa khóa của hiểu biết.” Giê-su đã quở mắng các thày luật đã tước mất chìa khóa của hiểu biết (Luke 11:52). Đa số người Cơ đốc không hiểu được câu nói này và tầm quan trọng cốt yếu của nó. Ý nghĩa thật đơn giản. Những ai đi theo con đường vỏ ngoài, con đường do các thày phản Ki-tô vạch ra, đã xem thường chìa khóa của hiểu biết. Chìa khóa của hiểu biết là con có khả năng ngay bên trong mình để biết sự thật, để có sự phân biện Ki-tô sẽ cho con uy lực lấy quyết định đúng đắn. Con làm vậy bằng cách lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của cái ta Ki-tô của con.

Các thày luật quyết định là họ không muốn đi theo con đường nội tâm qua việc lấy quyết định cho riêng mình. Họ quyết định là họ muốn đi theo con đường vỏ ngoài, tức là giấc mơ được cứu rỗi tự động. Để củng cố niềm tin là mình đúng, họ cố ngăn cản mọi người khác khám phá và đi theo con đường nội tâm. Họ muốn mọi người đi theo con đường vỏ ngoài vì họ nghĩ nếu ai ai cũng làm cùng một chuyện thì họ sẽ đúng và Thượng đế sẽ phải chấp nhận họ. Tất nhiên, thực tế là mọi người có thể làm cùng một chuyện mà vẫn sai – nếu ai ai cũng bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên. Đây là điều Giê-su đã chỉ ra cho họ khi thách thức các thày luật.

11.10. Hãy thỉnh thì sẽ được

Vấn đề trung tâm của cuộc sống con người là con phải lấy quyết định. Bài toán trung tâm là làm cách nào con lấy những quyết định đúng đắn. Nếu con có đầy đủ thông tin cần thiết, nếu con có một cái hiểu xác thực, con có thể lấy quyết định đúng đắn trong mọi hoàn cảnh. Quyết định đúng đắn luôn luôn là quyết định kéo con xa khỏi tâm thức nhị nguyên và đưa con lại gần sự hợp nhất với Thượng đế. Kết quả thực tế của một tình huống nào đó thật không quan trọng chút nào. Điều thực sự quan trọng là tình huống giúp con đến gần hơn sự hợp nhất với Thượng đế, giúp con tách mình ra khỏi các lời dối nhị nguyên. Nếu con tách mình được khỏi lời dối nhị nguyên, thì bất cứ hoàn cảnh nào cũng là một chiến thắng đưa con lại gần hơn mục đích hợp nhất. Bất cứ quyết định nào đưa con gần hơn với hợp nhất là một quyết định đúng đắn. Thật ra con có thể lấy một quyết định trong một tình huống nào đó có vẻ là một quyết định sai lầm từ nhãn quan người đời vì kết quả không đúng như thế gian hay cái ta hữu diệt của con mong muốn. Nhưng nếu quyết định đó đưa con lại gần sự hợp nhất với Thượng đế thì – từ nhãn quan Thượng đế – đó vẫn là một quyết định đúng đắn.

Con luôn luôn có nền tảng cần thiết để quyết định đúng đắn. Con không bao giờ bơ vơ. Nhưng tiếc thay, rất có thể cái Ta Biết sẽ làm ngơ hay ngay cả quên mất sự hiện hữu của đấng An ủi. Cái Ta Biết là con người mà nó nghĩ nó là, và nếu nó tự đồng hóa như một người tội lỗi phàm phu, hữu diệt, bị cắt đứt khỏi Thượng đế và không thể quyết định đúng đắn, thì đây sẽ là “thực tại” tạm thời của nó. Sự thật là con chưa bao giờ bị cắt đứt khỏi Thượng đế, con chưa bao giờ tách biệt, con chưa bao giờ thiếu thốn niềm an ủi và sự hướng dẫn, mà ngược lại con luôn luôn có khả năng đi theo lời gọi của Giê-su: “Hãy thỉnh thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì sẽ được mở cửa” (Matthew 7:7).

Con yêu dấu, con có nghĩ Giê-su đang hứa suông ở đây không? Con có nghĩ Giê-su nói lời này mà không có sự thật nào đằng sau? Đa số người đạo Cơ đốc không hiểu được tầm quan trọng của lời dạy này, nhưng con thật sự chỉ có hai chọn lựa. Hoặc Giê-su là thày giả, hoặc đằng sau lời nói của Giê-su có một ý nghĩa sâu xa hơn. Nếu con sẵn lòng đi tìm ý nghĩa sâu xa, con sẽ thấy được thực tế là không bao giờ có tình trạng con hoàn toàn bị cắt đứt khỏi mọi sự hướng dẫn từ trên. Cho dù hoàn cảnh con là gì, con luôn luôn có chọn lựa xin được giúp đỡ. Nếu con xin, con sẽ nhận được hồi đáp. Hãy cho thày nhắc lại một lần nữa: “Nếu con yêu cầu sự hướng dẫn từ cái ta Ki-tô, con sẽ luôn luôn nhận được một câu trả lời.”

Điều này sẽ khó chấp nhận cho nhiều người. Thực tế là câu trả lời luôn luôn ở đó. Vấn đề là liệu tâm ý thức của con có sẵn lòng ghi nhận câu trả lời, lưu ý câu trả lời và dựa theo đó mà hành động hay không. Con hãy xem câu nói dân gian này: “Ấn tượng đầu tiên luôn luôn chính xác.” Thử nghĩ đến một hoàn cảnh con gặp một ai đó lần đầu và con có ấn tượng là họ không thể tin được. Lập tức tâm vỏ ngoài bắt đầu tìm lý do tại sao người này thật ra cũng đáng tin cậy đấy, thường thường dựa trên lai lịch hay địa vị của họ trong xã hội. Tâm vỏ ngoài của con đã dùng lý luận để bác bỏ ấn tượng đầu. Con có bao giờ gặp một trường hợp như vậy rồi sau đó vỡ lẽ là ấn tượng đầu của mình hoàn toàn chính xác? Hay con có gặp hoàn cảnh tương tự khi con có một ấn tượng đầu và tâm vỏ ngoài dùng lý luận khôn khéo để gạt nó sang bên, xong con khám phá là ấn tượng đầu chính xác? Những tình huống như vậy là ví dụ về điều thày đang nói tới, cụ thể là con luôn luôn nhận được một câu trả lời nhưng tâm vỏ ngoài thường không ghi nhận hay không chú ý đến nó. Hay tâm vỏ ngoài dùng giải thích nhị nguyên để bác bỏ câu trả lời, một điều mà như thày đã đề cập nhiều lần, nó luôn luôn có thể làm vì tâm thức nhị nguyên không bao giờ có thể được chứng minh là sai.

11.11. Hai điều kiện để nhận được trả lời

Hãy để thày diễn đạt câu “Hãy thỉnh thì sẽ được” một cách khác để cho rõ hơn. “Hãy hỏi với tim cởi mở và tâm không phán xét thì con sẽ luôn luôn nhận được câu trả lời.” Để thật sự nhận được câu trả lời từ cái ta Ki-tô, con phải nỗ lực đáp ứng hai điều kiện. Điều kiện đầu là con phải sẵn lòng muốn biết sự thật. Con phải quyết định là con muốn biết một cái hiểu cao hơn những gì con đang hiểu, thay vì muốn một câu trả lời xác nhận những gì cái ta hữu diệt muốn con tin.

Chuyện này không giản dị như nó có vẻ. Thày liên tục được nghe nhiều người Cơ đốc rất sùng đạo và chân thành cầu nguyện xin thày giúp đỡ và can thiệp trong đời họ. Nhiều người trong số này cầu nguyện như thể thày là một ông thần trong lọ sẽ đến giải quyết tất cả mọi vấn đề giùm họ. Thày sẽ vui lòng giúp họ giải quyết vấn đề của họ, nhưng chìa khóa là thày muốn giúp họ tự giải quyết vấn đề của họ bằng cách trao cho họ những sáng ngộ mà họ cần để lấy những quyết định đúng đắn. Nhiều người không cởi mở với cái hiểu cao hơn, với sự thật cao hơn mà họ cần để lấy những quyết định giống như Ki-tô. Họ chỉ muốn một câu trả lời từ thày sẽ xác nhận các tin tưởng Cơ đốc chính thống, không vượt ra ngoài giáo điều của họ. Có sự giới hạn rất gắt gao trong những cách thày có thể giúp họ vì đơn giản là tâm vỏ ngoài của họ không chịu lắng nghe những câu trả lời thày gửi cho họ. Điều kiện đầu tiên là con phải hỏi với một con tim cởi mở và sự sẵn lòng học hỏi một điều gì vượt khỏi cái hiểu hiện thời của con. Con cần sẵn lòng để cho Thượng đế cho con câu trả lời mà con cần nghe, chứ không phải câu trả lời mà cái ta hữu diệt và ông hoàng của thế gian muốn con nghe. Con cần mở cửa ra cho một câu trả lời sẽ giúp con nhìn xa hơn tâm thức nhị nguyên.

Điều kiện thứ hai là con tìm cách lật mặt nạ và vô hiệu hóa cái ta hữu diệt cùng xu hướng của nó là phân tích từng câu trả lời nhận được, rồi cố nhét vào khuôn khổ hệ thống tin tưởng nhị nguyên của nó. Nếu câu trả lời không phù hợp với hộp tư duy này – và tất nhiên bất kỳ câu trả lời nào từ tâm Ki-tô cũng sẽ không nhét vừa một hệ thống tin tưởng nhị nguyên – cái ta hữu diệt sẽ dùng lối suy luận nhị nguyên khôn khéo cố hữu để lập luận rằng câu trả lời không thể nào đúng và tại sao con không nên để ý đến nó. Cái ta hữu diệt luôn luôn đánh giá mỗi ý tưởng mới, và bất cứ gì không nhét vào được hộp tư duy của nó sẽ tự động bị gạt bỏ.

Con luôn luôn có cơ hội tiếp cận sự thật của Ki-tô, nhưng để nhận và nhìn nhận sự thật này, con cần sẵn lòng với ra ngoài hộp tư duy, nhà tù tư duy, được tạo nên bởi cái ta hữu diệt và các tin tưởng nhị nguyên của nó. Nếu con sẵn lòng với ra ngoài thì luôn luôn con sẽ nhận được câu trả lời. Tất nhiên có rất nhiều điều con có thể làm để gia tăng khả năng nhận câu trả lời bằng cách khuếch lớn sự nhận biết và sự nối kết với cái ta Ki-tô cùng tâm Ki-tô rộng lớn, Tâm Ki-tô Hoàn vũ, mà cái ta Ki-tô là một tiêu điểm. Các bài thỉnh của thày là dụng cụ để đạt mục tiêu này.

11.12. Thay thế quyết định dở bằng quyết định tốt

Khi cái Ta Biết bắt đầu tự đồng hóa như một sinh thể hữu diệt, con cũng bắt đầu lắng nghe các thày nhị nguyên, các thày giả. Đây là một khuôn nếp, một thói quen có thể đã kéo dài rất nhiều tiền kiếp. Hầu lật ngược khuôn nếp hướng hạ này, con cần một nỗ lực ý thức để phá vỡ sợi dây đồng phụ thuộc mà con có với những thày vỏ ngoài bảo con phải làm gì. Thay vào đó, con cần tái khám phá và tăng cường sự nối kết bên trong với vị thày nội tâm của cái ta Ki-tô và các vị thày chân chính là chân sư thăng thiên. Những vị này sẽ không bảo con làm gì mà sẽ cho con những thông tin giúp con có uy lực lấy quyết định đúng đắn. Tất nhiên để cất bước trên con đường này, con phải trước tiên đạt tới điểm cái Ta Biết quyết định là nó muốn lấy quyết định trở lại. Và để đến được điểm này, con sẽ phải khắc phục một trong những chướng ngại lớn nhất trên đường tu tâm linh, đó là nỗi sợ phạm lỗi.

Sau khi con có giây phút sự thật và ngộ ra mình đã quyết định sai lầm, con sợ lấy quyết định. Đây là nỗi sợ bảo rằng bởi vì quyết định sai lầm là một chuyện quá khủng khiếp, cho nên tốt hơn con không nên lấy bất cứ quyết định nào. Lối suy luận này thật sự là sản phẩm của tâm rắn và nó hoàn toàn phi lôgíc. Nó bảo nếu con không lấy quyết định nào hết, con sẽ không thể quyết định sai lầm. Nhưng đây là một ảo tưởng toàn diện, một lời dối toàn diện.

Thượng đế đã ban cho con quyền tự quyết. Con có quyền làm bất cứ gì con muốn với quyền này, nhưng con không thể tránh lấy quyết định. Con không thể cho đi khả năng chọn lựa của mình. Con không thể cho đi trách nhiệm chọn lựa của mình. Con có thể tìm cách giao nó cho người khác, con có thể tìm cách để người khác quyết định giùm con, nhưng để làm vậy, con vẫn phải lấy một quyết định. Nếu con cho phép cái ta hữu diệt hay một thày giả quyết định giùm con, con vẫn đang lấy quyết định làm vậy. Mỗi khi con cho phép chúng quyết định giùm con thì con đang lấy quyết định tiếp tục tình trạng này. Không có lối thoát nào để khỏi lấy quyết định. Bất cứ lúc nào trong đời, con cũng đang lấy quyết định, và không có cách chi con thoát khỏi chuyện này.

Tại sao con lại muốn trốn tránh việc lấy quyết định? Lấy quyết định, có quyền tự quyết, là cơ hội lớn nhất từ Thượng đế, cơ hội lớn nhất để tự thăng vượt và trở nên hơn nữa, nhờ vậy con mới đồng-sáng tạo sự sống dồi dào. Đúng là việc quyết định sai lầm có thể đem đến những hệ quả không mong muốn mà con sẽ phải đối mặt, nhưng cũng đúng không kém là con có thể gỡ bỏ mọi quyết định sai lầm của quá khứ bằng cách quyết định đúng đắn trong giây phút hiện tại. Thật là đúng – mặc dù đây là bí mật mà các thày giả không muốn con biết – là con luôn luôn có một nền tảng để lấy quyết định đúng đắn nếu con chịu đi tìm công khai câu trả lời từ cái ta Ki-tô của con.

Thật đây chỉ là chuyện xoay tâm thức lên một chút bằng cách nhận ra là việc phạm lỗi không có gì khủng khiếp như các thế lực của thế gian muốn con tin. Chiến lược cơ bản của tà lực là khiến con tin rằng con đã mắc vào một sai lầm khủng khiếp đến độ không bao giờ có thể xóa sạch được. Bất kỳ lỗi lầm nào con đã phạm cũng dựa trên một quyết định con lấy, một quyết định dựa trên cách lý luận sai lạc của tâm nhị nguyên. Điều tuyệt vời là bất cứ quyết định nào cũng có thể được thay thế lập tức bởi một quyết định khác. Bất cứ quyết định dở nào cũng có thể được thay thế lập tức bằng cách lấy một quyết định tốt. Bất cứ một quyết định nào dựa trên tâm thức nhị nguyên, tâm thức phản Ki-tô, cũng có thể được thay thế lập tức bằng cách lấy một quyết định dựa trên tâm thức Một, tâm thức Ki-tô.

Điều này có vẻ như không quan trọng, nó có vẻ đương nhiên. Nhưng nó không đương nhiên chút nào, vì nếu con đã thấm nhuần sự thật mà thày đang nói với con ở đây thì con đã không đang ngồi trên trái đất mà đọc khóa học này, mà con đã ngồi trên kia nơi thiên đàng như một sinh thể tâm linh bất diệt. Và con cũng đã không cần một quyển sách để thày truyền đạt ý tưởng của thày cho con. Sự kiện con đang ngồi đây trên trái đất và đọc khóa học này chứng tỏ cho con thấy là con chưa hoàn toàn tiếp thu sự thật mà thày đang cho con.

Bất cứ quyết định sai lầm nào cũng có thể được thay thế bởi một quyết định dựa trên sự thật của Ki-tô. Nếu con chịu cam kết là con sẽ công khai thỉnh cầu sự thật Ki-tô – bằng cách hấp thu sự thật này vào tâm thức con, thể nhập nó, rồi dùng nó để lấy quyết định đúng đắn – con có khả năng xoay chuyển đời con rất nhanh chóng, nhanh hơn nhiều so với bao nhiêu tiền kiếp con đã bỏ ra để đặt mình vào hoàn cảnh hiện tại. Con có khả năng chặn đứng vòng xoáy hướng hạ và khởi sự một vòng xoáy tích cực, hướng thượng, sẽ dần dần dẫn con xa khỏi cảm giác vật lộn và đưa con vào sự sống dồi dào.

11.13. Thị hiện sự sống dồi dào

Quá nhiều người mong mỏi sự sống dồi dào nhưng lại có một hình ảnh hoàn toàn sai trật về thế nào là dồi dào. Quá nhiều người nghĩ dồi dào đúng nghĩa là một nguồn tiếp tế tiền bạc vô hạn mà họ nhận được từ một nguồn bên ngoài, cho dù đó là trúng số độc đắc hay một trò lừa thần diệu nào đó do thày giả hứa hẹn. Đây là điều các thày giả về thịnh vượng hứa hẹn người ta, cụ thể là có một kỹ thuật thần thông để chế tạo thịnh vượng, và một khi người ta có đủ tiền thì mọi khó khăn sẽ biến mất.

Việc có tiền, dù có bao nhiêu tiền, cũng không giống như sự sống dồi dào. Sống dồi dào là nhiều hơn hẳn chuyện tiền bạc, và đó là tại sao con không thể phục vụ hai chủ, con không thể vừa phục vụ Thượng đế vừa phục vụ Ma-môn (Matthew 6:24). Nếu con nghĩ chìa khóa của dồi dào là có tiền, con sẽ không bao giờ đạt được dồi dào đích thực của Thượng đế, vì nó hơn tiền bạc rất nhiều.

Dồi dào đích thực là biết mình hợp lẽ Thượng đế, biết mình đang trở về nhà, biết mỗi quyết định của mình đang đưa mình gần hơn tới mục đích tối thượng là sự hợp nhất với Thượng đế. Sự sống dồi dào đích thực là biết mình là một sinh thể tâm linh bất diệt đang ở đây trên trái đất để biểu đạt cá thể thiêng liêng của mình. Con cảm thấy con đang biểu đạt cá thể thiêng liêng này vào mỗi lúc. Con cũng biết con được thiết kế để là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế, con ở đây không chỉ để thực hiện mong muốn riêng của mình mà để đồng-sáng tạo vương quốc của ngài trên trái đất. Con biết là mỗi quyết định con lấy đang đem vương quốc này một bước nhỏ gần hơn đến sự thị hiện vật lý trên hành tinh này. Con biết con là một phần của Dòng sông sự Sống của Thượng đế, con là một phần của phong trào toàn cầu gồm những người đang nỗ lực đến gần với Thượng đế và đem vương quốc của ngài gần hơn ngày thị hiện trên trái đất.

Đây là dồi dào đích thực, là niềm vui biết rằng con là một phần của Dòng sông sự Sống, dòng chảy liên tục của tạo vật tráng lệ của Thượng đế. Điều này vượt xa bất cứ gì hầu hết mọi người có thể hình dung hay tưởng tượng, vượt xa bất cứ gì người ta có thể mua được bằng tiền bạc dù nhiều biết mấy. Điều này chỉ có thể đem lại từ bên trong, cụ thể là khi con quyết định tách mình khỏi tâm thức vật lộn, tâm thức thiếu thốn. Thay vào đó, con phải lao mình vào Dòng sông sự Sống, vào tâm thức Một, và giờ đây con trôi theo dòng sông đó. Con đang ở trong dòng chảy của sự dồi dào của Thượng đế, và sự dồi dào của Thượng đế đang tuôn chảy qua con vì con ngộ ra con chính là sự dồi dào của Thượng đế đang biểu hiện, con chính là Thượng đế trong biểu hiện.

Trái tim yêu dấu của thày, đây là sự sống dồi dào đích thực mà thày đã đến để cho con chứ không phải một con đường tắt dẫn đến của cải tạm bợ. Thày đã đến để cho con của cải của Tánh linh, vì như Giê-su có nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Trời và mọi thứ khác sẽ được bồi thêm cho con” (Matthew 6:33). Nếu con đi theo con đường thày đang phác họa, rất có thể con cũng sẽ nhận được tiền bạc hay những hình thức dồi dào vật chất khác. Để nhận được tiền bạc này, con phải trước hết tìm cầu sự dồi dào đích thực của tâm thức Ki-tô, sự công chính đích thực khi biết rằng con hợp lẽ với Thượng đế vì giờ đây con sẵn lòng là con người mà con thực là, tức một người đồng-sáng tạo đang ở đây để thị hiện Nước Trời qua những quyết định đúng đắn dựa trên tảng đá Ki-tô. Đây là nền tảng của dồi dào đích thực – con là con người mà con là, sẵn lòng thực thi uy lực mà Thượng đế đã ban cho con để cai trị, trước hết quả cầu cái ta của mình và sau đó vũ trụ vật chất.

A con yêu dấu, có lẽ con đang thoáng thấy sự sống dồi dào là nhiều hơn hẳn chuyện tiền của? Nếu con thấy được như vậy, con hãy cho phép thày trải bày cho con lý do thực sự tại sao con đã đến trái đất, và con ở đây để mang đến món quà độc đáo gì cho thế gian này. Đây mới là sự sống dồi dào, sự phong phú của việc trao tặng món quà vô hạn cho một thế giới hữu hạn, và nhờ vậy đưa thế giới hữu hạn này gần hơn với vương quốc vô hạn của Thượng đế.

9 | Cuộc đối thoại nội tâm trong con

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 16/4/2005.

Bây giờ thày muốn lấy một hướng hơi khác bằng cách yêu cầu con tham gia một bài tập. Thày sẽ cho con rất ít lời chỉ dẫn trước bài tập để sự đáp ứng của con cởi mở và chân thực hơn. Yêu cầu duy nhất về mặt vật lý là thày xin con có bút giấy sẵn sàng để có thể ghi xuống câu trả lời của con.

Con cần biết đến điều mà các nhà tâm lý học gọi là đối thoại nội tâm. Đây là cuộc đối thoại con có với chính mình, thường khi trong đầu, nhưng cũng có khi nói ra thành lời. Có lẽ con đã biết rõ đối thoại nội tâm là gì rồi, và nếu vậy thì thày chỉ đơn giản xin con để ý đến nó trong khi làm bài tập. Còn nếu con chưa quen thuộc với khái niệm đối thoại nội tâm, thày xin con thử nghĩ đến một tình huống đã khiến con rất đau buồn. Sau khi tình huống xảy ra, con cứ băn khoăn mãi không nguôi, con nghĩ hết chuyện này đã phải xảy ra đến chuyện nọ đúng lý không được xảy ra. Con cũng có thể xét xem đôi khi con có giấc mơ về những chuyện con muốn thấy xảy ra trong đời mình, và con lật qua lật lại trong đầu, mong mỏi điều gì đó có thể xảy ra. Những cuộc trò chuyện như vậy với chính mình là điều các nhà tâm lý học gọi là đối thoại nội tâm, và trong bài tập con cần chú ý đến nó.

Một cách tổng quá hơn, để thực sự phơi bày các chướng ngại của cái ta hữu diệt đang ngăn con không tiến được trên đường tu, con cần bắt đầu để ý đến cuộc đối thoại bên trong con. Trong nhiều trường hợp, đó là cái ta hữu diệt đang nói chuyện. Bằng cách lắng nghe cuộc đối thoại, cái Ta Biết có thể phơi bày cái ta hữu diệt và cách lý luận nhị nguyên của nó. Trong một số trường hợp, cuộc đối thoại diễn ra giữa cái Ta Biết và cái ta hữu diệt, qua đó con có thể học được nhiều điều từ những câu trả lời của cái ta hữu diệt. Trong một số trường hợp, con cũng cần phải rút lui một cách ý thức khỏi những cuộc trò chuyện này với cái ta hữu diệt vì chúng chẳng đưa tới đâu. Và trong một số trường hợp khác, cuộc trò chuyện này – hay ít nhất một phần của nó – cũng có thể đến từ một phần cao hơn của bản thể con đang cố soi sáng con về con đường đúng đắn.

9.1. Một bài tập hình dung

Thày xin con tham dự bài tập sau đây. Thày muốn con hình dung mình đang ngồi một chiếc ghế thoải mái bên bờ một hồ nước xinh đẹp trên núi. Quanh hồ là rặng thông cao tỏa hương thơm đặc biệt của loài thông, khiến cho không khí thật sảng khoái trong lành. Có chim hót nhí nhảnh trên ngọn thông cao. Trước mặt con là mặt hồ xanh thẳm dưới núi, phẳng lặng như thủy tinh. Có chút sương lãng đãng nhưng con vẫn có thể nhìn thấy bờ hồ bên kia, và con chiêm ngưỡng rặng núi tuyệt đẹp sau khu rừng. Toàn bộ khung cảnh là một sự an bình tĩnh lặng.

Thày xin con hình dung cảnh này và cho phép mình cảm thấy sự an bình tĩnh lặng của hồ nước xinh đẹp này. Con hãy bỏ ra mấy phút, nếu con muốn, để nhắm mắt lại và tưởng tượng mình đang ngồi trước bờ hồ trên núi, trong lòng hoàn toàn bình an, không có bất kỳ lo lắng nào của đời sống bình thường. Bây giờ con đang ở bờ hồ với lòng an bình, thày xin con hình dung là con cảm nhận có một sinh thể đang đứng sau lưng con. Sinh thể này là Thượng đế, trong bất kỳ dạng nào mà con hình dung ngài. Bây giờ thày yêu cầu con xem xét cuộc đối thoại nội tâm của con và xem có ý tưởng và từ ngữ nào khởi lên trong tâm con liên quan đến Thượng đế và cách con nhìn Thượng đế. Thày yêu cầu con ghi xuống thật nhanh các ý nghĩ đang đến với con. Con đừng phân tích các ý nghĩ này, đừng cố lượng định xem chúng có chấp nhận được theo bất kỳ tiêu chuẩn nào. Con chỉ đơn giản viết xuống các ý nghĩ đến với con về Thượng đế.

Giờ đây con đã ghi xuống ý nghĩ của mình về Thượng đế và sự hiện diện của ngài, thày xin con hình dung Thượng đế đang ở đây để cho con cơ hội xin ngài tha thứ lỗi lầm mà con đã phạm trong quá khứ xa xôi khi con quay lưng lại với ngài. Khi con mường tượng con sẽ cần gì để quay đầu lại, đối diện với ngài và xin ngài tha tội, thày một lần nữa yêu cầu con chú ý đến cuộc đối thoại nội tâm về chủ đề này. Xong con lại ghi nhanh các ý nghĩ khởi lên trong con mà không phân tích gì hết.

Bây giờ thày yêu cầu con nghĩ xem vị Thượng đế đang đứng sau lưng con không cảm thấy gì ngoại trừ tình thương vô lượng và vô điều kiện cho con. Nếu con sẵn lòng đứng dậy, quay đầu lại, đối diện với ngài và ôm lấy ngài, thì tình thương của ngài cho con sẽ làm tan chảy mọi cảm xúc tiêu cực đối với ngài cùng mọi hình ảnh bất toàn về chính con. Bây giờ thày xin con nhìn xem cuộc đối thoại nội tâm của con nói gì về khả năng con có thể ôm chầm lấy Thượng đế và đón nhận tình thương vô điều kiện của ngài. Cuộc đối thoại đó nói gì về các điều kiện có thể ngăn con làm việc đó? Một lần nữa, con hãy ghi nhanh các ý nghĩ này mà không phân tích.

Trái tim yêu dấu của thày, con có thể dùng bài tập này để phơi bày các tầng lớp sâu thẳm của cái ta hữu diệt và cách lý luận nhị nguyên mà nó đã dùng để ngăn con cất bước trên đường tu sẽ dẫn con trở về sự cứu rỗi đích thực, là hợp nhất với Thượng đế của con. Bí quyết là con làm bài tập này với tâm cởi mở và ghi xuống cuộc đối thoại nội tâm mà không phân tích khi con ghi. Nếu con lặp lại bài tập này và cố làm sao cho câu trả lời càng ngày càng ngẫu hứng, con có thể dần dần phơi bày các tin tưởng nhị nguyên cấu tạo cái ta hữu diệt của con. Điều này sẽ cho con một nền tảng để thay thế các tin tưởng nhị nguyên này bằng sự thật Ki-tô.

Con hãy nghĩ lại điều thày nói trước đây, cụ thể là cốt lõi bản sắc của con, cái Ta Biết, là chìa khóa cho việc con đi lên hay đi xuống trong tâm thức. Cái Ta Biết có khả năng tự đồng hóa với bất cứ gì, và bí quyết tăng trưởng là giải thoát cái Ta Biết khỏi mọi đồng hóa – bất kỳ đồng hóa nào – với cái ta hữu diệt. Con có thể đồng hóa với sinh thể tâm linh mà con là, với cá thể của Thượng đế mà con là, và con có thể khám phá cá thể thực được neo trụ trong Hiện diện TA LÀ của con. Để giải thoát khỏi cái ta hữu diệt, con cần nhìn nhận một cách ý thức rằng cái ta hữu diệt là một nhà tù được xây bằng nhiều viên gạch riêng rẽ, mỗi viên gạch tượng trưng cho một lời dối nhị nguyên mà con đã dần dà chấp nhận. Chỉ bằng cách nhìn xuyên thấu các lời dối này một cách ý thức và nhìn ra sự thật sẽ giải thoát con, thì con mới có thể thoát ra khỏi nhà tù của cái ta hữu diệt, giải thoát quả cầu cái ta khỏi các yếu tố hữu diệt, các yếu tố của tâm thức phản Ki-tô đang kéo con xuống qua trọng lực của chúng.

9.2. Lỗi lầm không quy định con vĩnh viễn

Có những thày giả đang hiện hữu ở bên ngoài con. Họ đang tìm cách đánh bẫy con vào tâm thức nhị nguyên và giữ con trong trạng thái tâm thức đó mãi mãi. Cái ta hữu diệt là một kẻ xâm nhập ngoại lai vào quả cầu cái ta của con, và tương tự như vậy, nó cũng tìm cách giữ con kẹt lại trong tâm thức phản Ki-tô vô thời hạn. Cả kẻ thù bên trong lẫn bên ngoài đang tìm cách đặt con vào một thế kẹt tâm linh, qua đó con đã phạm lỗi lầm trong quá khứ và giờ đây con lại tin rằng con sẽ không bao giờ thoát ra khỏi lỗi lầm này. Đây là âm mưu của kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài. Đây là kế sách của chúng để phân rẽ ngôi nhà của con với chính nó, hầu con không bao giờ trở về được trạng thái hồn nhiên của mình, là cảm nhận hợp nhất nội tâm với Thượng đế của con.

Rất lâu về trước, kẻ thù bên ngoài đã cám dỗ con với những lời gian dối nhị nguyên bằng cách cài đặt yếu tố ngờ vực trong tâm thức con. Khi con bắt đầu chấp nhận ngày càng nhiều lời dối nhị nguyên, cuối cùng các yếu tố phản Ki-tô này tạo thành một khối tới hạn, sinh ra cái ta hữu diệt trong tư cách một sinh thể có ý thức bên trong quả cầu cái ta của con. Chính vào lúc đó con đánh mất sự hồn nhiên của mình và cảm thấy bị lạc đường vì giờ đây con đã tách mình ra khỏi Hiện diện TA LÀ. Kỳ thực chưa bao giờ có sự tách biệt. Chỉ trong tâm con mới tin là có một trạng thái tách biệt như thế, một khoảng cách như thế. Ngay trước khi cái ta hữu diệt chào đời, con đã có một giây phút sự thật khi cái Ta Biết nhận ra là con đã tách mình ra khỏi Hiện diện TA LÀ – con đang trần truồng. Ngay lúc đó, kẻ thù bên ngoài đã gài vào tâm thức con ý tưởng rằng bởi vì con đã đánh mất ân sủng cho nên con không bao giờ có thể trở về hợp nhất với Thượng đế. Vì con đã phạm lỗi trong quá khứ, con không bao giờ có thể trở về với ngài trong hiện tại hay bất cứ khi nào trong tương lai.

9.3. Tại sao thế gian này vô thường

Sau khi đã cám dỗ con với nhiều lời dối nhị nguyên, kẻ thù bên ngoài bây giờ dụ con với lời gian dối tối hậu rằng con có thể bị chia cách khỏi Thượng đế một cách vĩnh viễn mà không có cách chi đảo ngược lại, không có đường nào thoái lui. Đây là lời dối bảo rằng những sự việc, những thứ của thế gian, bất cứ gì con đã làm ở bất kỳ thời điểm nào, có khả năng ngăn con trở về với Thượng đế. Đâu là sự sai lầm của lời dối này? Tất cả mọi thứ trong thế gian này đều được tạo ra từ Ánh Sáng Mẹ đã được hạ thấp độ rung. Mọi thứ hiện hữu trong thế gian này có một rung động thấp hơn các năng lượng trên cõi tâm linh. Cốt lõi của bản thể con là cái Ta Biết, quả cầu cái ta và Hiện diện TA LÀ của con. Cả ba yếu tố này của bản thể con do Thượng đế tạo ra từ năng lượng cao hơn của cõi tâm linh. Chúng có rung động cao hơn bất cứ gì trong thế giới vật chất. Thực tế là không có gì trong thế giới vật chất này có thể vĩnh viễn ảnh hưởng bản thể thực của con.

Cái Ta Biết là một phần nối dài của nhận biết thuần khiết của Thượng đế. Nó không thể bị thay đổi hay bị hư hại vĩnh viễn bởi bất cứ gì con đã làm trong phổ rung động thấp hơn của cõi vật chất. Đây chính là một trong những cơ chế an toàn được gắn sẵn trong tạo vật của Thượng đế, do Đấng Sáng tạo của con quy định để ngăn con không thể bị kẹt mãi trong bất kỳ tạo vật bất toàn nào, dù là do con hay bất cứ ai tạo ra.

Cái Ta Biết có thể tự đồng hóa với một rung động thấp hơn, nhưng ý niệm bản sắc này không thể vĩnh viễn hay bất khả đảo ngược. Đó là một ảo tưởng, và nó chỉ có thể tồn tại cho đến khi cái Ta Biết còn chấp nhận nó là thực. Ngay giây phút con buông bỏ ảo tưởng này, nó không còn bất cứ quyền lực nào trên con nữa. Lời dối được ông hoàng của thế gian và kẻ thù bên trong con quảng bá là con đã phạm một lỗi lầm trong quá khứ mà con không thể nào thoát ra khỏi. Bất cứ gì con đã làm trong quá khứ đều được làm với ánh sáng Thượng đế, với Ánh sáng Mẹ. Chỉ khi nào con ở trong tâm thức Ki-tô thì con mới có thể vận dụng Ánh sáng Mẫu-Vật thuần khiết.

Khi con dự phần vào tâm thức nhị nguyên, con không thể ảnh hưởng đến Ánh sáng Mẫu-Vật thuần khiết mà con chỉ có thể vận dụng các năng lượng đã sẵn được đem vào phổ tần số vật chất. Các năng lượng này, theo định nghĩa, có rung động thấp hơn năng lượng của cõi tâm linh và do đó không thể hằng thường. Không có gì trong cõi này có thể hằng thường. Không một lỗi lầm nào con từng phạm phải có thể hằng thường hay bất khả đảo ngược. Bất cứ lỗi lầm nào cũng có thể được lật ngược, hoàn nguyên, giải thể, và để giải thể một lỗi lầm, con cần làm hai việc đơn giản:

  • Con cần nhìn thấu lời dối nhị nguyên đã khiến con làm tha hóa Ánh sáng Mẫu-Vật. Khi con nhìn thấu lời dối đó, chấp nhận đó là một lời dối và thay thế nó bằng sự thật Ki-tô sẽ vô hiệu hóa lời dối, thì con sẽ được giải thoát khỏi lời dối.
  • Khi con đang chấp nhận lời dối và cho phép nó ở lại trong quả cầu cái ta của con, thì năng lượng vẫn chảy qua phin lọc của lời dối và do đó khoác vào hình dạng mà nó tạo thành. Chúng ta có thể nói là con đã làm tha hóa một phần nào đó, một lượng nào đó của ánh sáng Thượng đế. Trách nhiệm của con là thanh tẩy ánh sáng đó để đảm bảo không còn sự mất quân bình trong cõi vật chất. Để giải thoát khỏi lỗi lầm đã qua, con cũng cần phục hồi lại Ánh sáng Mẫu-Vật đã bị tha hóa, đã bị giảm rung động và bị khoác vào một hình ảnh bất toàn khi con còn tin vào lời dối nhị nguyên. Việc làm này không khó lắm một khi con đã nhìn thấu lời dối. Con chỉ cần thỉnh cầu ánh sáng tâm linh từ Trên và hướng nó vào năng lượng tha hóa, qua đó con có thể nâng cao rung động của năng lượng có tần số thấp. Đây là một quy trình hoàn toàn tự nhiên mà ngay cả các nhà khoa học của con cũng đã khám phá và chứng minh trong phòng thí nghiệm. Khi con phóng một sóng ánh sáng có tần số cao vào một sóng có tần số thấp, con có thể nâng cao rung động của năng lượng thấp. Đây là một tiến trình cơ học và các bài thỉnh kèm theo khóa học này được thiết kế để nâng cao rung động của ánh sáng đã bị tha hóa.

9.4. Luật nhân quả nhằm giữ cân bằng cho vũ trụ

Không có lỗi lầm nào là vĩnh viễn, không thể đảo ngược. Không có lỗi lầm nào không sao giải thể. Không có lỗi lầm nào sẽ giữ con mắc kẹt mãi mãi. Đấng Sáng tạo của con không mong muốn gì hơn là thấy con được tự do khỏi mọi lỗi lầm – bất kỳ lỗi lầm nào – của quá khứ. Quan niệm một Thượng đế giận dữ chuyên trừng trị là một khái niệm bắt nguồn từ tâm thức nhị nguyên, tâm thức phản Ki-tô. Nó không có bất kỳ thực thể nào. Đấng Sáng tạo của con không giận con vì con đã lầm lỗi. Đấng Sáng tạo của con đã cho con quyền tự quyết và cũng cho con vũ trụ vật chất để thử nghiệm quyền tự quyết này. Luật Tự quyết không tồn tại một mình, nó tồn tại như một thái cực với luật nhân quả, và luật này thì khiến con chịu trách nhiệm các chọn lựa của mình, chịu trách nhiệm cách con dùng năng lượng của Thượng đế.

Luật này có hai khía cạnh. Nó bảo rằng chừng nào con cho phép một lời dối ở lại trong bình chứa cái ta, con sẽ không tránh khỏi làm tha hóa một chút năng lượng của Thượng đế qua lời dối nhị nguyên đó và các hình ảnh bất toàn mà con áp đặt lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Luật có khía cạnh thứ nhì bảo rằng năng lượng mà con tha hóa sẽ được tấm gương vũ trụ gửi trả về con dưới dạng những điều kiện biểu diễn các hình ảnh bất toàn đó. Con sẽ trải nghiệm những gì con tạo ra qua tâm thức nhị nguyên. Đây chính là tại sao Giê-su dạy mọi người hãy làm cho người khác những gì mình muốn người khác làm cho mình (Matthew 7:12). Ý nghĩa sâu xa hơn là tấm gương vũ trụ sẽ gửi trả lại cho con những gì con làm tới người khác, những gì con làm tới Ánh sáng Mẫu-Vật. Con sẽ không thể tránh trải nghiệm trong đời mình những gì con làm tới người khác.

Con càng để cho một lời dối nhị nguyên ở lại lâu trong quả cầu cái ta, con càng bị dính mắc tình cảm với lời dối đó, thì con sẽ càng tha hóa nhiều năng lượng hơn. Khi năng lượng tích lũy, cường độ của năng lượng được tấm gương vũ trụ phản chiếu lại về con sẽ tiếp tục tăng lên. Đó là tại sao một số người có vẻ rơi vào một vòng ốc xoáy hướng hạ mà họ không sao thoát ra khỏi. Đây không phải là hành động của một Thượng đế giận dữ đang trừng phạt con, mà là kết quả của những định luật cơ học, hoàn toàn phi cá nhân, mà Đấng Sáng tạo đã thiết lập để hướng dẫn cuộc thử nghiệm của con với quyền tự quyết. Các định luật này không được thiết lập để trừng phạt con mà kỳ thực để đảm bảo con không thể tự hủy diệt, hủy diệt những người đồng sáng tạo khác hay toàn bộ vũ trụ. Định luật vận hành rất giản dị. Khi con tha hóa năng lượng, năng lượng được tấm gương vũ trụ gửi trả cho con, và do đó con gặp phải những cảnh ngộ hạn chế tự do cùng sự biểu đạt sáng tạo của con. Con càng tha hóa nhiều năng lượng thì đời con sẽ trở nên nặng nhọc hơn, quyền năng sáng tạo còn sót để có thể tha hóa thêm năng lượng sẽ càng ít hơn. Có thể nói, càng ngày con càng bị đè nặng nhiều hơn bởi các hành động tha hóa năng lượng trong quá khứ, và điều này ngăn cản con gây thêm tổn hại cho người khác lẫn chính mình.

Khi con bước đi trên đường đời, năng lượng con làm tha hóa giống như những hạt cát mà con đổ vào túi quần và ba lô của con. Trong túi con càng nhiều cát thì con sẽ càng khó bước đi. Đây là một cơ chế an toàn vì cuối cùng con có thể tạo ra nhiều năng lượng tha hóa đến độ con không thể nhúc nhích được nữa. Con không thể hủy hoại chính con và những thành phần khác của sự sống được nữa.

Mục đích thật sự của luật nhân quả không nhắm vào cá nhân con, mà hướng tới việc duy trì sự cân bằng của vũ trụ, cân bằng của cõi vật chất. Trạng thái tâm thức nhị nguyên tạo ra hai đối cực. Các đối cực này là sự tha hóa của lực lan ra của Cha và tha hóa lực co lại của Mẹ. Lực lan ra và lực co lại không đối nghịch với nhau theo nghĩa triệt tiêu lẫn nhau. Chúng tạo ra thế thái cực, và khi chúng đến với nhau trong sự hỗ tương cân bằng, chúng sẽ sinh sôi và khuếch trương lẫn nhau, và đây là cách sinh tạo hình tướng. Nhưng khi con rơi xuống tâm thức nhị nguyên, con không thể duy trì sự cân bằng đúng đắn giữa hai lực lan ra và co lại, tức sự cân bằng bắt nguồn từ tâm thức Ki-tô. Con tạo ra một cặp đối cực giả tạo sẽ hủy diệt lẫn nhau, với hậu quả là chúng không thể tạo ra hình tướng lâu dài nào. Chúng chỉ tạo ra những hình tướng hữu diệt sẽ bị phá vỡ bởi lực co lại của Mẹ luôn tìm cách hoàn lại Ánh sáng Mẫu-Vật về trạng thái nền của nó. Khi con hành động từ tâm thức nhị nguyên, mọi việc con làm, mọi hành vi con phát khởi sẽ bị vũ trụ chống lại dưới dạng một phản ứng ngược chiều với sức mạnh tương ứng. Điều này đã được các nhà khoa học của con chứng minh, và từ nhiều thế kỷ người ta đã biết đến luật tác dụng và phản tác dụng (law of action and reaction). Rất ít người đã áp dụng luật này trong hoàn cảnh cá nhân của mình. Rất ít người hiểu rằng nếu mình mất cân bằng bao nhiêu thì lực đối nghịch tìm cách phục hồi sự cân bằng sẽ mãnh liệt bấy nhiêu. Để có thể làm bất cứ gì trong trạng thái tâm thức này, con phải liên tục khắc phục sự chống đối đến từ vũ trụ. Để có thể duy trì một tạo vật mất cân bằng, con phải không ngừng đẩy thêm hành động mất cân bằng của mình. Điều không thể tránh là con biến đời mình thành một cuộc vật lộn liên tục, và đối với nhiều người, nó dẫn đến một vòng xoáy hướng hạ mà họ không thể chặn đứng.

Thật vô cùng đáng tiếc con người chưa hiểu ra nguyên lý đơn giản này vốn đã được các nhà khoa học biết đến từ hàng thế kỷ. Bất cứ ai chịu nhìn đằng sau hình dáng bên ngoài và tự hỏi tại sao một số sự kiện hình như cứ trở lại với mình hoài, có thể quan sát thấy điều này. Như câu nói dân gian vẫn bảo: “Cái gì đi ra sẽ quay trở về.” Nếu con người hiểu được nguyên lý cân bằng này thì họ đã có thể có được một tầm nhìn hoàn toàn khác về cuộc sống trong thế gian. Điều này đã có thể giúp họ thoát khỏi chiếc đèn kéo quân cứ kéo họ quay mãi từ đối cực này sang đối cực kia, nhưng vẫn bị giam chặt trong trò chơi điên khùng của tâm thức nhị nguyên.

Nguyên tắc cơ bản đằng sau luật tác dụng và phản tác dụng là Thượng đế đã thiết kế vũ trụ vật chất như một cõi cho phép người đồng-sáng tạo có thể đi ngược lại các quy luật của ngài. Để ngăn cản một người đồng-sáng tạo hủy diệt toàn bộ vũ trụ hay nô lệ hóa mọi người đồng-sáng tạo khác, Thượng đế đã tạo ra quy luật rằng vũ trụ vật chất phải duy trì một trạng thái cân bằng nào đó. Hệ quả thực tiễn là bất cứ khi nào một người đồng-sáng tạo phát khởi một hành động mất cân bằng, thì chính vũ trụ, Ánh sáng Mẫu-Vật, sẽ tự động phát khởi một phản ứng ngược lại, như một lực đối trọng lại hành động mất hài hòa đã làm xáo trộn thế quân bình của vũ trụ.

9.5. Khát khao lớn nhất của con người

Nguyên lý đơn giản này mang nhiều hệ quả sâu xa, và thày sẽ tiết lộ một số hệ quả này trong các chương tới. Ngay bây giờ, thày sẽ chỉ ra một trong những hệ quả quan trọng nhất. Âm mưu chủ yếu của kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài là đặt con vào một thế kẹt lưỡng nan tâm linh. Câu chuyện về Vườn Eden biểu tượng cho những gì đã xảy ra cho mỗi dòng sống bước xuống tâm thức nhị nguyên. Tình huống khi Adam và Eva nhận ra là họ đang trần truồng tượng trưng cho sự kiện họ đã có một giây phút sự thật, họ nhận ra là họ đã đánh mất liên lạc với Hiện diện TA LÀ của họ. Khi cái Ta Biết có được giây phút sự thật này, con cảm thấy cô đơn, con cảm thấy mất mát, con cảm thấy không trọn vẹn.

Mong muốn sâu thẳm nhất trong tâm thức con là lấy lại sự trọn vẹn của mình. Cách duy nhất – cách duy nhất tuyệt đối – để lấy lại sự trọn vẹn của con là phục hồi cảm nhận kết hợp nội tâm với nguồn cội và Hiện diện TA LÀ của con. Cảm nhận kết hợp nội tâm này chỉ có thể đạt được bằng cách đi vào bên trong, và thật vậy đó là điều Giê-su đã nói qua câu Nước Trời ở bên trong con (Luke 17:21).

Để giữ con trong một thế kẹt lưỡng nan, kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài phải ngăn chặn con đi vào bên trong và tái lập cảm nhận hợp nhất nội tâm với Thượng đế. Chúng phải giữ cái Ta Biết trong tâm trạng tự đồng hóa với một khía cạnh nào đó của tâm thức nhị nguyên. Làm thế nào chúng làm được? Bằng cách dùng đặc điểm nằm ngay trung tâm tâm thức phản Ki-tô, tức là bản chất nhị nguyên của nó, là xu hướng cố hữu tạo ra hai cực đoan đối nghịch, và cả hai đều tách biệt khỏi thực tại Một, không chia cách, của Thượng đế. Ông hoàng của thế gian đã tạo ra một con đường giả – con đường có vẻ đúng đối với người phàm nhưng cuối cùng là con đường của sự chết – và con đường này có hai đối cực.

Sâu thẳm trong tim con, con có cái biết là con không trọn vẹn, và con mong mỏi lấy lại sự trọn vẹn của mình. Vấn đề mà ông hoàng của thế gian phải đối mặt là con không bao giờ có thể hoàn toàn đánh mất niềm khao khát trọn vẹn, khao khát cái gì nhiều hơn những gì thế giới vật chất có thể cống hiến. Ông hoàng của thế gian đã cố đối phó với vấn đề này bằng cách dựng lên vô số chuyện trong thế giới khiến con bị phân tâm xao lãng. Kế này có thể thành công trong một thời gian, nghĩa là nhiều người đã quá mải mê thu thập của cải và đeo đuổi thú vui của thế gian đến nỗi, trong một thời gian, họ quên bẵng mất nhu cầu trở nên trọn vẹn – hay họ đã cố lấp đầy nhu cầu này bằng cách chạy theo đồ vật, thú vui hoặc trải nghiệm của thế gian. Rồi đến một điểm, dòng sống không thể tiếp tục làm ngơ niềm khao khát sự trọn vẹn được nữa. Sẽ đến một điểm ông hoàng của thế gian và kẻ thù bên trong, cái ta hữu diệt, không thể tiếp tục ngăn cản cái Ta Biết nghĩ rằng cuộc sống phải có gì nhiều hơn những thứ mà thế gian cống hiến. Phải có một sự trọn vẹn sâu xa hơn những gì có thể mua được qua Ma-môn.

Khi cái Ta Biết đạt tới điểm này, các thế lực của thế gian không còn ngăn con suy ngẫm về chủ đề Thượng đế được nữa. Nhiều dòng sống làm ngơ chủ đề Thượng đế hay phủ nhận là Thượng đế có thật, nhưng không một dòng sống nào có thể làm vậy mãi mãi. Sẽ đến một điểm con ngộ ra là niềm khao khát nội tâm thực sự của con là niềm khao khát sự trọn vẹn. Để có thể trọn vẹn, con phải giải quyết mối quan hệ của con với Thượng đế. Ở điểm này, ông hoàng của thế gian sẽ cố đánh bẫy con trong một trong hai cực đoan của con đường giả.

9.6. Ảo tưởng chạy trốn và ảo tưởng chạy về Thượng đế

Một cực đoan là cố gắng khiến con chạy trốn khỏi Thượng đế. Một ví dụ là có triết lý bảo rằng con không thể nào đến gần Thượng đế vì con là một con người quá thấp kém. Hay ông hoàng của thế gian sẽ cố khiến con tin vào một trong những hình ảnh giả của y về Thượng đế, chẳng hạn hình ảnh một sinh thể giận dữ trên trời đang theo dõi mọi cử động của con và muốn trừng phạt con mỗi lần con lầm lỗi. Mục đích là để khiến con cảm thấy là con thật sự không muốn trở về hợp nhất với Thượng đế. Hay các thế lực thế gian sẽ cố khiến con tin rằng mỗi vấn đề con phải đối mặt đều là lỗi của Thượng đế vì ngài đã tạo ra con, đã cho con quyền tự quyết và đã làm bao nhiêu chuyện bất công khác khiến con bị kẹt cứng trong hoàn cảnh hiện tại của mình. Cực đoan này tượng trưng cho xu hướng chạy trốn khỏi vị Thượng đế bên ngoài. Hiển nhiên, chừng nào con còn chạy trốn khỏi vị Thượng đế bên ngoài thì rất ít hy vọng con có thể tái lập sự hồn nhiên của mình, cảm nhận hợp nhất nội tâm của mình, với vị Thượng đế bên trong.

Thày chắc chắn là nếu con đang đọc khóa học này, con không bị kẹt trong cực đoan này. Con đang bước chân một cách ý thức trên đường tu tâm linh, và do đó con đang cố tình đến gần Thượng đế hơn. Thày mô tả cực đoan này vì thày chắc chắn con sẽ dễ dàng nhìn thấu các lời dối khiến cho người đời mắc kẹt vào cực đoan chạy trốn khỏi vị Thượng đế bên ngoài. Bằng cách nhìn thấu như vậy, thày hy vọng con sẽ dễ dàng hơn nhìn thấu các lời dối được sử dụng để đánh bẫy con người vào cực đoan ngược lại.

Nhiều người tâm linh và mộ đạo có thể khó lòng chấp nhận những gì thày sắp sửa nói với con. Thày phải nói cho con sự thật rằng cực đoan ngược lại, do ông hoàng của thế gian mưu tính, là một hình thức tôn giáo khiến con chạy về phía Thượng đế bên ngoài. Đây là bất kỳ hình thức tôn giáo nào củng cố hình ảnh của một Thượng đế bên ngoài. Thật không quan trọng tôn giáo đó mô tả Thượng đế bên ngoài thế nào, cho dù là một Thượng đế nóng giận trừng phạt hay một Thượng đế nhân từ. Yếu tố quyết định là liệu Thượng đế có được mô tả như một sinh thể bên ngoài hay không, một sinh thể nằm ở ngoài con, bị chia cắt khỏi bởi một hàng rào, là hàng rào của các lầm lạc của con trong quá khứ, các tội lỗi của con.

Nhiều tôn giáo trên hành tinh này rơi vào loại này. Hầu hết các tôn giáo ở khởi thủy đều bắt đầu như một tôn giáo chân chính, và con có thể nhìn thấy mô hình này rất rõ trong đạo Cơ đốc. Giê-su là một vị thày tâm linh đích thực, do Thượng đế gửi xuống để giúp con người tái khám phá sự thật đã bị đánh mất rằng Nước Trời ở trong họ và chìa khóa của cứu rỗi là tái lập lại cảm nhận hợp nhất nội tâm với Thượng đế bên trong. Với thời gian, lời dạy nội tâm chân truyền của Giê-su đã bị bẻ quẹo để biến thành các giáo điều vỏ ngoài mô tả Thượng đế như một sinh thể xa xôi trên trời. Một số giáo hội Cơ đốc bảo là ngài sẽ trừng phạt tội lỗi của con nhưng con có thể mua con đường giải thoát khỏi tình trạng rắc rối này bằng cách tuân thủ một số quy luật và tin vào một số tín điều nhất định. Một số giáo hội Cơ đốc khác bảo là con không thể, bằng sức riêng của mình, tái lập một mối quan hệ đúng đắn với Thượng đế, mà con chỉ có thể làm vậy xuyên qua một cái gì bên ngoài con, cụ thể là “Giê-su” mà họ mô tả là một vị cứu tinh bên ngoài, bởi vì Giê-su là đứa con độc nhất của Thượng đế còn con thì là một kẻ tội nhân phàm tục.

Nhiều giáo hội Cơ đốc củng cố hình ảnh một Thượng đế ở ngoài, và họ bảo chìa khóa của cứu rỗi là con phải chạy về phía vị Thượng đế bên ngoài này, đồng thời chạy trốn khỏi đối nghịch của Thượng đế bên ngoài là ác quỷ. Thật chẳng quan trọng gì con chạy trốn hay chạy về một Thượng đế bên ngoài, bởi vì trong cả hai trường hợp, con đang chạy trốn khỏi vị Thượng đế bên trong là chìa khóa duy nhất dẫn đến cứu rỗi.

Nhiều tín đồ Cơ đốc ngồi trong nhà thờ mỗi chủ nhật và cảm thấy mình là những người duy nhất sẽ được cứu rỗi. Thày hoàn toàn không đang nói vậy một cách chế giễu hay xúc phạm. Thày biết rõ nhiều tín đồ Cơ đốc rất chân thành và có trái tim trong sáng, họ đang siêng năng theo đuổi con đường mà các giáo hội chính thống đã vạch ra cho họ. Họ thực sự có ý định tốt nhất, thế nhưng nỗ lực của họ không thể nào đem lại kết quả mong muốn. Điều mà nhiều người trong số họ đang làm là đeo đuổi một cuộc tìm cầu vô vọng. Họ đang chạy theo một mục tiêu sẽ mãi mãi vượt tầm tay họ.

Có lẽ con đã thấy hình vẽ con lừa kéo xe, và từ trên xe có cây gậy dài, và ở đầu gậy thì có sợi dây treo một củ cà-rốt. Củ cà-rốt lủng lẳng trước mũi con lừa, con lừa cứ chạy vể phía cà-rốt, nghĩ rằng chỉ trong chốc lát nó sẽ chụp lấy củ cà-rốt ăn ngấu nghiến. Khi làm vậy thì lừa cứ kéo xe về phía trước. Nhiều người mộ đạo trên hành tinh này – không chỉ người Cơ đốc nhưng chắc chắn trong số đó có nhiều người Cơ đốc – cũng giống như con lừa kia không ngừng chạy về phía cà-rốt mà không bao giờ tới được. Họ chạy theo lời hứa hẹn mà tôn giáo họ đưa ra nhưng họ không bao giờ đạt được sự sống dồi dào. Lý do là vì họ đã chấp nhận một hình ảnh giả trá, một hình ảnh nhị nguyên, một tượng khắc về Thượng đế, về những gì họ cần làm để giành được cứu rỗi. Họ nghĩ họ đang chạy về hướng cứu rỗi, nhưng cái họ chạy về là thần tượng của Thượng đế bên ngoài. Chừng nào họ còn chạy về thần tượng đó thì họ còn chạy trốn khỏi Thượng đế bên trong. Khi làm vậy thì họ kéo chiếc xe đi, và ông hoàng của thế gian và cái ta hữu diệt của họ cứ ung dung ngồi trên xe tận hưởng cuộc hành trình. Chúng biết rõ là chừng nào con người còn tiếp tục chạy về phía củ cà-rốt của Thượng đế bên ngoài, chúng sẽ an toàn ngồi trên ghế lái, là vị trí chúng có toàn quyền kiểm soát con người.

9.7. Bỏ hẳn cuộc tìm cầu Thượng đế bên ngoài

Thày biết đây có thể là một sự thật sẽ làm chấn động nhiều người sùng đạo chân thành. Họ đã bỏ ra hàng chục năm trời, có lẽ cả kiếp sống, để đeo đuổi con đường mà một số tôn giáo chính thống vạch ra trước mặt họ. Nếu con đã từng là một người sùng đạo chân thành thì nỗ lực của con không hoàn toàn uổng phí. Bất cứ gì con đã làm với trái tim trong trắng sẽ đều đáng kể, nhưng thày phải nói với con là sẽ không đủ để đưa con đến mục đích của cứu rỗi đích thực. Con cần phải thay đổi hướng đi. Con cần phải ngừng chạy theo củ cà-rốt của Thượng đế bên ngoài. Con cần phải đập bể con bê vàng, kéo nó xuống khỏi bệ cao và nhận ra sự thật tuyệt đối khi Giê-su nói là Nước Trời ở trong con. Chỉ khi nào con đập tan thần tượng của một Thượng đế bên ngoài và bắt đầu tìm kiếm Thượng đế bên trong thì con mới có thể thừa kế vương quốc của Cha con, thừa kế sự sống dồi dào là gia sản chính đáng của con – nhưng con sẽ không bao giờ đạt được chừng nào con còn chạy theo Thượng đế bên ngoài.

Con yêu dấu, thày đang rất thẳng thắn và nghiêm nghị vì thày biết qua kinh nghiệm là có hàng bao triệu người trên hành tinh này sẽ không chịu lắng nghe sự thật đó. Lý do là vì họ còn quá gắn bó với những lời dối nhị nguyên mà họ đã thu nhận, những lời dối nhị nguyên được chủ xướng bởi cái ta hữu diệt của họ và ông hoàng của thế gian. Đây là những lời dối hứa hẹn sự cứu rỗi tự động cho mọi người khi họ đi theo các quy luật và giáo điều vỏ ngoài một cách máy móc.

Thày cần phải rất thẳng thẳn để cố đâm thủng sự chống cự mà con có thể có đối với sự thật này. Thày không bảo là các nỗ lực đã qua của con để đi theo tôn giáo của mình là hoàn toàn uổng phí. Nếu con đã từng là một tín đồ sùng đạo của bất kỳ tôn giáo nào và nếu con đã cố gắng hết sức để theo tôn giáo đó, thì con đã làm được gì đó để đưa mình gần hơn với sự sống dồi dào. Điều này đặc biệt đúng nếu những gì con đã làm được thực hiện trong tình thương yêu, trong trái tim trong trắng không gợn một động cơ nào khác. Những gì con đã làm trong quá khứ không hề lãng phí, nhưng để gặt hái thành quả nỗ lực của mình, con sẽ cần phải đứng thẳng hàng lại với sự thật thày đang đem lại cho con. Con sẽ cần phải thay đổi trọng tâm của mình, thay đổi cách con tiếp cận tôn giáo hầu con có thể đón nhận cách tiếp cận mà Giê-su đã đến để trao cho loài người, tức là cách tiếp cận nội tâm.

Nếu con chịu làm vậy, con có thể nhanh chóng sử dụng nhiều sáng ngộ mà con đã thu thập trong đời sống tôn giáo và chỉ cần xoay tâm thức lên một chút để đứng thẳng hàng lại với thực tại của con đường nội tâm dẫn đến Thượng đế. Con không cần đi lại từ đầu, con không cần vứt bỏ tất cả mọi niềm tin tôn giáo của mình. Con chỉ cần xoay đủ chiếc kim của tâm thức để điều chỉnh các tin tưởng của mình cho thẳng hàng lại với sự thật Ki-tô. Điều này có thể đòi hỏi con có một nỗ lực rất quyết tâm nhằm phơi bày tính không thực của phản Ki-tô, phơi bày các tin tưởng nhị nguyên đã len lỏi vào hầu hết mọi tôn giáo trên hành tinh này. Rất có thể con đã bị thấm nhuần các tin tưởng này từ thuở thơ ấu, và có thể con đã được quả quyết là các tin tưởng nhị nguyên này là sự thật tuyệt đối không thể nào sai sót. Nếu con đã chấp nhận lời quyết đoán này, có thể con đã xây dựng một cảm giác an toàn giả tạo khiến con tin rằng chỉ cần đi theo các tín điều vỏ ngoài đó thì chắc chắn con sẽ được cứu rỗi.

Hàng triệu người đã cho phép mình bị ru ngủ trong cảm giác an toàn giả tạo này, nghĩ rằng sự cứu rỗi của mình đã được đảm bảo. Theo cách nói hiện đại, họ nghĩ là họ đã “bỏ túi” ăn chắc rồi. Tiếc thay không phải như vậy, và thày có thể nói với con là nhiều dòng sống đã bị thất vọng não nề khi họ rời bỏ cơ thể vật lý để đi về nơi dành cho họ giữa hai kiếp sống. Nhiều dòng sống là tín đồ triệt để của một tôn giáo chính thống suốt nhiều tiền kiếp, đã quá thất vọng đến độ họ giận cả Thượng đế. Nhiều người thời nay mang thái độ tiêu cực đối với tôn giáo chính thống, hay đối với một tôn giáo nào đó, có thái độ này chính là vì trong một tiền kiếp họ đã chăm chỉ tuân theo một tôn giáo đặc thù. Sau kiếp sống đó, họ hiểu ra là họ đã đi theo một lời hứa hão, họ đã chạy theo củ cà-rốt mà không bao giờ có hy vọng bắt được. Thật không may, những người này đã đơn giản nhảy sang đối cực ngược lại mà ông hoàng của thế gian đã bày sẵn. Họ cần vươn lên cao hơn cả hai cách tiếp cận nhị nguyên đối với tôn giáo để mà với lấy Thượng đế bên trong.

9.8. Chữa lành quan hệ với Thượng đế

Hầu hết mọi người trên hành tinh này đều có một nỗi giận, hay một cảm nhận bất công sâu xa đối với Thượng đế, và nếu con là người quan tâm đến việc biểu hiện sự sống dồi dào, con cần phơi bày và giải quyết những cảm xúc đó. Con yêu dấu, thày có thể thông cảm nếu con phần nào giận dữ vì mình đã bị nói dối về cứu rỗi, nhưng nếu con chìm đắm trong lòng tức giận, con sẽ chỉ nhảy sang cực đoan ngược lại là chạy trốn khỏi Thượng đế bên ngoài. Cách duy nhất để khắc phục cả hai cực đoan nhị nguyên là nghe theo lời dặn của Giê-su và tha thứ cho mọi người về mọi chuyện (Matthew 6:14, 18:21). Việc bám giữ một mối hận, bám giữ một nỗi giận hay một niềm đau, sẽ chỉ giữ con kẹt lại trong tâm thức nhị nguyên. Bí quyết cho tự do tâm linh là sự tha thứ toàn diện, trọn vẹn và tuyệt đối cho Thượng đế, cho tất cả mọi người, cho mọi tổ chức con người và cho bản thân mình. Nếu con muốn biểu hiện sự sống dồi dào, con cần tha thứ tất cả những ai đã từng làm hại con. Con cần tha thứ Thượng đế về bất kỳ hình ảnh giả trá nào của ngài đã có thể được áp đặt lên con. Thậm chí con cần tha thứ cả ông hoàng của thế gian đã gian dối, đánh lừa và khuynh loát. Con cần tha thứ cái ta hữu diệt của con, và con cần tha thứ chính con, cái Ta Biết, đã chấp nhận những lời dối nhị nguyên trong quá khứ.

Thượng đế không hề mong muốn thấy con bị kẹt mãi trong một trạng thái tâm thức thấp. Mong muốn duy nhất của ngài là thấy con giải thoát khỏi mọi bất toàn hầu con có thể lấy lại bản sắc tâm linh thực của con và bắt đầu xây dựng trên nền tảng này, trở nên nhiều hơn những gì Thượng đế đã từng hình dung cho con. Con không cần được Thượng đế tha thứ về bất kỳ lầm lỗi nào con đã phạm phải. Thày biết đây lại là thêm một câu nói sẽ khó lòng được chấp nhận bởi nhiều người mộ đạo. Sự thật là Thượng đế đã cho con quyền tự quyết, và do đó ngài không hề giận con khi con dùng quyền này để đi ngược lại các quy luật của ngài. Tại sao Thượng đế lại giận khi ngài đã tạo ra một quy luật bảo rằng con sẽ gặt những gì con gieo? Ngài không muốn thấy con bị giam mãi trong một trạng thái hối hận hay xấu hổ, hay cảm thấy mình là người có tội. Ngài chỉ muốn con ra khỏi nhà tù của cái ta hữu diệt và trở về nhà là vương quốc của ngài để con có thể nhận được sự sống dồi dào mà ngài rất hoan hỉ trao cho con.

Sự thật về các lỗi lầm quá khứ của con – mà quá nhiều tín đồ Cơ đốc gọi là tội lỗi – là con không cần Thượng đế tha thứ. Ngài chỉ muốn con tự do, nhưng để tự do, con phải làm hai chuyện như thày vừa giải thích:

  • Con phải hoàn toàn từ bỏ lời dối nhị nguyên đã khiến con phạm lỗi.
  • Con phải hoàn nguyên tất cả năng lượng mà con đã làm tha hóa qua tin tưởng nhị nguyên của mình, hầu con có thể phục hồi cân bằng của vũ trụ.

Khi con đã làm vậy thì đối với Thượng đế, con hoàn toàn giải thoát khỏi lỗi lầm quá khứ. Ngài sẽ không còn nhớ tội lỗi của con nữa (Hebrews 8:12). Vấn đề là trước khi con có thể cảm thấy mình hoàn toàn giải thoát khỏi lỗi lầm, con phải tha thứ chính con – chính con phải không nhớ tội lỗi của mình nữa. Con phải tha thứ tất cả những ai khác cũng đã bị kẹt giống như con trong cùng khía cạnh này của trạng thái tâm thức nhị nguyên.

Sự tha thứ mà con cần để thoát khỏi lỗi lầm đã qua không phải là sự tha thứ từ Thượng đế, mà từ con. Và để thật sự tha thứ chính mình, con phải tha thứ mọi người khác. Như Giê-su nói: “Con hãy làm cho người khác như con muốn họ làm cho con.”

9.9. Chữa lành quan hệ với chính mình

Con yêu dấu, Giê-su đã và đang là một vị thày tâm linh rất thâm sâu và đầy khả năng. Thày biết rõ rất nhiều lời dạy của thày sẽ bị bẻ cong cho nên thày đã bỏ vào nhiều lời dạy thâm sâu nhất của thày một thông điệp ẩn giấu. Thông điệp này không thể được hiểu bởi những ai bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên, và vì những người như thế không hiểu được thông điệp ẩn, họ không thể tha hóa nó. Nếu con lấy câu nói: “Con hãy làm cho người khác như con muốn họ làm cho con,” thông điệp ẩn có thể được tìm thấy bằng cách hỏi điều đó sẽ làm gì cho con. Ý nghĩa ẩn giấu là những gì con làm cho người khác thì con đã làm cho con rồi. Nếu con giận ai đó, đó là vì con đã chấp nhận một số tin tưởng nhị nguyên về tức giận. Bằng cách đem các tin tưởng này vào bình chứa cái ta, con đã cho phép tinh thần tức giận, tâm thức tức giận, đi vào bản thể con. Điều này có nghĩa là sự tức giận đã ở trong con, và nó nhuộm màu cách con nhìn mọi chuyện, kể cả chính con. Nếu một người giận một người khác, thì người đó – trong tiềm thức – đã giận chính mình và giận Thượng đế.

Nhiều người không nhận diện ra điều này. Họ có thể biết là họ có xu hướng giận người khác, nhưng họ không liên kết được là nỗi giận người khác khởi lên từ nỗi giận chính mình. Nếu con gặp khó khăn tha thứ người khác, điều này cho thấy con chưa tha thứ chính con. Con không thể giải thoát khỏi lỗi lầm quá khứ cho đến khi con tha thứ chính mình về các lỗi lầm này. Nếu con khó lòng tha thứ người khác, con cần soi gương. Con cần tìm cái xà trong mắt con và nhận ra là con có vấn đề với sự không tha thứ, vì con đang cho phép một số tin tưởng nhị nguyên về sự tha thứ tồn tại trong tâm thức con. Đây có thể là tin tưởng rằng nếu có ai làm hại con thì người đó xứng đáng bị trừng phạt. Con sẽ không tha thứ họ cho tới khi con cảm thấy họ đã bị trừng phạt đích đáng. Nhưng quyết định trừng phạt không thuộc về con, vì Thượng đế chẳng nói hay sao: “Sự báo thù thuộc về ta, ta sẽ đền đáp” (Romans 12:19). Ý nghĩa nội tâm là Thượng đế đã tạo ra một định luật khách quan sẽ gửi trả mọi năng lượng tha hóa về người đã gửi nó ra. Tấm gương vũ trụ sẽ tự động “trừng phạt” bất cứ ai làm hành động bất toàn. Quyết định trừng phạt người khác không thuộc về con, việc trừng phạt người khác không can dự gì đến con. Thay vào đó, con hãy quan tâm đến việc tự giải thoát mình khỏi tình huống bất toàn, và con chỉ có thể làm vậy bằng cách tha thứ người khác và tha thứ cho mình.

Tha thứ là thực sự giải thoát mình khỏi một tình huống bất toàn trong quá khứ, giải thoát mình khỏi dính mắc tình cảm với tình huống đó cũng như với những người đã can dự vào tình huống. Nếu có ai đó làm hại con, liệu có hợp lý lắm không nếu con muốn tiếp tục dính mắc tình cảm với họ, và như vậy con cho họ quyền lực trên con? Hiển nhiên là không hợp lý chút nào, và cách duy nhất để con cắt đứt dây nhợ tình cảm là tha thứ họ hoàn toàn về những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Nếu con đã lầm lỗi trong quá khứ, liệu có hợp lý lắm không nếu con cứ muốn duy trì dính mắc tình cảm với những tình huống đó? Tất nhiên là không hợp lý chút nào, nhưng cách duy nhất con có thể giải phóng bản thân khỏi sự ràng buộc với quá khứ là, đầu tiên hết, tha thứ hoàn toàn cho việc mình đã phạm lỗi. Tha thứ là bí quyết của tự do – tự do nhận lấy sự sống dồi dào mà Thượng đế cứ chực cho con bất cứ lúc nào. Con chỉ cần nhận sự sống dồi dào, nhưng để có thể sẵn lòng nhận nó, con phải tha thứ chính mình về những lỗi lầm đã khiến con khước từ sự sống dồi dào trong quá khứ để bước vào vòng xoáy hướng hạ càng ngày càng kéo con xa khỏi sự sống dồi dào, giam con chặt hơn vào tâm thức nhị nguyên.

Thế kẹt lưỡng nan này có thể giữ con trong vòng xoáy hướng hạ một thời gian vô định – hoặc con ở lại với một cực đoan nhị nguyên, hoặc con nhảy từ cực đoan này sang cực đoan kia. Chìa khóa để thoát khỏi tai họa chạy trốn vị Thượng đế bên trong là con phải tái lượng định mối quan hệ của con với Thượng đế. Các nhà tâm lý học hiện đại đã đưa ra nhiều lý thuyết về tâm lý con người và cách nó hoạt động. Tiếc thay, hầu hết các thuyết chính mạch này không bao gồm khía cạnh tâm linh của bản thể con, cho nên không thể cho con một cái hiểu trọn vẹn về chính con. Nhiều chuyên gia sức khỏe tâm thần ngoài mạch hay sức khỏe toàn diện đã đưa ra một số lý thuyết xét đến khía cạnh tâm linh trong bản chất con người. Vấn đề trung tâm trong tâm lý con người là mọi việc trong đời con, mọi điều trong tâm lý con, đều xoay quanh một chuyện và chỉ một chuyện thôi, đó là mối quan hệ của con với Thượng đế. Tất cả mọi thứ xảy ra trong đời con là kết quả của một nguyên nhân sâu xa hơn, và nguyên nhân này là mối quan hệ của con với Thượng đế.

Nếu con lấy bất kỳ vấn đề nào trong tâm lý của con và truy tìm nguồn gốc tận cùng của nó, nguyên nhân tối hậu của nó, nó sẽ đi trở ngược về quyết định đã khiến con quay lưng lại vị thày của con, quay lưng lại Thượng đế. Quyết định này là nguyên nhân gốc rễ của mọi vấn đề của con.

Có thể là có nhiều lớp vấn đề, vì quyết định nguyên thủy của con đã phân nhánh thành nhiều quyết định nhị nguyên. Khi con nhìn bề mặt của tâm lý mình, con có thể thấy nhiều vấn đề riêng rẽ dường như không liên quan gì với nhau. Nhưng nếu con đi xuống các tầng càng ngày càng sâu của tâm lý – và thày có thể cam đoan với con là thày đã đi xuống đáy tận cùng của tâm lý – con sẽ thấy là tất cả các vấn đề khác biệt đều được nuôi dưỡng bởi cùng một cái rễ. Rễ này là quan hệ của con với Thượng đế, cách con nhìn ngài và cách con tương tác với ngài. Cụ thể, tất cả đều quay trở về quyết định đã khiến con quay lưng lại Thượng đế và do đó khước từ món quà miễn phí của ngài là sự sống dồi dào. Hiển nhiên, quyết định đó cũng ngăn con trở về hợp nhất với Thượng đế. Chìa khóa chủ yếu của sự sống dồi dào là phát hiện quyết định đó, quyết định đang ngăn con trở về hợp nhất với ngài, quyết định khiến con có vẻ như không thể hay không muốn tái lập sự hồn nhiên của mình, tái lập cảm nhận kết hợp nội tâm của mình với Thượng đế.

Con yêu dấu, thày đoán là những gì thày vừa nói với con trong chìa khóa này sẽ cần một thời gian để hoàn toàn thấm vào tâm thức của con. Thày không chờ đợi hầu hết mọi người có thể chấp nhận hay thể nhập ngay lập tức những gì thày vừa nói. Thày không chờ đợi hầu hết mọi người có thể phát hiện ngay lập tức quyết định nguyên thủy đã khiến họ quay lưng lại Thượng đế và nhờ vậy giải thoát lập tức khỏi quyết định đó. Nhưng thày chờ đợi là nếu con đã theo học khóa này cho tới điểm này, con sẽ sẵn lòng suy ngẫm những gì thày nói. Con sẽ sẵn lòng đi vào bên trong và tìm câu trả lời từ bên trong chính mình. Nếu con đặt câu hỏi với tâm và tim cởi mở về tính xác thực của những gì thày vừa nói, con sẽ nhận được trả lời. Trả lời này sẽ đến từ một nguồn bên trong con và nó sẽ vượt khỏi mọi nghi ngờ. Nếu con đặt câu hỏi với tâm và tim cởi mở, con sẽ nhận được trả lời từ bên trong, một trả lời mà tâm vỏ ngoài của con không thể nghi ngờ. Trả lời này sẽ đến từ một nguồn là vị cứu tinh đích thực của mỗi người trên trái đất. Trong chương sắp tới, thày sẽ giải thích cho con vị cứu tinh nội tâm này là gì và làm thế nào con có thể học cách tận dụng cái mà Giê-su gọi là “đấng an ủi” và “chìa khóa của hiểu biết.” Con hãy vào với thày để thày tiết lộ cho con vị thày nội tâm này có khả năng thực sự giúp con vạch trần tất cả mọi lời dối của các thày giả phản Ki-tô.

7 | Khắc phục ảo tưởng một Thượng đế nóng giận

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 15/4/2005.

7.1. Con không cần gì từ ngoài để được cứu rỗi

Trái tim yêu dấu của thày, tuyệt đối không có gì ngăn con trở về nhà vương quốc của Cha con. Toàn bộ ý tưởng bảo rằng có gì đứng giữa con và vương quốc Thượng đế là một ảo tưởng. Đó là một ảo tưởng được tạo ra bởi kẻ thù bên trong, cái ta hữu diệt của con, và kẻ thù bên ngoài, ông hoàng của thế gian. Cả hai kẻ thù này đều được lợi khi chúng giữ con kẹt lại trong nhà tù tinh thần của cái ta hữu diệt. Cửa nhà tù này không hề khóa, và ý tưởng bảo rằng cửa bị khóa là một ảo tưởng nhị nguyên.

Nhiều người có thể thấy điểm này đi ngược lại những gì họ đã được dạy để tin theo. Quá nhiều người được dạy dỗ hai ý tưởng khiến họ khó lòng tin được là họ có khả năng trở về vương quốc Thượng đế bất cứ lúc nào. Một trong hai ý tưởng này là quan niệm cho rằng Thượng đế là một Thượng đế nóng giận phán xét đang ngồi trên ngai trên trời, nhìn xuống mọi cử động của con. Thượng đế này sẵn sàng phán xét và lên án con về từng lỗi lầm con mắc phải, thậm chí còn đày con xuống địa ngục nếu con vi phạm các điều răn của ngài.

Quan niệm một Thượng đế nóng giận trên trời đã được một số tôn giáo trên hành tinh này củng cố. Tiếc thay, ngay cả nhiều giáo hội Cơ đốc cũng củng cố hình ảnh giả trá này, thần tượng này, về Thượng đế. Hình ảnh một Thượng đế bên ngoài giận dữ là một tượng khắc do tâm phản Ki-tô dựng lên.

Hình ảnh thứ nhì khiến con khó lòng chấp nhận những gì thày vừa nói ở đoạn trên là quan niệm, được nhiều tôn giáo tăng cường, rằng con cần một cái gì hay một ai đó từ ngoài để có thể được cứu rỗi. Đạo Cơ đốc là một trong những lực chính cổ vũ cho quan niệm này. Nhiều giáo hội Cơ đốc chủ xướng vô cùng mạnh mẽ giáo điều cho rằng Giê-su Ki-tô là con đường duy nhất dẫn đến cứu rỗi và tất cả những ai không theo đạo Cơ đốc sẽ xuống địa ngục. Thày biết họ căn cứ giáo điều này theo một số câu nói của Giê-su, nhưng thày đố con đọc lại Kinh thánh và tìm thấy bất kỳ đoạn nào Giê-su bảo rằng con người vỏ ngoài của Giê-su hay tôn giáo vỏ ngoài là con đường duy nhất đến cứu rỗi. Nếu con xuất thân từ một gia đình Cơ đốc, con sẽ tức khắc nghĩ đến đoạn trích trong Phúc âm Giăng ghi lời này của Giê-su: “TA LÀ con đường, sự thật và sự sống; không người nào đến được với Cha mà không bởi ta” (John 14:6).

Giê-su đã đến để chứng tỏ qua tấm gương của thày là mọi người trên trái đất có khả năng giành lại tâm thức Ki-tô và nhờ vậy trở thành Ki-tô Hằng sống trong hiện thân. Giê-su đã chứng tỏ con đường này bằng cách theo nó đến cùng, nghĩa là gần thời gian sứ mạng của thày hoàn tất, thày hoàn toàn hợp nhất với Tâm Ki-tô Hoàn vũ đến độ khi thày nói lên hai chữ “TA LÀ” thì thày không muốn ám chỉ con người vỏ ngoài trong một cơ thể con người. Cái ta ý thức của Giê-su hoàn toàn đồng hóa với Hiện diện TA LÀ của thày cũng như với Đấng đã sáng tạo ra thày.

Khi thày nói hai chữ “TA LÀ,” thày thực sự muốn nói đến Tâm Ki-tô Hoàn vũ, đến Hiện diện TA LÀ và Thượng đế, đến TA LÀ CÁI TA LÀ. Khi thày nói “TA LÀ,” thày muốn nói đến ý niệm cái ta đã nhập một với bản mẫu thiêng liêng của nó được cất giữ trong Tâm Ki-tô Hoàn vũ, nhập một với cái ta bất diệt của nó, và nhập một với Đấng đã sáng tạo ra nó. Giê-su thật sự muốn nói rằng ý niệm cái ta dựa trên sự hợp nhất chính là con đường, sự thật và sự sống. Không người nào có thể đến được với Đấng Sáng tạo mà không đi qua ý niệm hợp nhất với Thượng đế đi ra từ tâm Ki-tô. Con không thể đến với Thượng đế chừng nào con còn xem ngài là một Thượng đế bên ngoài, một sinh thể giận dữ trên trời. Con chỉ có thể đến với Thượng đế khi con ngộ ra con là một cá thể hóa của Thượng đế, con là một đứa con của Thượng đế, con là chính Thượng đế đang tự biểu đạt qua ý niệm cái ta địa phương của con. Con ngộ ra cái TA LÀ trong con chính là Thượng đế.

Cảm nhận hợp nhất nội tâm này là chìa khóa đích thực của sự cứu rỗi. Điều này đã luôn luôn như vậy và sẽ luôn luôn như vậy. Trải qua các thời đại, con người đã dùng tâm nhị nguyên của phản Ki-tô để tạo ra nhiều tượng khắc về Thượng đế, về chính mình và về con đường đến cứu rỗi. Không có gì con người tạo ra đã thay đổi sự thật cơ bản rằng con đường duy nhất đến cứu rỗi là hợp nhất với Đấng Sáng tạo của mình. Con đường đích thực duy nhất dẫn đến cứu rỗi là cái Ta Biết phải xoay chuyển ý niệm cái ta của nó để nó không còn đồng hóa với cái ta hữu diệt, nó không còn tự xem nó là tách biệt với – và tách rời khỏi – Đấng tạo ra nó. Cái Ta Biết phải thấy nó là một nối dài của Đấng Sáng tạo, và vì vậy nó là một với Đấng Sáng tạo.

Đó mới thật là ý nghĩa câu nói của Giê-su rằng Nước Trời ở trong con (Luke 17:21). Khi con so sánh câu này với lời trích từ Phúc âm Giăng, con sẽ thấy là nếu Nước Trời thật sự ở trong con, thì chẳng có nghĩa lý gì con phải đi qua một nhân vật lịch sử – một nhân vật đã sống 2000 năm về trước – để vào được Nước Trời. Thật chẳng có nghĩa lý gì con phải đi qua một sinh thể thăng thiên mà con có xu hướng đặt ở ngoài con. Điều này không có nghĩa là con không thể vào Nước Trời bằng cách đi qua Chân sư Thăng thiên Giê-su Ki-tô, nhưng con chỉ có thể làm vậy khi con đạt đến một cảm nhận hợp nhất với Giê-su, xem Giê-su như là anh mình, có lẽ ngay cả như một phần lớn hơn của gia đình tâm linh của mình, Cây sự Sống của mình, một phần lớn hơn của chính mình. Thày không đang phủ nhận sự kiện là ngày nay Giê-su đang đảm nhiệm một trách vụ tâm linh trong tư cách đấng Cứu thế của hành tinh, và nhiệm vụ của thày là giúp mỗi người tìm cầu tâm linh bước vào Nước Trời. Một lần nữa, con chỉ có thể làm vậy bằng cách đi qua cảm nhận hợp nhất nội tâm – sự hồn nhiên ngây thơ – là bí quyết thật sự của cứu rỗi.

7.2. Chính con tự phạt mình chứ không phải Thượng đế

Để đạt được cảm nhận hợp nhất này với Đấng Sáng tạo của con, con cần bỏ đi hình ảnh Thượng đế là một sinh thể nóng giận trên trời cứ chực trừng phạt mọi lỗi lầm của con. Con là con của Thượng đế. Ngài đã tạo con ra để con là một người đồng-sáng tạo, ngài đã ban cho con trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Đấng Sáng tạo của con không mong gì hơn là thấy con trở về bản mẫu thiêng liêng nguyên thủy của mình để con có thể là con người mà con được tạo ra để là. Khi con trở về trạng thái ân sủng, trạng thái ngây thơ đó, con sẽ có thể xây dựng thêm cá thể thiêng liêng của mình để trở thành nhiều hơn con người con đã được tạo ra để là. Đấng Sáng tạo thể hiện mong muốn trở nên hơn nữa của Thượng đế, cho nên chính con trong tư cách một người đồng-sáng tạo cũng thể hiện mong muốn trở nên hơn nữa của Thượng đế. Đấng Sáng tạo chỉ có một mong muốn, đó là trở nên hơn nữa. Như một biểu hiện của ý muốn này, ngài đã tạo ra thế giới hình tướng. Như một biểu hiện lớn hơn của ý muốn hơn nữa, ngài đã tạo ra những sinh thể tự nhận biết đồng-sáng tạo để ngài có thể là hơn nữa xuyên qua con. Đấng Sáng tạo của con không mong gì hơn là trở nên hơn nữa xuyên qua con. Ngài chỉ có thể là hơn nữa xuyên qua con khi chính con tự thăng vượt và trở nên nhiều hơn con người mà con được tạo ra để là.

Chừng nào cái Ta Biết xem mình là ít hơn bản mẫu thiêng liêng của con thì Thượng đế không đang là hơn nữa xuyên qua con. Đây không phải là điều ngài muốn thấy xảy ra, như Giê-u đã cố minh họa qua ẩn dụ về các ta-lăng hay vốn liếng (Matthew 25:14). Thượng đế tưởng thưởng những người đồng-sáng tạo đã nhân lên khả năng vốn có của họ, tuy nhiên ngay cả lời ẩn dụ này cũng không hoàn toàn chính xác. Đây không phải là lỗi Giê-su mà là vì chính Giê-su cũng phải diễn đạt theo một cách phù hợp với tâm thức con người thời đó. Điều này thấy rõ qua sự kiện Giê-su giảng dạy cho đám đông qua lời ẩn dụ nhưng thày giải thích những bí ẩn sâu xa hơn cho các tông đồ của thày (Mark 4:34). Thậm chí Giê-su còn nói: “Ta còn nhiều điều nữa để nói với con nhưng con chưa kham được” (John 16:12). Hai ngàn năm về trước, nhân loại vẫn quá kẹt trong tâm thức sợ hãi và tách biệt đến độ họ xem Thượng đế là một Thượng đế bên ngoài. Ẩn dụ của Giê-su về các ta-lăng kể chuyện ông chủ kia tưởng thưởng những đầy tớ đã nhân lên ta-lăng của mình và trừng phạt người đầy tớ đã chôn ta-lăng dưới đất, tượng trưng cho cái ta hữu diệt.

Thượng đế không là kẻ trừng phạt con. Chính con là kẻ đang trừng phạt con vì vũ trụ của Thượng đế vận hành đơn giản như một tấm gương. Nếu con chôn vốn liếng của mình xuống đất của tâm thức nhị nguyên, thì con đang gửi ra vũ trụ thông điệp bảo rằng cuộc sống là một sự vật lộn. Tấm gương vũ trụ phản chiếu lại cho con những cảnh ngộ sẽ xác nhận niềm tin của con rằng cuộc sống là một sự vật lộn. Nếu con chấp nhận hình ảnh Thượng đế là một sinh thể nóng giận phán xét sẽ phạt con mỗi khi con phạm lỗi, thì con cũng phóng hình ảnh này ra gương vũ trụ. Con thử đoán xem tấm gương vũ trụ sẽ phản chiếu gì cho con?

7.3. Tâm tách biệt tạo ra Thượng đế tách biệt

A con yêu dấu, hệ quả của điều thày vừa nói với con cho tới điểm này là khi con bị kẹt trong cái ta hữu diệt, khi con bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên, con trở thành một lời tiên tri tự nó ứng nghiệm. Cái gì con gửi ra sẽ được tấm gương vũ trụ phản chiếu lại cho con. Nếu con cảm thấy mình bị tước đoạt sự dồi dào của Thượng đế, vũ trụ sẽ gửi cho con những cảnh ngộ vỏ ngoài phản ánh niềm tin rằng Thượng đế là ông quản đốc bất công cố tình giữ lại sự dồi dào của cuộc sống.

Qua các thời đại, con người đã bám giữ hình ảnh một Thượng đế bên ngoài nóng giận và phán xét. Khi có chuyện xấu xảy ra cho họ, họ có xu hướng suy luận đây phải là sự trừng phạt của Thượng đế đối với tội lỗi của họ. Với mỗi chuyện xấu xảy ra cho họ, hình ảnh một Thượng đế nóng giận phán xét chỉ tăng thêm cường độ. Hết thế hệ này đến thế kỷ khác, hình ảnh này về một Thượng đế nóng giận đã ăn sâu vào tâm thức tập thể. Một số người đã chấp nhận nó từ quá nhiều kiếp sống đến độ họ vô cùng khó khăn từ bỏ con bê vàng này.

Đấng Sáng tạo thật sự vượt khỏi tạo vật của ngài. Không có một hình ảnh nào trong thế giới hình tướng có thể biểu tượng chính xác cái Tất cả của Đấng Sáng tạo của con. Không có từ ngữ nào có thể mô tả chính xác Đấng Sáng tạo, và hệ quả là không một kinh điển tôn giáo nào có thể đưa ra một lời mô tả trọn vẹn hay hoàn toàn chính xác về Đấng Sáng tạo. Khi con dựng lên bất kỳ hình ảnh nào về ngài, con tự động tạo ra một bức tượng khắc, và qua đó con vi phạm hai điều răn đầu tiên được trao cho Môi-sê (Exodus 20:3-4). Bức tượng khắc của con trở thành Thượng đế giả mà giờ đây con bắt đầu thờ phượng thay vào Thượng đế thực vượt khỏi bất kỳ hình ảnh nào mà bất cứ ai có thể tạo ra, bất kỳ hình ảnh nào có thể được tạo ra qua ngôn ngữ.

Ý nghĩa thật sự của hai điều răn đầu tiên được trao cho Môi-sê là nếu con tạo ra bất kỳ hình ảnh nào về Thượng đế dựa trên nhị nguyên của tâm phản Ki-tô, thì hình ảnh này bắt buộc là một tượng khắc, một hình giả. Hình ảnh nhị nguyên này che khuất Thượng đế thực, cho nên chắc chắn con sẽ bắt đầu thờ phượng một Thượng đế giả do chính con hay người khác tạo ra – có lẽ các thày giả đội lốt chiên. Con thờ phượng một Thượng đế bất di bất dịch, trong khi Thượng đế thực là Dòng sông sự Sống luôn luôn tuôn chảy, luôn luôn thăng vượt chính mình. Thày không ở đây để phá vỡ lòng tin của con vào tôn giáo hay một tôn giáo đặc thù nào. Nếu con là một người tìm kiếm tâm linh chân chính, và nếu con quan tâm đến việc trở về nhà của vương quốc Cha con, con không thể tránh khỏi đạt tới điểm con sẵn lòng chất vấn hình ảnh về Thượng đế mà người ta đã cho con từ tuổi thơ ấu. Con phải sẵn lòng xét xem hình ảnh về Thượng đế do tôn giáo con quảng bá có lẽ đã bị ảnh hưởng bởi tâm phản Ki-tô. Nếu con được dạy dỗ để tin vào hình ảnh một Thượng đế nóng giận và phán xét, thày có thể cam đoan với con là hình ảnh này không những đã bị ảnh hưởng mà còn phát xuất từ tâm phản Ki-tô.

Điều này cũng dễ thấy khi con nhận diện hai sự thật đơn giản. Tất cả mọi thứ được sinh tạo từ chất liệu, từ bản thể của Thượng đế. Con cũng được tạo ra từ bản thể Thượng đế, nghĩa là con là một phần của Bản thể Thượng đế. Con không tách biệt khỏi ngài, con thực là một phần nối dài của ngài. Nếu Thượng đế quyết định trừng phạt con, ngài sẽ trừng phạt chính ngài, và đối với một người có suy nghĩ, liệu điều này có nghĩa lý gì không?

Sự thật thứ nhì là tâm phản Ki-tô dựa trên cảm nhận tách biệt khỏi Thượng đế, ảo tưởng rằng bất cứ thành phần nào của Thượng đế, bất cứ gì do Đấng Sáng tạo hay một người đồng-sáng tạo tạo ra, cũng có thể bị tách rời khỏi nguồn cội của nó. Một khi một sinh thể ý thức chấp nhận ảo tưởng tách biệt, thì sẽ có khả năng sinh thể này tạo ra một tượng khắc của Thượng đế mà y coi là ở bên ngoài y.

Trong Vườn Eden, tất cả các sinh thể tự nhận biết đều hồn nhiên ngây thơ vì họ mang cảm nhận nội tâm mình là một phần của cái gì lớn hơn chính mình. Họ biết họ là một phần của Thân thể Thượng đế, họ biết họ nối kết với một sinh thể lớn hơn, tức Hiện diện TA LÀ. Quan niệm của họ về Thượng đế không phải là một Thượng đế ngoại lai trên trời. Khi còn ngụ trong sự hồn nhiên của Vườn Eden, những người đồng-sáng tạo vẫn biết sự thật vĩnh cửu rằng vương quốc Thượng đế ở bên trong mình. Chỉ sau khi họ quyết định ăn quả trái của hiểu biết về thiện ác thì họ mới rơi vào ảo tưởng mình tách biệt khỏi nguồn cội của mình. Khi họ bắt đầu chấp nhận ảo tưởng tách biệt này, họ không thể xem mình có sự nối kết nội tâm với Thượng đế được nữa. Cảm nhận hợp nhất nội tâm này, trạng thái hồn nhiên này, bị đánh mất, và thay vào đó họ tạo dựng một bức tượng khắc của một Thượng đế bên ngoài. Rồi từ hình ảnh Thượng đế bên ngoài này khởi lên quan niệm một Thượng đế trên trời giận dữ và trừng phạt, một Thượng đế cố sức áp đặt ý chí của mình lên họ để hạn chế tự do sáng tạo của họ.

Trái tim yêu dấu của thày, thày thật sự mong muốn giúp con khắc phục các ảo tưởng đang ngăn cách con khỏi sự sống dồi dào, khỏi vương quốc của Cha con. Để giúp con khắc phục các ảo tưởng này, thày cần giải thích cho con chúng xuất phát từ đâu. Chúng xuất phát từ tâm thức phản Ki-tô xem mình tách biệt khỏi Thượng đế và dùng nhị nguyên của thiện ác tương đối để tạo ra một tượng khắc của Thượng đế che đi Thượng đế thực. Con được sinh tạo từ Bản thể Thượng đế và ngài không mong muốn gì hơn là thấy con trở thành nhiều hơn con người con đã được tạo ra để là, và như thế con trải nghiệm sự sống dồi dào – một sự dồi dào chỉ có thể tìm thấy qua sự tự thăng vượt không ngừng. Thượng đế không bao giờ muốn con bị lạc đường trong sợ hãi, tách biệt và thiếu thốn. Ngài không bao giờ muốn con trải nghiệm đau đớn, khổ ải hay bất cứ gì kém hơn sự dồi dào mà ngài đã hình dung cho con ngay từ đầu. Thày có thể nói với con với sự chắc chắn tuyệt đối của một sinh thể đã vươn lên cao hơn tâm thức nhị nguyên và tái hợp lại với Đấng Sáng tạo, rằng Thượng đế không muốn gì hơn là thấy con cũng vươn lên cao hơn tâm thức nhị nguyên và được tự do biểu đạt cá thể thiêng liêng của mình. Ngài hoàn toàn không muốn trừng phạt con hay giữ con lại trong một trạng thái giới hạn, giữ con lại trong tâm thức nhị nguyên cho dù một giây.

Thượng đế sẽ vui mừng biết mấy thấy con thoát khỏi tâm thức nhị nguyên ngay bây giờ, nhưng vì ngài tôn trọng quyền tự quyết của con, cho nên ngài biết con phải trở về vương quốc của ngài bằng cách thay thế các chọn lựa cũ, các chọn lựa dựa trên nhị nguyên của phản Ki-tô, bằng những chọn lựa xây trên tảng đá của Ki-tô. Ngài không có mong muốn qua mặt tiến trình này, nhưng ngài có mong muốn thấy con hoàn tất tiến trình này càng sớm càng tốt. Thày có thể cam đoan với con là Thượng đế sẽ không bao giờ đặt chướng ngại trên đường con đi, ngài sẽ không bao giờ cản trở để khiến con bỏ ra nhiều thời gian hơn cần thiết hầu hoàn tất tiến trình trở về vương quốc của ngài. Thượng đế không muốn con cảm thấy tội lỗi về những lầm lỡ của mình. Ngài chỉ muốn con thừa nhận các chọn lựa của mình, nhận ra là chúng dựa trên tâm thức phản Ki-tô, rồi thay thế chúng bằng sự thật Ki-tô vốn cho con uy lực chọn lựa tốt hơn. Ngay khi con học xong một bài học nhất định, ngay khi con chọn lựa tốt hơn, ngài sẽ xem con vĩnh viễn giải thoát khỏi các lỗi lầm cũ. Thượng đế muốn con giải thoát để con có thể trở về bản mẫu thiêng liêng của mình và là sinh thể bất tử tuyệt đẹp mà ngài đã sinh tạo. Ngài không muốn nhớ tội lỗi của con nữa (Hebrews 10:17) và muốn chính con cũng không nhớ tội lỗi của con nữa.

Tình yêu của Thượng đế cho con vô điều kiện và ngài đã không tạo ra bất cứ điều kiện nào chia cách con khỏi sự sống dồi dào của tình yêu vô điều kiện của ngài. Trong ngài không có điều kiện nào, không có khác biệt, không có bóng tối hay biến đổi (James 1:17). Nếu trong Thượng đế không có điều kiện thì điều kiện có mặt ở đâu? Chỉ ở một nơi duy nhất là cõi nhị nguyên, nơi tâm thấy mình tách biệt khỏi tình yêu vô điều kiện của Thượng đế. Các điều kiện có vẻ giữ con tách rời khỏi sự sống dồi dào và Nước Trời, không có chút thực tế nào trong tâm thức Thượng đế hay trong tâm Ki-tô. Chúng chẳng là gì khác hơn ảo tưởng, và chúng chỉ tồn tại trong tâm thức phản Ki-tô. Chúng nẩy lên từ tâm thức tách biệt vốn tạo ra điều kiện không thực.

7.4. Cái ta hữu diệt ra đời thế nào

Con hãy suy ngẫm con là một phần nối dài của Bản thể Đấng Sáng tạo. Thượng đế đã tạo ra con vì ngài mong muốn trải nghiệm nhiều hơn xuyên qua con, xuyên qua ý niệm nhận biết địa phương của con. Ngài mong muốn hoàn tất sự sáng tạo thế giới hình tướng từ bên trong thế giới này. Ngài mong muốn trải nghiệm cái đẹp của tạo vật từ bên trong chính tạo vật. Con không tách biệt khỏi Đấng Sáng tạo của con mà con là một nối dài của Đấng Sáng tạo, nhìn thế giới hình tướng từ bên trong thế giới đó và đồng-sáng tạo từ bên trong tạo vật. Thượng đế không muốn con là kém hơn những gì ngài đã tạo ra ban đầu. Ngài muốn là nhiều hơn xuyên qua con – chứ không là ít hơn xuyên qua con. Ngài muốn con thoát ra khỏi nhà tù của cái ta hữu diệt của con và ngài không hề muốn giữ con lại trong nhà tù đó.

Con yêu dấu, nếu con chịu đi vào trong tim và suy nghiệm những gì thày đã từng nói với con nhiều lần trong nhiều bối cảnh khác nhau, tim con sẽ bảo con rằng quả thực thày đang nói sự thật. Khi đó con có thể xem đến câu hỏi hợp lý, ai là kẻ đang tìm cách giữ con kẹt lại trong nhà tù của cái ta hữu diệt? Thày đã cho con câu trả lời rồi đó, cụ thể là kẻ thù bên trong và kẻ thù bên ngoài. Sẽ thật ích lợi nếu chúng ta xem xét kỹ hơn hai kẻ thù này.

Ban đầu con được tạo ra như cái Ta Biết, như bình chứa cái ta và như cái ta bất diệt, Hiện diện TA LÀ của con. Bình chứa cái ta, quả cầu cái ta của con chưa hoàn toàn tràn đầy ánh sáng Thượng đế, và cái Ta Biết có tiềm năng bồi thêm vào đó qua nỗ lực sáng tạo của nó. Quả thực, đúng lý con sẽ làm công việc này, đúng lý con sẽ nhân lên vốn liếng ta-lăng của mình. Khi cái Ta Biết quyết định thử nghiệm trái cây của hiểu biết về thiện ác, tâm thức nhị nguyên, con bắt đầu bỏ vào bình chứa cái ta những nội dung dựa trên tâm thức nhị nguyên. Những nội dung này không có rung động đủ cao hay đủ trong sạch để đi lên tầng cấp cái ta bất diệt của con và được cất giữ trong kho báu tích lũy trên thiên đàng. Chúng không phải là thành quả của việc nhân ta-lăng mà việc chôn ta-lăng dưới đất. Các yếu tố hữu diệt với rung động thấp này giờ đây chồng chất trong phần thấp của bình chứa cái ta, khiến cho toàn bản thể của con kém hơn những gì nó đã được tạo ra để là, kém hơn bản mẫu thiêng liêng của con.

Khi con cứ tiếp tục làm vậy, các yếu tố nhị nguyên này chồng chất, tập hợp thành trọng lượng. Như con cũng biết từ vũ trụ vật chất, bất cứ khi nào có đủ khối lượng tập hợp ở một nơi thì nó bắt đầu tạo ra một trọng lực vượt ra ngoài ranh giới của nó. Hành tinh trái đất có một trường hấp dẫn chung quanh nó, và nó thu hút bất kỳ hạt bụi hay hạt nguyên tử nào có mặt trong không gian, ngay cả một “hạt” to lớn như mặt trăng. Các quyết định và tin tưởng nhị nguyên của con là những hạt bụi tập hợp trong bình chứa cái ta, đến một điểm chúng đạt được khối lượng tới hạn và bắt đầu tạo ra lực hấp dẫn. Lực này lôi kéo cái Ta Biết, và sự chú ý của con càng ngày càng hướng về các yếu tố hữu diệt trong bình chứa cái ta. Con hãy nghiệm xem, có những sự cố hay ngay cả những thói quen suy nghĩ có thể lôi kéo chú ý của con về một số tình huống nhất định, một số người, nơi chỗ hay bất kỳ biểu hiện nào khác của vũ trụ vật chất.

Bây giờ thày sẽ giải thích một điểm vi tế, và một lần nữa tâm vỏ ngoài của con sẽ khó lòng hiểu được, nhưng tim con sẽ có khả năng nắm bắt ý nghĩa bên trong. Mọi thứ được sinh tạo từ Bản thể Thượng đế, tức chính là tâm thức. Mọi thứ đều có tâm thức trong nó. Ngay cả những thứ con người gọi là vật chất vô tri cũng có một trạng thái tâm thức thô sơ nào đó. Tâm phản Ki-tô cũng có tâm thức – đơn giản là tâm thức rung động ở một độ thấp hơn tâm thức Ki-tô, giống như ánh sáng hồng ngoại rung động ở một tần số thấp hơn ánh sáng cực tím vậy. Khi con lấy những quyết định dựa trên tâm thức phản Ki-tô và bỏ thêm nhiều yếu tố hữu diệt vào bình chứa cái ta, thực sự điều con đang làm là mở lối cho tâm thức phản Ki-tô đi vào quả cầu cái ta.

Lúc đầu, các yếu tố nhị nguyên này hình thành một lực hấp dẫn lôi kéo chú ý của con một cách cơ học. Khi tâm thức này tập hợp thêm khối lượng, nó sẽ rốt cuộc đạt trọng lượng tới hạn, qua đó nó không chỉ còn là một tập hợp những quyết định và năng lượng. Thay vào đó, tập hợp những quyết định và năng lượng riêng rẽ này bây giờ biến thành một đơn vị mạch lạc bỗng nhiên khoác vào một tâm thức đặc trưng như một ngã tách biệt. Vào ngay lúc đó, cái ta hữu diệt của con ra đời, là một ý niệm cái ta tách biệt có mặt trong bình chứa cái ta của con.

7.5. Một ngôi nhà phân rẽ vì kẻ xâm nhập ngoại lai

Con đã được tạo ra để là một sinh thể trọn vẹn, tự thân con không mang lực nào đối chọi với nhau, nghĩa là con không chứa đựng điều gì kém hơn sự toàn hảo của tâm Ki-tô. Khi con cho phép những yếu tố phản Ki-tô đi vào bản thể, con đã làm ô nhiễm quả cầu cái ta của con. Khi cái ta hữu diệt ra đời, con đã cho phép sự hình thành của một sinh thể ngoại lai trong quả cầu cái ta. Đây là ý nghĩa thật sự của lời dạy của Giê-su về ngôi nhà bị phân rẽ với chính nó và không thể đứng trong ánh sáng của sự thật Ki-tô. Cái ta hữu diệt chính là yếu tố phân rẽ ngôi nhà, phân rẽ quả cầu cái ta của con và kéo cái Ta Biết xa khỏi sự toàn hảo của bản mẫu thiêng liêng. Điều này khiến con kém hơn chứ không nhiều hơn những gì con đã được tạo ra để là, và chính vấn đề này tước đi sự sống dồi dào khỏi con.

Bình chứa cái ta của con ban đầu chỉ chứa đựng cái Ta Biết và Hiện diện TA LÀ của con. Đây là thiết kế nguyên thủy, và trong khi con biểu đạt quyền năng sáng tạo thì con cũng có thể khuếch trương ánh sáng cho đến khi nó tràn ngập toàn bộ quả cầu cái ta, và con sẽ là Trên sao dưới vậy. Quả cầu cái ta của con không bao giờ được hoạch định để chứa đựng bất cứ gì ngoại lai hay đối nghịch với bản mẫu thiêng liêng. Khi cái ta hữu diệt ra đời, nó hình thành một đối lập cho ý niệm cái ta bất diệt của con, nó hình thành một cái ngã ngoại lai đối với bản mẫu thiêng liêng. Cái ta hữu diệt dựa trên những quyết định lạc điệu với định luật của Thượng đế và cá thể thiêng liêng của con. Các quyết định này tạo ra những hình ảnh nhị nguyên, những tượng khắc che khuất cái ta bất diệt, Hiện diện TA LÀ của con. Khi cái ta hữu diệt tăng thêm sức mạnh thì lực hấp dẫn của nó lôi kéo mạnh hơn, và cái Ta Biết, sự chú ý của con càng ngày càng tập trung vào cái ta hữu diệt đó. Đến một điểm, cái ta hữu diệt trở nên hùng mạnh đến độ cái Ta Biết bắt đầu đồng hóa với nó. Sức mạnh của cái ta hữu diệt được gia tốc cho đến lúc nó thuyết phục luôn cái Ta Biết rằng con là một sinh thể hữu diệt. Điều này xảy ra vì cái ta hữu diệt không còn là một thế lực thụ động nữa mà một kẻ xâm lược đúng nghĩa, đang tìm cách kiểm soát quả cầu cái ta của con bằng cách chi phối người điều khiển quả cầu này, tức là cái Ta Biết. Cuối cùng, cái ta hữu diệt còn có thể khiến con mất đi ký ức về cái ta bất diệt. Lúc bấy giờ, con đã bước xuống cầu thang thấp đến độ con bị mắc bẫy trong bóng tối vỏ ngoài của cái ta hữu diệt và tâm thức phản Ki-tô.

Rắn trong Vườn Eden đã cám dỗ Eva chống lại vị đại diện của Thượng đế. Rắn là một kẻ xâm nhập từ ngoài, một kẻ xâm lược ngoại lai vào khu vườn. Quả thật cái ta hữu diệt của con là một kẻ xâm nhập ngoại lai vào quả cầu cái ta của con, tức khu Vườn Eden cá nhân của con. Do quyền tự quyết, cái Ta Biết có thể quyết định dự phần vào tâm thức nhị nguyên. Thượng đế đã không đem Rắn vào vườn. Sự có mặt của tâm phản Ki-tô là một hậu quả của việc ban cho con quyền tự quyết, nhưng Thượng đế đã đặt con vào một quả cầu được che chở nơi tâm của rắn không có mặt. Tâm thức nhị nguyên có mặt bên ngoài quả cầu đó, và chỉ cái Ta Biết mới có thể mời nó vào bên trong. Con không có nhu cầu làm chuyện này, mà đó là một chọn lựa con đã lấy. Chính con đã mở ra một lối vào mà qua đó kẻ thù bên ngoài đã có thể xâm nhập vào quả cầu cái ta và cài đặt chất độc của lòng nghi ngờ cứ lớn mãi thành cái ta hữu diệt, tức kẻ thù bên trong. Cái ta hữu diệt này là một nối dài của kè thù bên ngoài, y như cái ta bất diệt của con là một nối dài của Đấng Sáng tạo của con.

Cái ta hữu diệt thật sự là một sinh thể riêng biệt, một sinh thể xa lạ đối với mục đích sinh tồn của con. Đó là một sinh thể đã xâm lăng quả cầu cái ta, đối nghịch với mục đích con đã được tạo ra để theo đuổi. Chính cái ta hữu diệt này ngăn con thừa kế vương quốc của Cha con, ngăn con trải nghiệm sự sống dồi dào. Con đường chân chính duy nhất dẫn đến nhiều dồi dào hơn là con phải tách cái Ta Biết khỏi cái ta hữu diệt. Con phải đi mút tiến trình tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt để con không còn đồng hóa với nó nữa. Và để đi mút tiến trình này, con cần trước hết khắc phục ảo tưởng rằng con cái ta hữu diệt.

Cái Ta Biết có khả năng tự đồng hóa với bất cứ gì. Chừng nào nó còn đồng hóa với cái ta hữu diệt, làm sao nó có thể tách ra được đây? Con không thể tách mình ra khỏi chính con, con không thể tách mình ra khỏi cái con xem là chính mình, khỏi ý niệm cái ta của mình. Bước đầu tiên trên hành trình trở về nhà là nhận ra cái ta hữu diệt không phải là một phần của bản thể thực của con. Con cần phải hiểu, chấp nhận và thể nhập sự thật rằng cái ta hữu diệt là một kẻ xâm nhập ngoại lai không bao giờ nằm trong thiết kế của Thượng đế, không bao giờ được trù liệu để là một phần của bản thể con. Khi con ngộ ra trọn vẹn sự thật này, việc tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt sẽ dễ hơn rất nhiều.

7.6. Con sẽ không chết khi cái ta hữu diệt chết

Cái ta hữu diệt của con có một ý niệm bản sắc tách biệt, một tâm thức tách biệt. Nó giống như một kẻ thống trị ngoại bang đi vào nước con, truất ngôi vị vua chính đáng – cái Ta Biết – và tự xưng mình là vua mới. Từ khi nó lên ngôi vua, nó đã cai trị nước con, quả cầu cái ta của con, với bàn tay sắt. Con có thể mường tượng là khi một ông vua xâm chiếm một vương quốc và đã cai trị rất lâu, thì ông ta sẽ không từ bỏ quyền lực và lợi lộc mà không kháng cự. Cái ta hữu diệt của con sẽ không từ bỏ quyền kiểm soát cái Ta Biết mà không kháng cự, và điều cốt yếu là con phải hiểu tại sao lại như vậy.

Cái ta hữu diệt do chính con tạo ra. Nó được tạo ra do con thử nghiệm tâm thức nhị nguyên qua đó con khiến cho năng lượng thuần khiết của Thượng đế khoác lấy một rung động thấp hơn. Nó chỉ có thể tiếp tục tồn tại chừng nào con còn kẹt trong tâm thức nhị nguyên và còn tiếp tế năng lượng cho nó. Ngay cả các dạng sống thô sơ nhất trên trái đất cũng có một bản năng sinh tồn cơ bản. Tương tự như vậy, cái ta hữu diệt cũng có một bản năng sinh tồn. Nó biết rất rõ là nó đã được tạo ra chỉ vì con dự phần vào tâm thức nhị nguyên. Nó thừa biết là nếu con tách mình ra khỏi tâm thức đó thì nó sẽ hết tồn tại.

Tất cả mọi thứ đều là năng lượng, và mọi thứ trong thế giới hình tướng được tạo ra từ năng lượng tâm linh đã được kéo thấp độ rung. Con là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế vì Hiện diện TA LÀ của con hình thành một cánh cửa mở qua đó ánh sáng thuần khiết của Thượng đế có thể chảy vào quả cầu cái ta của con. Xong con điều khiển ánh sáng này để tạo ra hình tướng. Nếu cái Ta Biết tự đồng hóa với Hiện diện TA LÀ, con sẽ thể hiện khả năng sáng tạo của con xuyên qua cái ta bất diệt này. Nếu cái Ta Biết tự đồng hóa với cái ta hữu diệt, con sẽ thể hiện khả năng sáng tạo của con xuyên qua cái ta hữu diệt. Khi ánh sáng Thượng đế chảy qua cái ta hữu diệt, cái ta này sẽ dùng một phần ánh sáng đó để sống còn. Nó chỉ có thể tồn tại chừng nào cái Ta Biết còn cho phép ánh sáng Thượng đế chảy xuyên qua nó.

Khi con tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt và xem nó như một kẻ xâm nhập ngoại lai, con sẽ tức khắc giảm bớt lượng ánh sáng chảy xuyên qua nó. Sẽ vẫn còn một chút ánh sáng chảy xuyên qua nó vì con vẫn còn một số tin tưởng nhị nguyên trong bình chứa cái ta. Khi con loại bỏ các tin tưởng này một cách có hệ thống, con sẽ đạt tới mức cắt đứt tất cả ánh sáng chảy qua cái ta hữu diệt. Một khi con đã loại bỏ mọi tin tưởng nhị nguyên cấu tạo cái ta hữu diệt và cũng cắt đứt dòng chảy ánh sáng xuyên qua nó, cái ta hữu diệt sẽ hết tồn tại. Nó sẽ chết, trong nghĩa đen. Vì nó có một bản năng sinh tồn cho nên nó không muốn thấy chuyện này xảy ra. Nó sẽ chiến đấu cho mạng sống của nó, và cách duy nhất nó có thể duy trì mạng sống là giữ con kẹt lại trong một số tin tưởng nhị nguyên. Cái ta hữu diệt sẽ phóng chiếu vào cái Ta Biết bất cứ gì nó có thể nghĩ tới để con tiếp tục bị dính mắc tình cảm với một số tin tưởng nhị nguyên, hay để ngăn con nhìn thấu ảo ảnh của các tin tưởng này.

Cái ta hữu diệt biết rõ việc ngăn con bước lên một bực cao hơn trên chiếc cầu thang xoắn ốc thật sự là một vấn đề sinh tử đối với nó. Nó sẽ tìm cách gây khó khăn tối đa để con không bước được bước này. Con có thể – bất cứ lúc nào – mở toang cánh cửa nhà tù của cái ta hữu diệt và bước ra ngoài tù. Nhưng nếu con chưa tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt, nó sẽ rất dễ dàng khiến con vướng mắc các tin tưởng nhị nguyên của con. Nếu cái Ta Biết còn đồng hóa với cái ta hữu diệt, cái Ta Biết sẽ tin chắc là nó sẽ chết nếu nó từ bỏ một tin tưởng nhị nguyên, và hiển nhiên con sẽ không thể từ bỏ tin tưởng này.

Để trở về vương quốc Cha con, con phải buông bỏ các ảo tưởng của phản Ki-tô. Và để buông bỏ các ảo tưởng của phản Ki-tô, con phải trước hết tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt cứ muốn giam con lại trong ảo tưởng. Con phải tách mình ra khỏi ảo tưởng vĩ đại nhất cho rằng việc từ bỏ các lời dối của phản Ki-tô có nghĩa là cá thể của con sẽ chết. Con chỉ làm được việc này khi con ngộ ra là cái Ta Biết không phải là cái ta hữu diệt, mà là nhiều hơn cái ta hữu diệt. Đúng vậy, con là một sinh thể tâm linh bất diệt.

7.7. Giây phút sự thật

Để thực hiện đầy đủ bước tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt, sẽ rất ích lợi nếu con hiểu chi tiết hơn cái ta hữu diệt sinh ra như thế nào và làm thế nào nó đã xoay xở để chiếm quyền kiểm soát cái Ta Biết. Khi dòng sống của con lần đầu tiên đi vào hiện hữu, con không được sinh tạo với sự nhận biết toàn diện của Đấng Sáng tạo. Con được trù liệu sẽ gia tăng khả năng tự nhận biết cho đến khi con trở nên ý thức trọn vẹn về nguồn cội và quyền năng sáng tạo của mình, cho đến khi con có thể chấp nhận chính mình là một đứa con trai hay con gái của Thượng đế, như một cá thể hóa của Đấng Sáng tạo. Con được thiết kế để mạo hiểm vào một thế giới có độ ánh sáng thấp, cho nên phần dưới của quả cầu cái ta của con cũng có một độ ánh sáng thấp tương ứng. Con được trù liệu sẽ giúp nâng cao độ ánh sáng trong thế giới vật chất bằng cách nâng cao độ ánh sáng trong quả cầu cái ta của con. Vì độ ánh sáng trong bản thể con còn thấp cho nên phần dưới của quả cầu cái ta chưa phản ánh được phần trên, Hiện diện TA LÀ. Con vẫn có một sự nối kết nội tâm với Hiện diện TA LÀ của con, nhưng đối với tâm vỏ ngoài, thật không hiển nhiên con là một nối dài của Thượng đế. Có xác suất là cái Ta Biết có thể bắt đầu tự xem mình là ít hơn một Sinh thể tâm linh không giới hạn. Một khi con nhân lên ánh sáng trong bản thể con, một khi con bền lòng với một số điều, con sẽ mang lại nhiều ánh sáng hơn vào quả cầu cái ta, và rốt cuộc thì việc con là một nối dài của một Sinh thể tâm linh bất tử trở nên thật hiển nhiên. Và phần dưới của quả cầu cái ta sẽ là một phản ánh của phần trên.

Để giúp con đi qua tiến trình này, con đã được ban cho sự hướng dẫn của một vị thày đầy lòng từ bi. Trong Kinh thánh, vị thày này được nhắc đến như vị Thượng đế của Vườn Eden. Ở một thời điểm, cái Ta Biết quyết định không nghe theo một lời hướng dẫn của thày con, cụ thể là không được ăn trái cây của hiểu biết về thiện và ác tương đối. Khi con thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, càng ngày con càng bước sâu xuống cầu thang xoắn ốc. Thế rồi con trải nghiệm một giây phút sự thật. Giây phút sự thật này xảy đến khi con bước xuống bực thang mà từ đó con không thể nhìn xuyên qua cánh cửa ở trên đầu cầu thang nữa, con không thể nhìn thấy Hiện diện TA LÀ của con nữa. Ngay lúc đó, con ngộ ra là con đã đi xuống quá sâu vào tâm thức nhị nguyên. Con nhận ra là con đã đánh mất sự nối kết trực tiếp với Hiện diện TA LÀ. Con cũng nhận ra là khi con tách rời Hiện diện TA LÀ, con cũng tách rời khỏi vị thày của con và không có cách nào che giấu những gì mình đã làm. Kinh thánh mô tả sự kiện này qua việc Adam và Eva chợt nhận thấy mình trần truồng (Genesis 3:7). Khi họ nhận ra là họ trần truồng, họ cảm thấy xấu hổ.

Trái tim yêu dấu của thày, giây phút sự thật này là một bước ngoặt cực kỳ quan trọng cho dòng sống của con. Câu chuyện Vườn Eden biểu tượng cho những gì xảy ra cho những người đồng-sáng tạo đã cắn vào trái cây hiểu biết thiện ác. Tất cả các sinh thể này rơi xuống tâm thức nhị nguyên, và lúc đầu, hành trình đi xuống diễn ra từ từ đến độ họ không hay biết chuyện gì xảy ra. Rồi đến một điểm, họ không còn nhìn thấy Hiện diện TA LÀ nữa. Họ nhận ra là họ đã mắc bẫy và họ không thể dễ dàng thăng lên trở lại trạng thái hồn nhiên nguyên thủy của mình. Họ cũng nhận ra là mặc dù cho đến nay họ không để ý thấy trạng thái tâm thức của họ, nhưng vị thày thì để ý thấy – vì đối với thày, không có gì họ làm có thể được che giấu.

Ở mức nhận thức này, cái Ta Biết đối mặt với một quyết định trọng yếu, một quyết định sinh tử. Giây phút cái Ta Biết lần đầu tiên quyết định cắn vào trái cây hiểu biết thiện ác là giây phút khởi đầu hành trình đi xuống cầu thang xoắn ốc. Giây phút đó thật ra không phải là giây phút quan trọng nhất cho dòng sống của con. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết cho nên ngài cũng cho con quyền được thử nghiệm với trái cây của hiểu biết thiện ác. Ngài không đặc biệt muốn con làm vậy nhưng ngài sẽ không ngăn cản con làm vậy nếu đó là ý muốn của con. Vị thày đã không bảo con không được phép cắn vào trái cây, mà thày chỉ nói là con sẽ chết nếu con ăn vào.

Điều Thượng đế không muốn chứng kiến là con bị kẹt lại trong tâm thức nhị nguyên vì điều này sẽ có nghĩa cái chết của ý niệm cái ta bất tử của con. Vị thày dư biết là một khi con bắt đầu đi xuống cầu thang xoắn ốc, con sẽ rất khó lòng kéo mình lên trở lại. Bởi vì với mỗi bực xuống thấp hơn, trọng lực sẽ trở nên mãnh liệt hơn, và con sẽ khó khăn hơn leo lên trở lại. Không có gì con làm trong tâm thức nhị nguyên có quyền năng thực sự trên cái Ta Biết, cho nên Thượng đế biết rõ con sẽ không bao giờ bị kẹt vĩnh viễn vào tâm thức nhị nguyên mà không sao đảo ngược. Con luôn luôn có sự chọn lựa leo trở lên. Vấn đề là mặc dù chọn lựa này luôn luôn mở ra, nhưng con phải thấy được nó. Con cũng phải sẵn lòng chọn nó để mà dùng nó. Và tất nhiên, đây thực sự là vấn đề.

Khi cái Ta Biết nhận ra là nó trần truồng, con đối mặt với quyết định trọng yếu hơn cả. Quyết định này là liệu con sẽ quay về với thày của con, thừa nhận những gì mình đã làm và kêu gọi sự giúp đỡ để leo lên trở lại, hay con sẽ chọn trốn tránh vị thày. Câu chuyện của Adam và Eva là câu chuyện của những người đồng-sáng tạo đã chọn trốn tránh khỏi thày mình.

Có rất nhiều người đồng-sáng tạo đã quyết định thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Một số chọn trở về với thày mình và nhờ giúp đỡ để đi trở lên cầu thang. Những ai đã yêu cầu giúp đỡ đều nhận được giúp đỡ trong tình thương yêu tuyệt đối, thuần khiết và vô điều kiện mà Thượng đế dành cho mỗi người đồng-sáng tạo. Họ đã có thể nhanh chóng thăng lên trở lại và lấy lại sự hồn nhiên của họ. Quả vậy, những người đồng-sáng tạo này đã thăng thiên khỏi cõi vật chất và ngày nay là những sinh thể tâm linh bất tử, cư ngụ nơi một cõi cao hơn.

Câu chuyện của Adam và Eva là câu chuyện của những người-đồng sáng tạo đã quyết định không trở lại với thày mình và thú nhận lầm lỗi của mình. Họ không quay trở lại và xin được giúp đỡ. Thay vào đó, họ đã trốn tránh vị thày. Đây là một quyết định trọng yếu. Thượng đế đã ban cho con quyền tự quyết, và cả ngài lẫn bất cứ vị đại diện nào của ngài cũng sẽ không vi phạm quyền đó. Khi con quyết định lẩn trốn khỏi thày, thày không còn tùy chọn nào khác để giúp con. Vị thày không thể ép buộc con quay về và nhờ giúp. Định luật Tự quyết quy định là nếu con trốn tránh thày, thày sẽ không thể đuổi theo con và đối chất con. Nếu con chạy trốn thày, thày sẽ không thể giúp con cho đến khi con quyết định quay đầu và nhờ giúp đỡ. Vị thày phải đứng lui lại và nhìn con dấn xuống sâu hơn trên cầu thang xoắn ốc.

7.8. Vĩnh viễn bỏ lại nhà tù

Đây là quá trình cơ bản đã đưa con đến nơi con đang đứng hôm nay, đến độ con bị tách khỏi vương quốc của Cha con và do đó không trải nghiệm được sự sống dồi dào. Sự tách biệt hiện tại khỏi sự sống dồi dào là do một số chọn lựa chính con đã lấy. Cả Thượng đế lẫn các Sinh thể trên thiên đàng đều không lên án con đã có những chọn lựa như thế. Các thày không mong muốn thấy con tiếp tục bị giam trong các chọn lựa này. Các thày chỉ mong thấy con thoát khỏi các chọn lựa quá khứ để con có thể nhanh chóng bước lên cầu thang xoắn ốc và trở về vương quốc Cha con. Thượng đế không muốn con ở lại trong trạng thái đau khổ và thiếu thốn thêm một giây. Ngài muốn cho con sự sống dồi dào vì ngài rất vui lòng ban cho con vương quốc của ngài. Ngài chỉ đơn giản muốn con tách mình ra khỏi cái ta hữu diệt, ngài muốn con khám phá cánh cửa của nhà tù thế phàm và nhìn ra là cửa này không khóa. Ngài muốn con mở cửa đó ra và bước ra ngoài ánh sáng rực rỡ của Mặt trời Hiện diện TA LÀ của con, hầu con thấy và chấp nhận cái Ta Biết là nhiều hơn cái ta hữu diệt.

Không phải Thượng đế đang cố giữ con lại trong sự xấu hổ hay sự phủ nhận các chọn lựa đã qua của con, mà đó là cái ta hữu diệt cùng ông hoàng của thế gian đang cố giam con chặt trong các chọn lựa này. Chúng tìm cách khiến con tin rằng chính do các lỗi lầm quá khứ mà con không thể quay về với thày con, không thể thừa kế vương quốc của Cha con.

Trước khi con có thể lấy quyết định bước ra ngoài nhà tù của con người phàm, con phải nhận diện một cách ý thức tại sao con đã quyết định quay lưng lại vị thày. Con phải giải thể một cách ý thức quyết định mà con đã lấy rất lâu về trước. Chỉ khi nào con đã tháo gỡ quyết định này thì con mới giải thoát hoàn toàn khỏi cái ta hữu diệt. Có thể con vẫn còn một vài yếu tố của cái ta hữu diệt trong bình chứa cái ta mà con sẽ phải làm sạch, tuy nhiên khi con giải thể quyết định nguyên thủy đã khiến con quay lưng lại thày mình, ngay lúc đó cái ta hữu diệt sẽ mất uy quyền trên con. Nó sẽ giống như một ông vua ngồi trên ngai vàng ra lệnh oang oang nhưng chẳng có ai xung quanh nghe theo.

Quả thật, những gì thày vừa nói với con có thể được xem là bí mật của cuộc sống. Điều giữ con kẹt lại trong một trạng thái thiếu thốn và đau khổ là quyết định nguyên thủy đã khiến con quay lưng lại vị thày tâm linh của con, quay lưng lại Hiện diện TA LÀ của con, quay lưng lại Đấng Sáng tạo ra con. Từ quyết định nguyên thủy này đã nẩy lên vô số quyết định khác dựa trên tâm thức nhị nguyên. Những quyết định này giống như nước bẩn đổ đầy bồn tắm. Quyết định nguyên thủy quay lưng lại vị thày là cái nút đang giữ nước bẩn trong bồn không thoát ra được. Một khi con gỡ nút lên, tất cả nước dơ sẽ bắt đầu chảy đi. Nếu con cứ để nút tại chỗ, con sẽ phải múc nước bẩn ra từng thìa một. Thày không bảo là con không thể làm vậy để rốt cuộc con tìm ra cái nút trong bồn tắm. Nhưng sẽ chẳng dễ hơn rất nhiều hay sao nếu con bỏ công gỡ cái nút của cái ta hữu diệt?

Trong chương kế tiếp, thày sẽ giúp con khám phá cái quyết định nguyên thủy này. Mặc dù con có thể mất chút thời gian để tìm thấy nó, nhưng trong khóa này thày sẽ cho con những dụng cụ để con vạch trần quyết định chết người đó. Quyết định này có nghĩa cái chết của ý niệm bản sắc tâm linh của con và sự chào đời của ý niệm bản sắc hữu diệt. Nó có nghĩa cái chết của con như một sinh thể tâm linh và sự chào đời của con như một người phàm.

Quyết định này thực sự tượng trưng cho một thế kẹt lưỡng nan về mặt tâm linh, vì chính quyết định này ngăn cản con tái sinh. Chính quyết định này ngăn con cho phép cái ta hữu diệt chết đi trên thập tự giá. Chính quyết định này ngăn con thoát khỏi nanh vuốt của tâm phản Ki-tô. Chính quyết định này trao cho ông hoàng của thế gian một cái gì đó trong con để y tiếp tục kiểm soát con. Thày hy vọng con có thể thấy được tầm quan trọng của việc phơi bày quyết định này, và thày mong con sẽ đọc chương kế tiếp với ít nhất sự phấn khích mà thày cảm được sau khi dẫn con tới điểm con sẵn sàng nhận được lời dạy này. A con yêu dấu, thày ao ước có thể giúp con cảm được là con đường hướng thượng thật tràn đầy hứng khởi, và do đó nó thật đáng công lao bỏ ra. Mỗi lần con bước lên một bực cao hơn trên cầu thang xoắn ốc, con thu được một chiến thắng quan trọng. Sự kiện con đã theo khóa học này cho tới điểm này tự nó đã là một chiến thắng rồi, vì mỗi chìa khóa thày cho con đều được thiết kế để dẫn con lên nhiều bực thang.

Liệu con sẽ chẳng mở tim ra đón nhận cảm giác chiến thắng và ngộ ra là con đang đứng trên ngưỡng cửa, chực bước ra ngoài nhà tù của cái ta hữu diệt để vĩnh viễn bỏ lại đằng sau ảo tưởng rằng con bị giam trong nhà tù đó, không có đường nào khác hơn là con đường đi xuống? Con hãy tự cho phép mình cảm thấy lòng hứng khởi cùng niềm vui mà thày cảm thấy khi thày ở bên con, là niềm vui mà tất cả anh chị của con nơi thiên đàng cảm thấy vì con đã chọn vươn mình lên tới mức sẵn sàng bước qua cánh cửa nhà tù, bước xuyên qua tấm màn năng lượng – tức là cái ác [energy veil viết tắt là e-vil] – đang chia cách con với các thày. Các thày mong mỏi được nhìn thấy con. Một lần nữa, lại là sự trọn vẹn mà con sẵn là. Các thày cầm giữ niệm tinh khôi cho con, nhưng các thày mong mỏi thấy con giữ lấy niệm tinh khôi này cho chính con.

5 | Một cái nhìn kỹ hơn về cái ta

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 14/4/2005.

5.1 Con là một quả cầu nhỏ trong quả cầu lớn

Trái tim yêu dấu của thày, đã đến lúc chúng ta cần nhìn kỹ hơn xem con thực sự là ai, nhìn cái Ta của con kỹ hơn. Trước đây, thày có nói là con được sinh tạo từ Bản thể Thượng đế. Thày nói rằng nguồn gốc bản sắc của con, nguồn gốc cái Ta của con, là sự nhận biết thuần khiết. Từ nhận biết thuần khiết này, cá thể của con được hình thành, và đây là điều có thể gọi là cái Ta Biết hay cái ta ý thức. Cái Ta Biết này là điều cho con cảm nhận là con hiện hữu, và con hiện hữu như một sinh thể riêng biệt. Cảm nhận hiện hữu là một trạng thái nhận biết rất thuần khiết và phổ quát, và thật sự nó không mang một đặc tính cá nhân nào. Ở cốt lõi của nhận biết này là cảm nhận con hiện hữu như một thành phần của một tổng thể rộng lớn hơn, nhưng nhận biết của con lại tập trung vào một điểm đặc thù trong tổng thể đó. Thay vì con có tầm nhận biết bao trùm tất cả của Đấng Sáng tạo ra con – mà chúng ta có thể nói đang đứng ngoài tạo vật nhìn vào trong – thì con có một nhận biết cục bộ, địa phương. Con ở trong tạo vật, nhìn tạo vật từ bên trong, từ một vị trí quan sát nhất định bên trong tổng thể.

Chúng ta có thể so sánh điều này với điều thày đã đề cập trước đây về quá trình tạo dựng thế giới hình tướng. Đấng Sáng tạo rút mình khỏi một không gian nhất định và tạo ra một khoảng trống không. Ngài co mình lại thành một điểm dị biệt (singularity). Công việc của Đấng Sáng tạo là lấp đầy khoảng trống không, trước tiên qua việc định ra một quả cầu đứng riêng biệt với khoảng trống không, do chứa đựng một chút ánh sáng. Quả cầu này trở thành vũ trụ vĩ mô (macrocosm). Trong quả cầu này Đấng Sáng tạo hiện diện hằng thường, tuy nhiên giờ đây ngài rút mình từ một quả cầu nhỏ hơn và co lại thành một điểm độc nhất. Điểm này trở thành cái Ta Biết và quả cầu thì trở thành bình chứa cái ta của con, quả cầu cái ta của con. Con là một quả cầu bên trong quả cầu lớn hơn của tâm thức Đấng Sáng tạo, con là vũ trụ vi mô (microcosm) trong vũ trụ vĩ mô của Đấng Sáng tạo của con. Nhiệm vụ của con là nhân lên những gì con đã được Thượng đế phú cho con, nhân lên khả năng và vốn liếng của mình, để con có thể cai quản – trước hết cai quản quả cầu cái ta tức là vũ trụ vi mô, sau đó cai quản quả cầu lớn hơn tức là vũ trụ vĩ mô, có nghĩa là vũ trụ vật chất. Khi con đã cai quản quả cầu cái ta của con, đổ đầy nó với ánh sáng thuận theo các định luật của Thượng đế, con sẽ trở thành một sinh thể Ki-tô (Christed being), một sinh thể tâm linh bất tử. Điều này sẽ cho con uy lực để cai quản trái đất, thị hiện trong cõi vật lý vương quốc của sự sống dồi dào của Thượng đế. Con sẽ là ở dưới này tất cả những gì con là ở Trên – con sẽ là “Trên sao dưới vậy”. Điều này, và chỉ có điều này, mới đem lại vương quốc Thượng đế xuống trái đất.

Cái Ta Biết thật sự là cốt tủy của bản sắc cá nhân của con, tuy vậy nó là một trạng thái nhận biết thuần khiết. Nó có một nhận biết cá nhân nhưng nó không có những đặc tính cá nhân. Nó không thể tự biểu đạt trực tiếp trong thế giới hình tướng. Để tự biểu đạt, nó phải có một cá thể, một ý niệm bản sắc mà qua đó nó có thể biểu hiện. Một lần nữa, con hãy so sánh với chiếc máy chiếu phim. Nếu trên máy chiếu không có cuộn phim nào thì nó chỉ chiếu được lên màn hình một hình vuông ánh sáng màu trắng. Nó cần một cuộn phim để có thể chiếu ra những hình ảnh cụ thể sẽ làm dấy động và khiến cho Ánh sáng Mẫu-Vật khoác lấy hình tướng. Giống như một máy chiếu phim có thể chiếu ra hình ảnh xuyên qua bất cứ cuộn phim nào, thì cái Ta Biết cũng có khả năng tự biểu đạt xuyên qua bất kỳ ý niệm bản sắc nào. Cái Ta Biết có thể tự đồng hóa với – và nó có thể tự đồng hóa như – bất cứ gì nó muốn. Nhiệm vụ của cái Ta Biết là xây dựng ý niệm bản sắc của nó, và Thượng đế đã cho con tự do hoàn toàn để chọn lựa tùy theo trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con. Thượng đế đã cho con quyền tự do “đặt tên” bản sắc của con, thậm chí đặt tên cả cho mọi thứ trên địa cầu tùy theo ý niệm bản sắc của con (Genesis 2:19).

Cái Ta Biết không khởi sự như một tờ giấy trắng. Nó có một nền tảng để từ đó xây dựng ý niệm bản sắc của nó, cụ thể là cá thể thiêng liêng neo trụ trong Hiện diện TA LÀ của con. Hiện diện TA LÀ của con ngụ thường hằng nơi những rung động cao hơn ở cõi tâm linh, và cá thể của nó không thể nào biểu hiện trực tiếp trong vũ trụ vật chất. Cá thể của nó chỉ có thể được biểu đạt khi cái Ta Biết dùng cá thể này để xây dựng một ý niệm bản sắc giống như cuộn phim trong máy chiếu phim.

Quả cầu cái ta của con có một phần cao và một phần thấp. Phần cao ngụ nơi cõi tâm linh và chứa đựng Hiện diện TA LÀ của con. Phần thấp rung động trong quang phổ tần số của vũ trụ vật chất, và chính qua phần thấp này mà con tự biểu đạt trong thế giới vật chất. Con hãy so sánh với con số “8”, hình số tám. Phần trên hình số tám ở cõi tâm linh, phần dưới ở trong cõi vật chất, và cái Ta Biết thì ở giữa, ngay điểm gặp gỡ, điểm eo. Chốc nữa thày sẽ cho con lời dạy chi tiết hơn về phần thấp của quả cầu cái ta của con, nhưng ngay bây giờ khái niệm quan trọng là cái Ta Biết điều khiển ánh sáng của Hiện diện TA LÀ để ánh sáng chảy xuyên qua một ý niệm bản sắc mà nó xây dựng. Ý niệm bản sắc này có thể dựa trên bất cứ gì cái Ta Biết đã cho phép đi vào phần thấp của quả cầu cái ta. Con có thể xây dựng ý niệm bản sắc này trên tảng đá của Ki-tô, tức cá thể neo trụ nơi Hiện diện TA LÀ, hay trên cát lún của tâm thức nhị nguyên.

Đây là tại sao cái Ta Biết có khả năng trở thành nhiều hơn hay ít hơn những gì con đã được sinh tạo. Con có thể hoặc khuếch trương cá thể mà Thượng đế đã ban cho con, hoặc xây dựng một bản sắc kém hơn những gì ngài hình dung cho con. Con có quyền tự do chọn bất cứ gì, nhưng con sẽ không tránh khỏi trải nghiệm những gì con đã chọn. Con sẽ nhìn thấy thế giới qua phin lọc của ý niệm bản sắc mà con xây dựng, và con sẽ tự biểu đạt theo bản sắc này. Bản sắc của con sẽ định đoạt những gì con phóng chiếu vào tấm gương vũ trụ, và tất nhiên điều này sẽ định đoạt những gì được phản chiếu cho con.

5.2. Con có quyền chọn cái ta của con bất cứ lúc nào

Vậy chúng ta có ba khía cạnh của bản thể con. Chúng ta có phần cao của quả cầu cái ta, và phần này được lấp đầy bởi Hiện diện TA LÀ của con. Cái ta tâm linh này chứa đựng bàn mẫu thiêng liêng của con, là cá thể do Đấng Sáng tạo của con quy định và được ghi lại mãi mãi trong Tâm Ki-tô Hoàn vũ. Sau đó chúng ta có cái Ta Biết, nằm ngay điểm eo giữa hai phần cao và thấp của quả cầu cái ta. Và chúng ta có phần thấp của quả cầu cái ta, là phần cái Ta Biết sử dụng để tự biểu đạt trong thế giới vật chất. Trong phần thấp này có ý niệm bản sắc của con cư ngụ, là cuộn phim qua đó con phóng chiếu hình ảnh lên màn hình của cuộc sống, lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Tương tự như khoảng trống không, phần thấp bình chứa cái ta của con vẫn chưa đầy khi dòng sống của con bước vào hiện hữu. Vẫn còn chỗ trống, và nhiệm vụ của con chính là khiến nó đầy. Vấn đề đặt ra là con – nghĩa là cái Ta Biết – sẽ cho phép những gì đi vào bình chứa cái ta? Thượng đế đã cho con tự do hoàn toàn để chọn cách mình sẽ xây dựng ý niệm bản sắc của mình như thế nào.

Quyền tự do này là cơ hội tuyệt hảo để con trở thành nhiều hơn những gì con được sinh tạo, để xây dựng trên nền tảng mà Thượng đế đã thiết lập, để là nhiều hơn một con rô-bốt. Con làm được vậy bằng cách thể hiện ý niệm cái ta của mình trong thế giới hình tướng. Bằng cách diễn đạt khả năng sáng tạo của mình và chứng kiến kết quả, con bồi thêm nội dung cho bình chứa cái ta. Khi con làm vậy trong sự hòa hợp với định luật Thượng đế, con sẽ chỉ bồi đắp những yếu tố bền vững, bất diệt vào bình chứa cái ta. Những yếu tố này con có thể chuyển lên phần trên của quả cầu cái ta, và chúng được lưu trữ trong tâm Ki-tô – mà Giê-su từng gọi là kho báu của con tích lũy trên thiên đàng (Matthew 6:20).

Vì con có quyền tự quyết, con cũng có thể dùng khả năng sáng tạo của mình theo một cách lạc điệu với định luật cùng ý định sáng tạo của Thượng đế. Khi con làm vậy, con cũng sẽ bỏ thêm gì đó vào bình chứa cái ta nhưng cái này sẽ ở lại trong phần thấp của quả cầu. Con bỏ vào những yếu tố hữu diệt không có tồn tại vĩnh cửu. Vì vậy mà con có thể tạo ra một cái ta hữu diệt, một ý niệm cá thể kém hơn những gì Thượng đế đã cho con khi dòng sống của con lần đầu tiên bước vào hiện hữu.

Cốt lõi của bản sắc con, cái Ta Biết, độc lập với những nội dung có mặt hay không có mặt trong bình chứa cái ta. Cái Ta Biết có thể tồn tại độc lập với cái ta bất diệt lẫn cái ta hữu diệt, có nghĩa đó là một trạng thái nhận biết thuần khiết hoàn toàn tự đủ. Về việc biểu đạt khả năng sáng tạo của con trong thế giới hình tướng, cái Ta Biết không thể làm chuyện này một mình. Để tự biểu đạt, cái Ta Biết phải để cho ánh sáng của nó rọi chiếu qua nội dung bình chứa cái ta, vì chính nội dung này sẽ định đoạt những hình ảnh được chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Cái Ta Biết là một trạng thái nhận biết thuần khiết tự biểu đạt xuyên qua một ý niệm cái ta đang có mặt trong quả cầu cái ta của nó. Cái Ta Biết có thể biểu đạt qua cái ta bất diệt hay cái ta hữu diệt, tùy theo con đồng hóa với cái ta nào vào lúc đó.

Vì cái Ta Biết có thể tồn tại độc lập với cái ta bất diệt hay cái ta hữu diệt, có thể nói là nó không có ý niệm cá thể cố định nào, ý niệm bản sắc cố định nào. Cái Ta Biết là Bản thể thuần khiết của Thượng đế tập trung vào con như một sinh thể cá biệt, nhưng nó có tiềm năng đồng hóa với bất cứ gì. Nó được tạo ra như một thái cực đối với cái ta bất diệt của con, nhưng nó có thể đồng hóa với bất cứ gì nó chọn, kể cả cái Tất cả của Bản thể Thượng đế, cái ta bất diệt của con, cái ta hữu diệt của con hay bất cứ gì khác trong thế giới hình tướng. Cụ thể, nó có thể tự đồng hóa là một hòn đá nếu nó chọn như vậy. Cái Ta Biết là trụ sở của quyền tự quyết của con, trụ sở của khả năng chọn lựa của con. Con là những gì con xem mình là, con là những gì con chọn mình là – và con có thể thay đổi chọn lựa này bất cứ lúc nào.

Cái Ta Biết phải tự biểu đạt xuyên qua một ý niệm cái ta nào đó, một ý niệm bản sắc cá nhân nào đó. Như thày vừa trình bày qua phúng dụ máy chiếu phim, phải có một cuộn phim để ánh sáng có thể rọi qua hầu có những hình ảnh khác biệt được chiếu lên màn hình. Hình ảnh trên cuộn phim là các đặc tính cá nhân, các tin tưởng và hình ảnh về bản thân có mặt trong bình chứa cái ta. Cái Ta Biết giống như người điều khiển máy chiếu quyết định cuộn phim nào được đặt vào máy. Con đã được sinh tạo như một cái ta bất tử, và con có thể bồi đắp cho cái ta bất tử này bằng cách biểu đạt chính mình qua những hình ảnh đồng điệu với quy luật Thượng đế. Nhưng ở một thời điểm trong quá khứ, cái Ta Biết đã quyết định thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, và nó đã cắn vào quả trái của hiểu biết về thiện ác. Khi nó làm vậy thì nó đã bỏ vào bình chứa cái ta một số nội dung, và nội dung này thì dựa trên “sự thật” tương đối khởi lên từ tâm phản Ki-tô.

Lúc đầu, các yếu tố nhị nguyên không đến nỗi ảnh hưởng biểu đạt sáng tạo của con hay cảm nhận mình là ai. Chúng chưa thể che khuất hay làm lu mờ cái ta bất diệt của con. Nhưng khi con cứ tiếp tục thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, con càng ngày càng bỏ thêm nhiều nội dung hữu diệt vào bình chứa cái ta, và lần hồi chúng bắt đầu che phủ cái ta bất diệt. Điều này khiến con trở thành một ngôi nhà phân rẽ với chính nó, xong khi con ngày càng phân rẽ hơn, cái Ta Biết bắt đầu đặt trọng tâm nhiều hơn vào ý niệm cái ta nhị nguyên. Điều này củng cố cho cái ta hữu diệt và bồi thêm nhiều nội dung nhị nguyên hơn nữa. Tất cả trở thành một vòng xoắn ốc hướng hạ, rốt cuộc dẫn đến một điểm tới hạn khi cái Ta Biết quyết định là, quả thực, mình là một sinh thể thế phàm hữu diệt thay vì một Sinh thể tâm linh bất diệt đang tự biểu đạt qua một hình tướng hữu diệt.

5.3. Con ở trong Nước Trời ngay lúc này

Cái Ta Biết sẽ luôn luôn là cái gì nó nghĩ nó là. Bất cứ lúc nào, cái Ta Biết cũng có thể lấy quyết định thay đổi ý niệm bản sắc của nó. Cái Ta Biết là sự cá thể hóa (individualization) của Bản thể Thượng đế, và Thượng đế đã tiết lộ cho Mô-sê tên gọi: “Ta sẽ là cái Ta sẽ là,” có nghĩa là Thượng đế giữ quyền thăng vượt chính mình mọi lúc và bất cứ lúc nào. Tương tự như thế, con cũng có quyền thay đổi bản sắc của con bất cứ lúc nào, và con có quyền tự thăng vượt hay tự thoái hóa.

Con có thể đã xây dựng một cá thể rất công phu phức tạp dựa trên các hình ảnh và tin tưởng nhị nguyên. Con có thể đã đồng hóa với cái ta hữu diệt đó suốt nhiều kiếp trước. Con có thể đã quên mất mình là một sinh thể tâm linh, mình có một cái ta bất diệt. Thậm chí con có thể tin rằng con không có cách chi thay đổi được ý niệm cái ta của mình hay vượt xa hơn cái ta hữu diệt. Bí ẩn thực sự của cuộc sống là, bất cứ lúc nào, con – nghĩa là cái Ta Biết – là cái con nghĩ con là. Bất cứ lúc nào con cũng có quyền năng xoay chuyển cảm nhận mình là ai. Ngay lúc này đây, con có sức mạnh của quyền tự quyết để quyết định một cách ý thức là con không còn tự đồng hóa với một sinh thể thế phàm hữu diệt nữa, mà con chấp nhận sự thật con là một sinh thể tâm linh bất diệt chỉ đang tạm thời biểu đạt chính mình qua một hình dạng hữu diệt.

Có một sự phân biệt vi tế ở đây. Thày đã nói với con về khái niệm đường tu và thày đã so sánh với một cầu thang hình xoắn ốc. Cầu thang xoắn ốc có nhiều bực riêng biệt, mỗi bực tượng trưng cho một quyết định dựa trên tâm thức nhị nguyên. Khi con đi xuống một bước, con đã lấy quyết định chấp nhận một lời dối nhị nguyên nào đó và bỏ nó vào nội dung bình chứa cái ta của con, con biến nó thành một thành phần của cái ta hữu diệt của con. Điều này chuyển đổi cái ta đi chút xíu, và con rời xa hơn cái ta bất diệt, con dấn sâu hơn vào cái ta hữu diệt. Để đi lên cao hơn bực thang đó, con phải nhìn thấu ảo tưởng nhị nguyên đó và quyết định bỏ nó lại đằng sau, bằng cách chấp nhận sự thật của Ki-tô sẽ thay thế lời dối của phản Ki-tô, và như vậy con thoát khỏi ảo tưởng.

Hầu hết mọi người trên trái đất đã bước xuống nhiều bực trên chiếc cầu thang dẫn vào tâm thức nhị nguyên. Từ vị trí con đang đứng, thật không có đường tắt nào sẽ đưa con trở lên ý niệm cái ta bất diệt bằng một bước nhảy duy nhất. Không có cách nào mà tránh né tiến trình thay thế các chọn lựa nhị nguyên bằng chọn lựa dựa trên tảng đá của tâm thức Ki-tô. Làm như vậy sẽ tước đi quyền tự quyết của con và cắt ngang toàn bộ mục đích của sáng tạo, cụ thể là con tăng triển qua các chọn lựa mà con lấy. Nếu con đã bước xuống một số bực thang trên cầu thang xoắn ốc, con chỉ có thể đi lên bằng cách bước lên từng bực và thay thế ảo tưởng mà bực này tượng trưng bằng sự thật Ki-tô. Con phải làm điều này qua những chọn lựa ý thức mà chỉ có con mới có thể lấy.

Mỗi bước con đã đi xuống cầu thang xoắn ốc tượng trưng cho một lời dối nhị nguyên mà con đã bỏ vào bình chứa cái ta. Các lời dối này đang nằm trong bình chứa đó và chúng sẽ nằm yên ở đó cho tới khi con giải quyết chúng qua những chọn lựa tốt hơn. Cái Ta Biết có một nhận biết độc lập so với nội dung bình chứa cái ta. Ngay lúc này, con có thể chọn tái nối kết nhận biết ý thức của mình với cảm nhận thuần khiết của Bản thể con, với ý niệm nhận biết thuần khiết, với ý niệm cái ta thuần khiết mà con vốn thực là. Ý niệm cái ta thuần khiết của con đã không hề biến đổi khi con chọn tạo ra một cái ta hữu diệt và tạm thời đồng hóa với nó. Ý niệm cái ta thuần khiết của con vẫn hiện hữu trong dạng nguyên thủy của nó, và con có khả năng xoay chuyển ý niệm bản sắc để rời xa cái ta hữu diệt về hướng cái ta bất diệt. Đây là ý nghĩa thực trong lời dạy của Giê-su rằng một người phải tái sinh về mặt tâm linh, phải tái sinh trong Tánh linh (John 3:5) để có thể bước vào Nước Trời.

Mọi thứ đều được tạo thành từ chất liệu của Thượng đế, từ Bản thể của ngài. Đấng Sáng tạo ở trong mọi thứ đã được tạo thành, mọi thứ trong thế giới hình tướng. Thượng đế ở ngay đây với con ngay lúc này, ngài có mặt ở mọi nơi, và do đó vương quốc Thượng đế thực sự đang ở đây với con. Nếu con sẵn lòng, con có thể xoay chuyển ý niệm cái ta của con, ý niệm bản sắc của con, để chấp nhận con đang ở trong Nước Trời rồi, ngay lúc này. Điều này sẽ không lập tức thay đổi nội dung bình chứa cái ta. Cũng không có nghĩa là con có thể lập tức thể hiện trong thế gian này cái ta bất diệt của con, cá thể thiêng liêng của con. Con vẫn mang cái ta hữu diệt, cá thể người phàm đang che mờ cá thể thiêng liêng của con. Con vẫn phải đi qua tiến trình vứt bỏ, một cách quy củ, các lời dối nhị nguyên đang cấu thành cái ta hữu diệt hầu con có thể tỏ lộ cái ta thiêng liêng của mình.

Nhưng khi đi qua tiến trình này, con không phải tiếp tục đồng hóa với cái ta hữu diệt. Con không phải tiếp tục nghĩ rằng, một cách nào đó, con không xứng đáng hay không có khả năng bước vào vương quốc Thượng đế vì con có cái ta hữu diệt này. Con không cần phải cảm thấy mình bị đày khỏi Nước Trời, đày khỏi Vườn Eden, và mình sẽ không thể bước vào Vườn cho tới khi mình sạch hết cái ta hữu diệt. Khi Giê-su nói rằng Nước Trời ở trong con, thày thực sự muốn nói Nước Trời là một trạng thái nội tâm, một trạng thái tâm thức. Thày muốn nói Nước Trời sẽ biểu hiện trong đời con khi cái Ta Biết tự đồng hóa ở trong Nước Trời. Ý niệm bản sắc này độc lập với nội dung bình chứa cái ta. Con có khả năng dời chuyển ý niệm cái ta xa khỏi một con người thế phàm bị tước mất sự sống dồi dào, bị chia cách khỏi Nước Trời. Con có khả năng xoay chuyển ý niệm cái ta và chấp nhận mình là một sinh thể tâm linh, và không gì trong thế gian này có thể lấy đi bản sắc thực của mình. Con có thể chấp nhận là con đang ở trong Nước Trời ngay lúc này.

5.4. Mất cái ta hữu diệt, con được cái ta bất diệt

Con là một người tìm cầu tâm linh, và con vẫn biết con là nhiều hơn xác thân vật lý của con. Có một sinh thể lớn hơn, mà hầu hết mọi người đều gọi là linh hổn nhưng thật ra là cái Ta Biết. Cái Ta Biết tạm thời mặc vào cơ thể vật lý giống như thân con mặc vào một chiếc áo choàng. Cái ta hữu diệt mà con đã tạo ra có thể so với thân thể vật lý của con. Nó không phải là cái ta thực của con y như thân thể không thực là con. Nó chỉ đơn giản là một chiếc áo choàng mà cái ta thực của con đang mặc ngay lúc này. Con không thể lập tức vứt bỏ cái ta hữu diệt đó đi vì nó phải được giải thể từng bước một, từng quyết định một. Nhưng con có thể lập tức vứt bỏ ý niệm rằng con bị giam cầm, bị kẹt cứng trong cái ta hữu diệt. Bất cứ lúc nào con cũng có thể quyết định bước đến cánh cửa nhà tù, kéo tay nắm và nhận ra là mặc dù cánh cửa có rất nhiều ổ khóa khác nhau, kỳ thực nó không khóa gì hết. Bất cứ lúc nào con cũng có thể mở cửa ra và được tái sinh vào một ý niệm bản sắc mới, rằng con đang đứng ngoài nhà tù.

Có một sự khác biệt to lớn và cơ bản giữa việc nhìn cuộc đời từ bên trong nhà tù cái ta hữu diệt và nhìn cuộc đời từ bên ngoài nhà tù. Khi con nhìn cuộc đời từ bên trong nhà tù, con tưởng rằng con, nghĩa là cái Ta Biết, bị giới hạn trong nhà tù. Khi con nhìn cuộc đời từ bên ngoài nhà tù, con thấy rõ cái Ta Biết nhiều hơn nhà tù gấp bội. Con có thể so sánh nhà tù này với một cái hộp to bằng căn nhà, xây cất bằng gạch với một cánh cửa bằng thép. Khi con ở trong hộp, con tưởng thế giới là một cái hộp bằng gạch. Khi con ở bên ngoài, con thấy rõ bình chứa cái ta lớn hơn hộp rất nhiều. Hộp vẫn hiện hữu trong bình chứa cái ta của con nhưng con không bị hạn chế trong đó.

Thày nói điều này cho con vì mấy lý do. Một lý do là vì nếu con có thể chấp nhận ý niệm bản sắc rộng lớn hơn của con và được tái sinh trong cái ta lớn này, con sẽ lập tức bắt đầu cảm thấy một sự nối kết chặt chẽ hơn với cái Tất cả của Thượng đế. Điều này sẽ khiến đường tu của con vui thú hơn rất nhiều, an bình hơn rất nhiều. Cũng từa tựa như thay vì con có món nợ và cảm thấy mình không có đồng nào tiêu pha, thì con dư giả tiền bạc cất trong ngân hàng.

Thày cũng nói điều này với con vì một lý do rất thực tiễn. Khi con ở trong hộp bằng gạch, con nghĩ đó là cái ta thực của con, cá thể thực của con. Trong tiềm thức, con biết con là một sinh thể tự nhận biết đúng lý phải đồng-sáng tạo qua việc biểu đạt cá thể của mình. Con không thể chịu nổi ý nghĩ mình không có cá thể nào để biểu đạt. Nếu con cho rằng cái ta hữu diệt là cá thể duy nhất của mình, thì con sẽ dính mắc tình cảm với mỗi khía cạnh của cái ta hữu diệt đó, với mỗi viên gạch của cái hộp đó. Nếu một vị thày tâm linh đến bảo con là con phải vứt bỏ một viên gạch đi, con sẽ không chịu hay không thể làm được vậy, vì con có cảm tưởng là nếu con buông một phần của cái ta hữu diệt thì con cũng đánh mất một phần cá thể của mình. Sự phân biệt vi tế là cái ta hữu diệt hoàn toàn dựa trên, được xây bằng lời dối nhị nguyên từ tâm phản Ki-tô. Mỗi lời dối như vậy là một viên gạch cấu tạo cái hộp đang giam giữ con. Để loại bỏ cái hộp khỏi bình chứa cái ta, con phải đục bỏ từng viên gạch một cách hệ thống và quăng nó đi. Với mỗi viên gạch con vứt bỏ, con thăng lên một bực trên cầu thang xoắn ốc.

Nếu con nhìn cuộc sống từ bên trong hộp, con sẽ nghĩ mỗi viên gạch là một phần không thể thiếu, không thể thay thế của cá thể thực của con. Nếu con mất tất cả gạch, con sẽ là con số không, con sẽ là một vỏ rỗng, con sẽ là một lỗ đen không chút cá tính. Nỗi sợ lớn nhất của bất kỳ sinh thể tự nhận biết nào là đánh mất ý niệm bản sắc của mình, cho nên con sợ buông ra các lời dối nhị nguyên mà con tưởng là một phần của cá thể con. Đây chính là điều sẽ biến đường tu thành một cuộc vật lộn, một con Đường Thương khó, khi tâm vỏ ngoài tìm cách cưỡng ép tâm tiềm thức phải buông bỏ một viên gạch của cái hộp. Tâm tiềm thức bám chặt lấy viên gạch đó như là chuyện sống chết, và đây là điều tâm tiềm thức, cái ta hữu diệt của con tin chắc như vậy. Đây là vì sao quá nhiều người, cả trong đạo Cơ đốc lẫn các đạo khác và phong trào Thời mới, luôn luôn vật lộn trong một trận chiến gian nan liên tục. Với tâm vỏ ngoài, họ nhận ra là họ cần thay đổi đời họ, và họ đã dùng một giáo lý tâm linh vỏ ngoài nào đó để tạo dựng một tâm ảnh về con người mà họ cần là hầu được cứu rỗi, hay trở thành con người tâm linh mà họ muốn trở thành. Tâm vỏ ngoài tìm cách ép uổng tâm ảnh này lên tâm tiềm thức, hầu tâm ảnh có thể thay thế ý niệm cái ta hiện thời của họ. Phần tiềm thức trong tâm họ cưỡng lại chuyện này, vì vậy trong bản thể họ luôn luôn có sự vật lộn, một cuộc chiến biến họ thành một ngôi nhà phân rẽ với chính nó, một ngôi nhà xây trên cát. Đây là tại sao nhiều người tìm kiếm tâm linh cảm thấy mình tiến bộ rất ít, tại sao mình cảm thấy như thể mỗi lần mình tiến lên một bước thì có gì đó kéo mình trở ngược lại một hai bước.

Con có quyền tự quyết, cho nên con hoàn toàn có quyền tiếp tục vật lộn cho đến hết kiếp, thậm chí trong nhiều kiếp sống, nếu đó là điều con muốn. Thày không có mong muốn bảo con phải bước theo đường đời của con như thế nào. Nhưng thày mong muốn nói với con là đường tu tâm linh, con đường đến sự sống dồi dào, con đường đến cứu rỗi và sự sống vĩnh cửu, không cần phải là một cuộc vật lộn. Con có khả năng bước ra ngoài cái hộp của cái ta hữu diệt. Khi con bước ra ngoài, con thấy và con biết con là nhiều hơn cái ta hữu diệt. Con vẫn còn cái hộp bằng gạch đó trong bình chứa cái ta, nhưng vì con biết con là nhiều hơn hộp, vì con nhìn thế giới từ ngoài hộp, con không còn dính mắc tình cảm nào nữa với từng viên gạch cấu thành cái hộp. Con thừa biết là nếu con vứt bỏ một viên đi, con không hề mất ý niệm bản sắc của con. Vứt bỏ một viên gạch không còn là vấn đề sinh tử nữa. Con không cần đánh nhau để cố giữ gạch vì con biết chúng không là một phần của con người thực của con. Khi con ngộ ra sự thật này, việc buông bỏ các viên gạch dễ hơn quá đỗi. Giờ đây con có thể buông chúng nhanh hơn gấp bội, với ít khổ não và đau đớn hơn gấp bội. Thay vì cảm thấy như thể mình sắp chết mỗi khi mình bỏ một viên gạch, con cảm thấy con sắp được sống dồi dào hơn với mỗi viên gạch mà con vứt bỏ, với mỗi viên gạch không còn nặng gánh trên hành trình leo núi của con.

A con yêu dấu, con có cảm được sự khác biệt to lớn điều này sẽ đem lại trong đời con? Con có cảm được là chỉ bằng một bước tái sinh tâm linh, con có thể xoay chuyển mọi chuyện trong đời mình? Khi con đi qua ngưỡng cửa nhà tù và bước ra ngoài cái ta hữu diệt của mình, mọi chuyện trong đời con sẽ thay đổi – trong nghĩa đen. Cách con nhìn mọi thứ sẽ thay đổi. Toàn bộ quan điểm của con về cuộc sống sẽ thay đổi trong bản chất, tầm nhìn của con về cuộc đời sẽ khuếch đại muôn phần. Mặc dù sự mở rộng này có thể là một thay đổi to lớn lúc đầu, con sẽ nhanh chóng bắt đầu cảm thấy là mình đã về nhà và mọi chuyện đúng ra phải như thế này. Ý niệm cái ta tự nhiên của con chính là sinh thể tâm linh thuần khiết mà con là. Thật không tự nhiên chút nào khi ý niệm cái ta bị giam trong một cái hộp nhỏ xíu bằng gạch, cho nên khi con bước ra ngoài hộp, cụ thể con sẽ cảm thấy như mình về nhà. Và quả thực con đã về nhà, con đã về nhà là vương quốc của Cha con, tức là ý niệm cái ta mà Cha con đã dành sẵn cho con ngay từ ban đầu.

5.5. Cảm nhận vật lộn đã tạo ra cuộc vật lộn

Con yêu dấu, thày không biết có thể nói gì hơn để thuyết phục con những lời này là sự thật. Khi thày nhìn loài người như thày đã quan sát suốt 2000 năm qua và hơn nữa, thày thấy được là hầu hết mọi người trên hành tinh đều kẹt cứng trong những chiếc hộp nhỏ xíu bằng gạch. Mỗi người đã giới hạn ý niệm cái ta của mình trong chiếc hộp nhỏ cấu tạo cái ta hữu diệt của họ. Một số còn không biết là có một cánh cửa. Một số khác biết là có cửa nhưng họ tin chắc là cửa bị khóa, và họ không buồn bỏ công ra để thử xem chuyện này có thật hay không. Họ tin là họ không có cách chi thoát ra khỏi hộp. Một số còn tin là họ không có nhu cầu trốn thoát – họ đã tôn cái ta hữu diệt, và trong một số trường hợp ông hoàng của thế gian, lên làm kẻ cai trị đền thờ của họ. Một số đã thức tỉnh là họ có thể mở các ổ khóa để cuối cùng mở cửa, nhưng họ vẫn tin là họ sẽ bị kẹt bên trong cho đến khi ổ khoá cuối cùng được mở.   

Thày đã hợp nhất với tâm thức cùng Bản thể của khía cạnh Mẹ của Thượng đế. Như Giê-su đã nói: “Và vua phán, mỗi lần các con làm như vậy cho người anh em bé nhỏ nhất của ta, thì các con đã làm cho chính ta vậy” (Matthew 25:40). Là Mẹ Thượng đế, thày cảm thấy cùng một tình thương cho mỗi người và mọi người trên trái đất này. Thày không mong gì hơn được nhìn thấy mỗi người và mọi người trong các con thoát ra khỏi nhà tù đang giam con trong bóng tối. Thày không mong gì hơn nhìn thấy con mở cửa nhà tù và chạy ra ánh nắng rực rỡ, lòng tràn ngập niềm tự do quá mới đến độ con bật cười, hét lên sung sướng, chẳng khác gì trẻ nhỏ chạy vui trên đồng cỏ nở hoa trong ánh nắng rực rỡ của ngày xuân đầu tiên.

Mong muốn lớn nhất của thày là được thấy mọi người thoát khỏi nhà tù của tâm mình, thoát khỏi những cái hộp nhỏ bằng gạch, và ngộ ra mình thực sự là ai. Thày không muốn thấy con người cố leo lên cầu thang xoắn ốc mà mỗi bực phải giao chiến với con rồng của cái ta hữu diệt, giống như thánh George đánh nhau với rồng vậy. Thày muốn thấy con tách mình ra khỏi, tách cái Ta Biết ra khỏi cái ta hữu diệt để con có thể bước lên mỗi bực trên cầu thang xoắn ốc với niềm vui, với cảm giác an bình đến từ sự nhận biết rằng những gì con bỏ lại đều là không thực. Đây là niềm vui biết rằng mỗi lần con buông bỏ một lời dối nhị nguyên thì con cũng tiến một bước gần hơn trạng thái tự do biểu hiện cá thể thiêng liêng của mình.

Khi con biết điều này thì việc buông bỏ các hạn chế cũ, buông bỏ ý niệm cái ta hữu diệt, sẽ không gắn liền với nỗi sợ mất mát mà gắn liền với niềm vui thu hoạch. Thay vì cảm thấy mình bị mất gì đó, con nhận ra là kỳ thực con đang được gì đó – ý niệm cái ta cũ được thay thế bằng một ý niệm cái ta lớn hơn, đẹp hơn. A con yêu dấu, chính cảm nhận vật lộn đã tạo ra cuộc vật lộn, và cảm nhận vật lộn thì khởi lên từ sự dính mắc tình cảm của con với cái ta hữu diệt. Dính mắc này khởi lên từ nỗi sợ rằng nếu con mất đi một phần của cái ta hữu diệt, con sẽ không có gì để thay vào chỗ đó. Đây là một niềm tin chỉ có mặt khi con nhìn cuộc đời từ bên trong chiếc hộp cái ta hữu diệt. Ngay khi con mở cửa tù ra và bước vào ánh nắng rực rỡ của Hiện diện TA LÀ của con, con sẽ thấy là khi con thay thế một phần của cái ta hữu diệt, khi con buông bỏ một phần của cái ta hữu diệt, con sẽ làm lộ ra phần tương ứng của cái ta bất diệt từng bị ảo tưởng hữu diệt che mờ. Con không mất gì hết trong quá trình này, mà con chỉ được một cái gì đẹp hơn, sáng giá hơn vô lượng – và đây chính là ý nghĩa thật sự của sự sống dồi dào. Con có thể có tất cả của cải trên thế gian, nhưng chừng nào con còn kẹt trong chiếc hộp của cái ta hữu diệt, con sẽ không bao giờ có được sự sống dồi dào, con sẽ không bao giờ thoát khỏi nỗi sợ thiếu thốn. Đây là ý nghĩa thật sự của lời dạy của Giê-su: “Người nào được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thì có ích gì?” (Mark 8:36). Chỉ có một cách để đạt sự sống dồi dào, đó là bước ra ngoài chiếc hộp của cái ta hữu diệt, và nhờ vậy con tìm được sự dồi dào mà Thượng đế cho con miễn phí, vì ngài rất vui lòng ban cho con vương quốc của ngài.

Việc bỏ lại một đồng của cái ta hữu diệt thật là đáng tiền vì thay vào đó con nhận được bạc triệu của cái ta bất diệt. Con trở nên sẵn lòng, thậm chí con còn háo hức muốn phơi bày những lời dối của cái ta hữu diệt. Con trở nên sẵn lòng với tới sự thật của tâm Ki-tô sẽ thay thế lời dối của tâm phản Ki-tô. Con đã khắc phục nỗi sợ không dám xem xét các ảo tưởng của phản Ki-tô. Con không còn sợ việc phơi trần các lời dối nhị nguyên của cái ta hữu diệt vì con không còn đồng hóa với chúng nữa.

5.6. Con có khả năng là Ki-tô Hằng sống

Điều ngăn cách con với sự sống dồi dào chỉ là một sự xoay nhẹ chiếc la bàn của nhận thức, la bàn của cái ta. Con cần dời ý niệm cái ta xa khỏi cái ta hữu diệt và chấp nhận cái Ta lớn hơn mà con là. Một khi con đã xoay chuyển như vậy, con đường đi lên trở nên dễ dàng vì giờ đây con nhận ra với Giê-su: “Ách của ta dễ chịu, gánh của ta nhẹ nhàng” (Matthew 11:30). Đó là khi con khắc phục nỗi sợ ngăn cản hầu hết mọi người thực hành một trong những câu quan trọng nhất của Giê-su. Có lẽ con nhớ Giê-su có nói: “Nếu ai muốn đi theo ta thì hãy từ bỏ chính mình, hãy vác thập tự giá của mình mà đi theo ta” (Matthew 16:24). Nhiều tín đồ Cơ đốc đã đọc câu này mà không hiểu được ý nghĩa, cho nên họ đã nhắm mắt làm ngơ hay đã bác bỏ nó với một đường lý luận nhị nguyên.

Khi Giê-su bảo từ bỏ chính mình, thày muốn nói đến những người đã tự đồng hóa với cái ta hữu diệt. Cái ta mà con từ bỏ để đi theo Giê-su không phải là cái ta thực; đó là cái ta hữu diệt. Con từ bỏ nó bằng cách chối bỏ nó là cái ta thực, bằng cách chối bỏ niềm tin là nó có bất kỳ uy quyền gì trên con, bằng cách chối bỏ ảo tưởng là cái ta hữu diệt có thể ngăn con đi theo Ki-tô. Con nhận ra và chấp nhận sự thật là cái ta hữu diệt, mà chúng ta có thể gọi là kẻ thù bên trong, lẫn các thế lực của thế gian này, mà chúng ta có thể gọi là kẻ thù bên ngoài, không thể nào ngăn con đi theo Ki-tô. Không gì có thể ngăn chặn con, ngoại trừ những gì con cho phép cản đường con do con đồng hóa với nó hay sợ không dám nhìn nó.

Bây giờ con cũng có thể nhìn ra ý nghĩa câu “hãy vác thập tự giá của mình và đi theo Ki-tô”. Thập tự giá là một biểu tượng cho cái ta hữu diệt được cấu tạo bởi nhiều lời dối nhị nguyên mà con đã dần dà chấp nhận. Chúng hình thành một cấu trúc trong thế giới vật chất, và cái Ta Biết bị đóng đinh – bị giữ mải mê – vào cây thập tự. Thập tự giá có bốn nhánh, và như thày sẽ giải thích chốc nữa, điều này tượng trưng cho bốn tầng cấp của dải tần số vật chất mà chúng ta có thể gọi là bốn thể phàm của con. Mỗi thể phàm đã bị các lời dối nhị nguyên làm cho ô nhiễm. Vác thập tự giá của mình có nghĩa là con sẵn lòng tham gia vào tiến trình thanh lọc một cách hệ thống mỗi thể phàm của con cho không còn lời dối nhị nguyên nào khởi lên từ tâm phản Ki-tô. Khi con khắc phục các lời dối này, khi con khắc phục cho đến kẻ thù cuối cùng của cái chết – bởi vì con cho phép cái ta hữu diệt của con được chết trên cây thập tự – con sẽ được phục sinh vào sự sống bất diệt của tâm thức Ki-tô. Con sẽ không còn là một người đi theo Ki-tô nữa, mà con là Ki-tô Hằng sống ngay nơi con đang đứng. Như Giê-su đã chứng tỏ, con có khả năng là Ki-tô Hằng sống ngay đây trên trái đất.

Khi con đạt được trạng thái tâm thức này, con không còn đi theo đường tu tâm linh với mục đích tăng triển cá nhân mình nữa. Giờ đây con đã đạt được sự nhận biết lớn hơn rằng con là một với tổng thể, với Thân thể Thượng đế trên trái đất. Bằng cách là Ki-tô Hằng sống hiện thân trên trái đất, con có thể phụng sự như một cánh cửa mở để đem ánh sáng Ki-tô vào tâm thức tập thể của nhân loại. Con có thể giúp thanh lọc bốn thể phàm của tâm thức đại chúng, giúp người khác khám phá và đi theo đường tu tâm linh dễ dàng hơn. Khi đó con có thể nói cùng với Giê-su: “Còn ta, khi ta thăng lên khỏi trái đất, ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta” (John 12:32).

Đó là lý do Giê-su đã đến địa cầu. Thày đã gánh lấy tội lỗi của thế gian, nhưng đâu là tội lỗi của thế gian? Tội lỗi của thế gian là những lời dối nhị nguyên mà con người đã chấp nhận và bây giờ đã trở thành một thành phần của tâm thức tập thể. Giê-su đã gánh lấy một khía cạnh đặc thù của những lời dối nhị nguyên này, là xu hướng của con người mù quáng đi theo những kẻ cầm đầu mù quáng, các thày giả, những kẻ đã nổi loạn chống lại Thượng đế và đã đến trái đất để đánh lừa loài người hầu chứng minh là họ biết hơn cả Đấng Sáng tạo. Đó là những con rắn, đó là những thế lực của phản Ki-tô đã âm mưu điều khiển loài người trong một thời gian rất dài. Giê-su đã khoác lấy chính xu hướng này, là xu hướng mù quáng đi theo kẻ cầm đầu mà không chịu lãnh trách nhiệm về đời mình và con đường của mình. Suốt 2000 năm qua thày đã gánh lấy tội lỗi đó, trạng thái tâm thức nhị nguyên đó, mong rằng loài người sẽ dùng giáo lý của thày để biểu hiện quả vị Ki-tô của mình, để mài sắc khả năng phân biện cá nhân của mình, hầu nhìn thấu các lời gian dối do các lãnh đạo mù đó chủ xướng.

Vì lãnh đạo mù đã xâm nhập đạo Cơ đốc, hầu hết mọi người vẫn chưa có cái hiểu ý thức về sự hiện hữu của lớp lãnh đạo mù và làm thế nào tâm thức nhị nguyên của họ đã ảnh hưởng mọi khía cạnh cuộc sống trên trái đất. Nếu con không nhận ra là con bị kẹt trong một ảo ảnh thì làm sao con có thể thoát khỏi ảo ảnh đó? Do sứ vụ của Giê-su, hàng triệu người trên trái đất đã được chuẩn bị để có thể rất mau chóng giải thoát mình khỏi ảo ảnh nhị nguyên này và ngộ ra mình đã là người mù quáng đi theo những kẻ cầm đầu mù quáng. Trên hành tinh này có một tiềm năng thực sự cho một sự thức tỉnh hàng loạt, qua đó hàng triệu người sẽ đạt được nhận biết mới về khía cạnh tâm linh của cuộc sống cùng con đường chân chính đến một trạng thái tâm thức cao hơn. Điều này có thể xảy ra một sớm một chiều, và chắc chắn có thể xảy ra trong vòng một chục năm.

Nếu quả thật điều này xảy ra, con sẽ thấy hành tinh này thay đổi sâu đậm. Con sẽ thấy hành tinh địa cầu bước vào một thời đại hoàng kim của tự do lớn hơn, cả tự do vật chất lẫn tinh thần, và của dồi dào lớn hơn, cả dồi dào vật chất lẫn tinh thần. Đây là tiềm năng thật sự của thời đại hôm nay. Đây là một tiềm năng rất gần trở thành hiện thực vật lý, nhưng sẽ không thể là một hiện thực cho đến khi một khối người tới hạn (critical mass) chấp nhận đó là một hiện thực vật lý. Để chấp nhận vương quốc Thượng đế là một thực tại biểu hiện trên trái đất, con phải trước tiên chấp nhận vương quốc Thượng đế như một thực tại trong chính tâm thức và bản thể của con. Mục đích khóa học này không chỉ là để giúp con có được sự sống dồi dào cho con, mà giúp con nhìn ra là con đang ở đây để làm người tiên phong cho một thời đại hoàng kim sẽ đem lại sự sống dồi dào cho mọi người, bằng cách vĩnh viễn trục xuất những kẻ cầm đầu mù quáng – cùng với tâm thức tách biệt và thiếu thốn của họ – ra khỏi hành tinh.

5.7. Hoàn thành sứ vụ của Giê-su

Giê-su có nói: “Ta đã đến thế gian để phán xử, để những ai không thấy thì có thể thấy, còn ai đang thấy thì hóa mù” (John 9:39). Phán xử là một cơ hội để một người đứng trước một chọn lựa có thể chọn là ngày hôm nay mình sẽ phục vụ cho ai. Chọn lựa thực sự là liệu người đó sẽ phục vụ tâm Ki-tô hay tâm phản Ki-tô. Mọi khía cạnh cuộc sống trên hành tinh này đã bị tâm phản Ki-tô ảnh hưởng, với hậu quả là hầu hết mọi người không có chọn lựa nào giữa tâm Ki-tô và tâm phản Ki-tô. Tất cả những gì họ đã được dạy dỗ để tin tưởng đều bị tâm phản Ki-tô chi phối. Làm sao họ có được cơ hội chọn lựa sẽ phục vụ ai đây? Họ sẽ chỉ có được cơ hội này khi họ gặp một người thể hiện được một trình độ quả vị Ki-tô cao hơn họ. Khi gặp người này, họ chợt nhận ra cuộc sống là nhiều hơn, họ nhận ra có một trạng thái tâm thức cao hơn. Đây chính là điều xảy ra khi người đời gặp Giê-su.

Thày đã bước chân với Giê-su rất nhiều lần, và thày đã thấy người ta phản ứng thế nào khi gặp Giê-su. Hiển nhiên là có nhiều loại phản ứng, nhưng thày có thể nói là rất ít người có thể gặp Giê-su bằng xương bằng thịt mà vẫn thờ ơ. Gần như ai ai cũng cảm được có gì đặc biệt nơi Giê-su, không phải là con người vỏ ngoài có gì đặc biệt mà họ cảm thấy Giê-su đã đạt được tâm thức Ki-tô, Giê-su là cánh cửa mở cho Ánh sáng Ki-tô hoàn vũ chiếu rọi vào bóng tối của thế gian. Khi gặp Giê-su, ký ức nội tâm của họ được đánh thức, và giờ đây họ có cơ hội nhìn nhận ký ức nội tâm này và cất bước trên con đường dẫn về nhà. Một số đã chọn phủ nhận ký ức đó hay dùng một đường lý luận nhị nguyên để bác bỏ nó, nhưng ít ra họ đã có một cơ hội.

Khi họ gặp ánh sáng từ cao rọi xuyên qua Giê-su, họ có cơ hội chọn lựa, hoặc quay đầu lại và phụng sự ánh sáng đó, hoặc cứ tiếp tục phục vụ bóng tối của tâm phản Ki-tô. Liệu họ có sẵn lòng nhìn nhận rằng nếu Giê-su đã có thể đạt được quả vị Ki-tô thì có lẽ chính họ cũng có thể? Hay họ sẽ chối bỏ là họ có tiềm năng khoác vào tâm Ki-tô và cho phép tâm này ngụ trong họ vì tâm này cũng ngụ trong Ki-tô Giê-su (Philippians 2:5)? Đây là chọn lựa chân thực mà con người trong thời đại này phải đối mặt. Liệu họ sẽ tiếp tục đi theo các lãnh đạo giả của phản Ki-tô, hay rốt cuộc họ sẽ tách mình ra khỏi nhị nguyên và bước theo sự thật Ki-tô?

Con yêu dấu, con phải đối mặt với chọn lựa này ở mức cá nhân, và thày đã làm tất cả những gì thày có thể nghĩ tới để giúp con dễ chọn lựa hơn, là con chọn chấp nhận tiềm năng Ki-tô của mình, cất bước trên con đường Ki-tô, chối từ cái ta hữu diệt của mình, vác cây thập tự của mình và noi theo gương Giê-su. Khi con đi theo con đường này và khoác vào một phần lớn hơn của quả vị Ki-tô của mình, đến lượt con thật sự trở thành công cụ cống hiến cho người khác cùng chọn lựa đó. Mỗi người đã được Thượng đế phú cho quyền tự quyết, cho nên con và mọi người đều có quyền chối bỏ con đường quả vị Ki-tô hay tiềm năng đi theo con đường này. Dù người khác có chấp nhận hay chối bỏ tiềm năng của họ, đây không phải là quan tâm của con. Vai trò của con là cống hiến cho họ cơ hội chọn lựa, xong con để yên cho họ quyết định họ muốn làm gì với chọn lựa. Để có thể cống hiến chọn lựa cho họ, chính con phải tự thân bước trên con đường này và thể hiện một cấp độ quả vị Ki-tô nào đó cho phép người khác cảm được nơi con có gì khác lạ, rằng con có gì đó mà họ không có. Cái con có chính là ánh sáng lớn hơn của đứa Con Thượng đế (the Son of God), của Mặt trời Thượng đế (the Sun of God).

Khi họ cảm được ánh sáng này, nó sẽ đánh thức lại trong họ ký ức nội tâm là cuộc sống có gì nhiều hơn, và nhiều người trong số họ sẽ nhận chân được ký ức này. Họ sẽ nhìn con và nói: “Bạn không khác tôi bao nhiêu. Nếu bạn có thể trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng Thượng đế thì có lẽ chính tôi cũng có thể?” Giê-su đã đến hành tinh này để chứng tỏ qua tấm gương của mình con đường dẫn đến quả vị Ki-tô cá nhân. Vì các thày giả đã thâm nhập đạo Cơ đốc và biến Giê-su thành một thần tượng, rất ít người trên hành tinh đã làm theo gương của thày. Đó là vì sao thời đại hôm nay rất cần đến những người sẵn lòng nhìn thấu giáo điều tôn thờ thần tượng mà thày giả đã xây dựng và thay vào đó bước theo con đường dẫn đến quả vị Ki-tô cá nhân.

Chỉ khi nào hàng triệu người làm như vậy thì trong tâm thức tập thể mới có thể có một sự thức tỉnh. Người ta có thể chấp nhận con đường quả vị Ki-tô vì con đường này được chứng minh cho họ qua tấm gương của những người cũng giống như họ. Quá nhiều người đã lớn lên và được dạy dỗ để thấy Giê-su rất khác mình, và họ không thể nhận ra chính họ trong con người Giê-su. Làm sao họ có thể chấp nhận câu nói của thày rằng những ai tin thày sẽ làm được những công việc thày đã làm (John 14:12)? Làm sao họ có thể xem thày là một tấm gương để noi theo nếu thày quá khác họ – nào thày sinh ra từ một nữ đồng trinh, nào thày chính là Thượng đế ngay từ đầu, nào thày có thể làm tất cả những phép lạ kia mà họ không thể làm?

Âm mưu của các thày giả là phá hoại sứ vụ của Giê-su. Thày đang ở đây, đang trao cho con khóa học này, vì thày yêu con và thày yêu Giê-su. Thày muốn thấy sứ vụ của Giê-su trở thành một chiến thắng trên hành tinh này. Thày muốn thấy điều đó vì tình yêu vô biên của thày cho Giê-su, nhưng xin con chấp nhận là thày không yêu Giê-su nhiều hơn con. Vì tình yêu của thày cho con nên thày cũng muốn thấy con khám phá sự thật về sứ vụ của Giê-su để con có thể bước chân theo và giải thoát mình khỏi tâm phản Ki-tô. Thày muốn con được tự do khỏi kẻ thù bên ngoài tức ông hoàng của thế gian, lẫn kẻ thù bên trong tức cái ta hữu diệt của con.

Tình yêu của thày vô điều kiện, và thày sẽ không chấp nhận bất cứ điều kiện nào giam con lại trong cái ta hữu diệt này. Thày đã đến để trao con một khóa học chứa đựng sự thật có khả năng giải thoát con, nếu con đón nhận nó và cho phép nó tác động giống như chất men sẽ nâng cao toàn bộ tâm thức của con (Matthew 13:33). Nếu con chấp nhận sự thật mà thày cho con, sự thật này quả thực sẽ giải thoát con khỏi mọi lời dối của phản Ki-tô. Đây không chỉ là một lời hứa suông. Đây là thực tế!

Vấn đề hầu hết mọi người phải đối mặt là họ đã lớn lên trong một thế giới đầy rẫy tin tưởng nhị nguyên. Họ sống trong nhà tù con người phàm và họ chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ gì bên ngoài nhà tù. Họ sống trong một cái hộp bằng gạch hoàn toàn tăm tối và họ nghĩ không có gì khác hơn bóng tối. Khi con mở cửa tù ra và ánh sáng rực rỡ của mặt trời chiếu rọi qua cánh cửa, ảo tưởng cho rằng chỉ có bóng tối sẽ lập tức tan biến.

Bóng tối không có thực thể trong Thượng đế. Cái gì không có thực chất bất diệt không thể có quyền lực nào trên con vì con là một sinh thể tâm linh bất diệt. Nó chỉ có thể ảnh hưởng con chừng nào con nghĩ nó có thực chất. Ngay khi ánh sáng Ki-tô đi vào bản thể con và xua tan ảo tưởng cho rằng không có gì khác hơn nhị nguyên, con sẽ giải thoát khỏi ảo tưởng đó. Đây không phải là chuyện mơ mộng ao ước, mà là một thực tế con có thể chứng minh bằng cách đi vào một căn phòng tối và bật đèn lên.

5.8. Đem ánh sáng vào bóng tối

Con hãy lưu ý sự khác biệt vi tế ở đây. Mục đích của cuộc sống là đem ánh sáng vào bóng tối của khoảng trống không. Khoảng trống không nguyên thủy không có gì trong đó và vì thế nó tối. Bóng tối này không thiện mà cũng không ác, nó chỉ đơn giản là sự thiếu vắng ánh sáng. Nó không là cùng một thứ với điều con người gọi là ác. Vì con người đã thử nghiệm với quả trái của hiểu biết về thiện ác, cho nên họ đã tạo ra một tình trạng có hai đối cực tương đối che khuất cả ánh sáng của Thượng đế lẫn bóng tối nguyên thủy của khoảng trống không. Loài người, bị cầm đầu bởi lãnh đạo mù là các thày giả, đã bị lừa gạt để mà tạo ra những hình ảnh tương đối, nhị nguyên, của riêng mình về thiện và ác. Ác có vẻ tối tăm và thiện có vẻ sáng sủa, và đó là tại sao Paul mới nói: “Chính Satan cũng hóa thành một thiên thần ánh sáng” (2Corinthians 11:14). Cả hai đối cực tương đối này đều không thể hiện thực chất của ánh sáng Thượng đế lẫn bóng tối của khoảng trống không. Cả hai đều không có thực tế tối hậu nào vì chúng chỉ hiện hữu như những hình ảnh tạm thời được chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật bởi các sinh thể tự nhận biết đang mắc kẹt trong tâm phản Ki-tô.

Vì con người bị lừa dối nên họ đã dần dần tin rằng cái ác là một thực tế hiển hiện, rằng nó tồn tại thực sự như là đối nghịch của Thượng đế. Họ đã dần dần tin rằng những gì được các thẩm quyền tôn giáo hay chính trị định nghĩa là thiện cũng thật sự là thiện trong thực tại của Thượng đế. Đây chẳng qua là một màn ngụy trang. Cả thiện lẫn ác khởi lên từ tâm thức nhị nguyên đều không có thực tế tối hậu nào. Điều con người gọi là ác chỉ đơn giản là một ảo tưởng khi ánh sáng Ki-tô vắng mặt. Ngay cả điều con người gọi là thiện cũng chỉ là cái thiện tương đối, đó cũng là một ảo tưởng khi cái thiện lớn hơn vắng mặt, cái thiện tuyệt đối của tâm Ki-tô. Con người đã bị mắc kẹt vào một trò chơi bất tận dựa trên ảo tưởng là có một cuộc chiến giữa thiện và ác trên hành tinh này. Nhưng trận chiến chỉ diễn ra giữa cái thiện tương đối và cái ác tương đối, và cả hai lực này đều do tâm thức nhị nguyên quy định. Chúng không có thực tế nào, chúng không có lẽ thật nào trong chúng, chúng không có sự sống nào trong chúng. Đằng sau các ảo tưởng này, đằng sau các ảo ảnh hiện ra trong sa mạc, là thực tại của Thượng đế neo trụ hằng thường trong Tâm Ki-tô Hoàn vũ. Tâm thức phản Ki-tô không thật sự đối chọi với tâm Ki-tô vì sự thật Ki-tô không hề có đối nghịch.

Các thế lực phản Ki-tô tin là họ đối nghịch với tâm Ki-tô, nhưng sự đối nghịch này chỉ hiện hữu trong tâm họ. Nó chỉ có thể hiện hữu vì họ bám vào cái ta hữu diệt sinh ra từ sự tách biệt với cái Tất cả. Đối với Thượng đế thì không có thực tế nào trong họ, không có sự sống nào trong họ. Tất cả mọi thứ họ đã gầy dựng trên trái đất giống như Tháp Babel. Họ tìm cách cưỡng chiếm thiên đàng bằng cách xây dựng một tòa tháp cao tới tận trời, nhưng đó chỉ là một ngôi nhà xây trên cát. Chắc chắn nó sẽ sụp đổ vì lực co lại của Đấng Mẹ sẽ hủy diệt nó, y như mọi thứ khác không thẳng hàng với thực tại của Thượng đế cũng bị hủy diệt.

5.9. Bước ra khỏi tâm thức vật lộn

Con có thể tiếp tục trò chơi quanh co, trò chơi nhị nguyên này, qua đó con có thể nghĩ mình là một người tâm linh hay mộ đạo đang rõ ràng chiến đấu về phe Ki-tô bằng cách đánh nhau với các thế lực mà con tin là xấu ác. Kỳ thực con chỉ là một con tốt trong ván cờ nhị nguyên của phản Ki-tô nơi không bên nào đại diện cho sự thật tuyệt đối của Ki-tô. Nhiều người sẽ khó lòng chấp nhận lời dạy này. Họ sẽ khó lòng thừa nhận là những gì họ đã luôn luôn tin tưởng là đại nghĩa cao cả thật ra có thể là một ảo tưởng dựa trên tâm phản Ki-tô. Nhiều người cũng sẽ khó lòng tin rằng một người tâm linh không nên chiến đấu chống lại cái ác của con người. Tại sao con nghĩ Giê-su lại nói: “Nhưng ta nói với con, đừng chống cự cái ác. Trái lại, nếu có ai tát con bên má phải, con hãy quay má trái luôn cho họ” (Matthew 5:39)? Giê-su đang bảo những ai theo thày hãy vươn lên cao hơn trò chơi nhị nguyên của thiện ác tương đối. Khi con chiến đấu với cái ác của con người, con chỉ tự nhốt mình chặt hơn vào trạng thái tâm thức nhị nguyên.

Con có thể tiếp tục trò chơi này cho đến mãn kiếp và thêm nhiều kiếp nữa. Khi con mệt mỏi cuộc đấu tranh bất tận này, thày sẽ ở đó để chỉ cho con thấy là có một cách khác. Có một con đường sẽ dẫn con vượt khỏi cuộc vật lộn nhị nguyên không bao giờ chấm dứt giữa hai thế lực, vì cả hai đều không thuộc về Thượng đế. Có một con đường sẽ dẫn con vượt khỏi mọi cuộc vật lộn bằng cách đưa con vượt khỏi các lực đối chọi và nhập vào cái một của tâm Ki-tô nơi không có phân rẽ, không có khác biệt, không có bóng tối hay biến đổi (James 1:17). Mọi thiện ác tương đối được thay thế bởi ánh sáng thuần đơn của Mặt trời Thượng đế.

Giê-su đã đến để cống hiến loài người con đường này 2000 năm về trước. Giê-su đang ở đây ngày hôm nay để cống hiến con đường này cho con. Như thày vẫn nói: “Ta sẽ ở với con luôn luôn, ngay cả đến ngày tận thế” (Matthew 28:20). Ngày tận thế không có nghĩa là trái đất sẽ không còn tồn tại, như nhiều người Cơ đốc tin tưởng. Ngày tận thế có nghĩa là sự chấm dứt nhị nguyên, sự tận cùng của nền thống trị của nhị nguyên trên hành tinh này. Ngày tận thế có nghĩa là thời điểm có một số người tới hạn thăng lên tâm thức Ki-tô. Họ đòi lại trái đất cho Ki-tô để Thượng đế có thể trục xuất ông hoàng của thế gian khỏi thế gian. Ki-tô sẽ hiện ra như vị vua sẽ mãi mãi ngự trị trên trái đất vì trái đất giờ đây đã trở thành vương quốc của Thượng đế.

Con có thể là một người đi tiên phong cho sự kiện này, nhưng con chỉ có thể làm vậy nếu con sẵn lòng vác cây thập tự của mình và thanh lọc bản thể mình một cách hệ thống cho không còn lời dối nào của phản Ki-tô. Nếu con sẵn lòng đi theo con đường chân truyền này thì thày sẽ sẵn lòng nắm tay con và đồng hành với con trên mỗi bước cuộc hành trình. Con đường này không phải là con Đường Thương khó, không phải là một cuộc chiến đấu bất tận. Con đường chân truyền của Ki-tô là con đường tình thương, con đường an lạc, con đường tự do, con đường của sự sống dồi dào. Con có khả năng thoát khỏi cảm nhận vật lộn bằng cách xoay chuyển ý niệm bản sắc của mình xa khỏi cuộc chiến đấu nhị nguyên.

Một số người đã sẵn sàng làm cuộc xoay chuyển này, và họ có thể làm vậy tức khắc. Thật sự con chỉ cần một quyết định, và con không thể lấy quyết định nào trong quá khứ cũng như trong tương lai. Con chỉ có thể lấy quyết định trong hiện tại, nghĩa là con có thể lấy quyết định từ bỏ cuộc chiến đấu bất cứ lúc nào. Con sẽ không thoát khỏi cuộc chiến cho đến khi con quyết định là con còn không chấp nhận hình ảnh cuộc sống là một cuộc chiến. Con không thể lấy quyết định này cho đến khi con quyết định là con lấy quyết định ngay bây giờ.

Thày biết rõ là đối với một số người, thời điểm họ có thể lấy quyết định này vẫn chưa đến. Lý do là vì họ vẫn quá đồng hóa với cái ta hữu diệt. Nếu đây là trường hợp của con, đừng sợ hãi. Trong phần còn lại của khóa học này, thày sẽ cho con những dụng cụ cần thiết để con tự giải thoát khỏi ách thống trị của cái ta hữu diệt này, hầu con có thể chấp nhận tự do của mình, là sự tự do con chưa hề mất bao giờ, mà trái lại vẫn luôn thuộc về con để con đòi lại trong hiện tại vĩnh cửu – tức là giây phút độc nhất hằng có.

3 | Cái ta hữu diệt ngăn chặn sự dồi dào như thế nào?

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 13/4/2005.

Trái tim yêu dấu của thày, thày biết khi thày nói với con rằng ý niệm cái ta hiện thời của con phải chết đi thì chuyện này nghe có vẻ to tát quá. Nó không đến nỗi to lớn như nó có vẻ. Tất cả mọi sinh thể tự nhận biết mang nỗi sợ rất lớn bị mất bản sắc của mình, ý niệm cái ta của mình. Sự tồn tại của con dựa trên sự kiện con có những đặc tính cá nhân khiến con là một sinh thể cá biệt. Con được sinh tạo để nhân rộng cá thể của mình và nắm quyền cai quản, trước tiên cái ta của mình, và sau đó thế giới nơi con sống. Điều cuối cùng con muốn là đánh mất cá thể của con, đánh mất cái ta của con. Thoạt nhìn, thật có vẻ đáng sợ khi nghĩ đến việc mình phải bỏ ý niệm bản sắc hiện thời của mình. Tuy nhiên, ý niệm bản sắc hiện thời của con không phải là cá thể thật của con. Ngược lại, đó là một hình ảnh hạn hẹp về chính mình đang che phủ vẻ đẹp bội phần cùng sự toàn hảo của cá thể mà Thượng đế đã phú cho con.

Con đã có mất gì không khi cơ thể của con đi qua tiến trình lớn lên từ một hài nhi thành một người trưởng thành? Chắc chắn con đã mất cơ thể một đứa bé và bây giờ con có cơ thể một người trưởng thành, nhưng liệu đây là mất mát hay thật ra là một món lợi? Nếu thày bảo thày sẽ cho con một triệu đô nếu con cho thày một đô, liệu con có mất gì chăng trong trao đổi này? Ừ con sẽ mất một đô, nhưng thay vào đó con được một triệu và như vậy con vẫn được lời quá đỗi so với trước đó. Con thật không mất gì cả khi cái con mất được thay thế bởi cái gì tốt hơn. Cá thể đích thực của con – mà Thượng đế đã cho con lúc ban đầu – đẹp và tuyệt hảo hơn một triệu lần so với cá thể con đã được dạy dỗ để chấp nhận trong thế giới duy vật hôm nay. Không có mất mát gì mà chỉ có lợi lạc cho con cũng như cho cái Ta lớn, tức là Thân thể Thượng đế mà con là một thành phần.

Khi con bước xuống trạng thái tâm thức thấp hơn, tâm thức nhị nguyên, tâm phản Ki-tô, con đã làm vậy một cách lần hồi. Khi con đi ngược trở lên tâm thức Ki-tô, trở lên bản sắc thực của con, điều này cũng sẽ xảy ra lần hồi. Con sẽ không gặp phải tình trạng ý niệm cái ta hiện thời chết đi mà không có gì thế vào đó. Con sẽ lần hồi vươn lên một ý niệm cái ta cao hơn và một giá trị bản thân cao hơn, cho nên con không bao giờ phải cảm thấy mất mát mà chỉ cảm thấy lợi lộc. Thật không có gì phải sợ. Khi con bước qua các chương kế tiếp và thực hành các dụng cụ thày cho con trong khóa này, một ngày kia con sẽ khắc phục nỗi sợ đó vì con mở cửa ra với Sinh thể lớn hơn mà con thực là. Rồi khi con bước trên con đường tuần tự nhằm tái lập sự kết nối với Hiện diện TA LÀ của con, một ngày kia con sẽ trải nghiệm một tia sáng từ mặt trời Hiện diện TA LÀ rọi trực tiếp vào bản thể thấp của con. Khi tia sáng này tràn ngập bản thể con, con sẽ trải nghiệm tình thương toàn hảo, tình thương vô điều kiện mà Hiện diện của con cùng Đấng Sáng tạo của con đã dành cho con. Tình thương tuyệt hảo này sẽ xua tan mọi nỗi sợ của con.

3.1. Con sẽ vật lộn nếu con không để cái ta hữu diệt chết đi

Con yêu dấu, tại sao thày lại nói với con rằng ý niệm cái ta hiện thời của con phải chết? Tại sao thày lại gửi cho con một thông điệp có vẻ đáng sợ và không mấy hấp dẫn đối với cái ta hiện thời của con? Tại sao thày thẳng thắn như vậy thay vì bán cho con một thông điệp nhẹ nhàng hơn, hấp dẫn hơn, sẽ khiến đường tu có vẻ dễ dàng hơn, êm xuôi hơn? Tại sao tạo rủi ro làm hoảng sợ những ai không sẵn sàng đối mặt với nỗi sợ của mình? Thày làm việc này vì nhiều lý do, nhưng một trong các lý do chính là vì thày muốn trao cho con con đường chân chính dẫn đến sự sống dồi dào, thậm chí sự sống vĩnh hằng.

Các đạo sư giả sẽ hứa hẹn là con có thể biểu hiện dồi dào của Thượng đế, hay ngay cả được cứu rỗi, mà không phải buông bỏ ý niệm cái ta hiện thời của mình, không phải để cho ý niệm cái ta hữu diệt (mortal) chết đi. Đây là một thông điệp vô cùng hấp dẫn cho cái ta hữu diệt của con, và cũng là tại sao những ai bị kẹt trong cái ta hữu diệt đó sẽ vui lòng mua hàng của đạo sư giả. Đây cũng là con đường có vẻ đúng đắn cho con người phàm nhưng sẽ không bao giờ có thể dẫn đến sự sống dồi dào đích thực kéo dài đến vĩnh hằng. Động lực trước hết và trên hết khi thày trao cho con sự thật khó ưa và ngược với thị hiếu con người chính là vì đó sự thật. Chỉ có sự thật mới giải thoát con.

Một lý do quan trọng khác là khi con biết và chấp nhận sự thật rằng ý niệm cái ta hiện thời của con phải chết – để con có thể được tái sinh vào một cái ta cao hơn, tâm linh hơn – thì đường tu của con sẽ dễ dàng hơn gấp bội. Suốt 2000 năm kể từ khi thăng thiên, thày đã chứng kiến hàng bao triệu người thành tâm cố gắng thực hành các lời dạy mà Giê-su yêu dấu của thày đã ban ra. Thày đã nhìn thấy biết bao con tim chân thành xả thân bước trên con đường mà các giáo hội Cơ đốc chính thức truyền lại cho họ. Vì các giáo hội này đã loại bỏ một số khái niệm cốt yếu nhất mà Giê-su đã dạy – họ đã tước mất chìa khóa của hiểu biết – cho nên hầu hết tín đồ Cơ đốc thành tâm không có được tầm hiểu chân chính về việc để cho cái ta hữu diệt chết đi rồi từ đó tái sinh vào một ý niệm cái ta tâm linh, bất diệt. Nhiều người trong số đó bị kẹt vào con đường giả, tìm cách toàn thiện cái ta hữu diệt, tìm cách thích ứng nó theo những gì họ được dạy bảo là các lý tưởng do Ki-tô giảng dạy. Điều này đã khiến nhiều người dùng tâm vỏ ngoài tạo dựng một lý tưởng, một hình tư tưởng, một thần tượng về một tín đồ chân chính của Ki-tô phải như thế nào, phải cư xử ra sao. Họ đã bỏ ra cả đời người, thường thường với lòng thành tâm và sùng bái cao độ, tìm cách dùng ý chí vỏ ngoài để uốn nắn bản thân mình cho rập khuôn hình tư tưởng đó.

Đây thường là một cuộc vật lộn gian nan, và lý do đơn giản là vì cho đến khi con để cho cái ta hữu diệt chết đi, không thể nào tránh được con là một ngôi nhà bị phân rẽ với chính nó (Mark 3:25). Mỗi lần cái Ta Biết bước một bước gần hơn với quả vị Ki-tô, cái ta hữu diệt sẽ kéo con ngược lại, và như thế con bị kẹt trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan được Paul mô tả: “Tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn” (Romans 7:19). Điều này đã khiến biết bao người thành tâm cảm thấy xấu hổ hay tội lỗi vì họ không thể sống theo hình ảnh mà giáo hội của họ đã cho họ, một tâm ảnh ngay từ đầu đã dựa trên nhị nguyên của phản Ki-tô. Đó là một hình ảnh giả trá, có nghĩa là không một ai có thể sống đúng theo thần tượng đó về con người toàn hảo, một thần tượng không ăn nhập gì với sự toàn hảo của con tim. Con có nhớ lời Giê-su bảo rằng chỉ những ai có lòng trong sạch mới thấy được Thượng đế (Matthew 5:8)? Ý nghĩa thật là Thượng đế không đòi hỏi con biểu hiện một sự toàn hảo vỏ ngoài, thế phàm, dựa trên một lý tưởng xuất phát từ tâm phản Ki-tô, mà ngài tìm một phẩm chất nội tâm, cụ thể là sự tinh khiết của tim con. Làm thế nào con đạt được con tim tinh khiết? Bằng cách để cho cái ta ô nhiễm, cái ta hữu diệt chết đi, hầu nó có thể được thay thế bởi cái ta thực của con, cái ta mà Thượng đế đã tạo ra trong sự toàn hảo thiêng liêng chưa bao giờ xa rời toàn hảo.

3.2. Lực phản Ki-tô của lớp thượng tôn quyền lực

Ôi con yêu dấu, khi thày nghĩ đến nỗi khổ biết bao người sùng đạo chân thành phải chịu đựng, tim thày tràn ngập lòng trắc ẩn pha chút buồn bã. Thày thấy biết bao người bước chân trên con Đường Thương khó trọn một kiếp người, và có khi cả mấy kiếp, cho đến khi cuối cùng họ kiệt sức vì căng thẳng và nhận ra có gì đó không ổn, có gì đó thiếu sót. Thường thường họ không hiểu nổi cái không ổn là gì, và cuối cùng thì nhiều người cảm thấy chắc hẳn mình đã bị hứa hão, mình đã bị Giê-su hứa hão. Mặc dù họ đã theo con đường mà Giê-su dường như đã vạch, họ đã không đạt đến trạng thái tâm thức, trạng thái ân sủng mà họ gọi là quả thánh hay bất kỳ tên gọi nào khác. Nhiều người như thế rốt cuộc thất vọng về đạo Cơ đốc chính thống và họ tức giận với chính Giê-su. Nhiều người hiện đang đầu thai trong xã hội duy vật hôm nay và đang chối bỏ đạo Cơ đốc, đã trong nhiều kiếp cần mẫn bước theo con đường do các giáo hội Cơ đốc chính thống vạch ra. Họ đã quá thất vọng với con đường đó đến độ trong kiếp này họ sẽ không chấp nhận sự đạo đức giả của đạo Cơ đốc chính thống được nữa. Thế là họ vứt đứa bé Ki-tô cùng với nước tắm dơ của giáo hội, và họ bỏ luôn cả Giê-su cùng với thông điệp của thày. Một số trở thành những kẻ vô thần, những tín đồ của tôn giáo khoa học duy vật. Một số khác không theo bất kỳ tôn giáo nào, chìm đắm trong lòng thờ ơ đối với khía cạnh tâm linh của cuộc sống. Nhiều người gia nhập cái gọi là phong trào Thời Mới cho nên họ quyết định đi theo những giáo lý hay đạo sư tâm linh khác, nhưng họ tránh né Giê-su như hủi lở.

Đây là một gánh nặng trĩu trong tim thày vì thày biết rõ niệm tinh khôi mà phong trào Cơ đốc đã có thể trở thành. Thày thấy được tác động to lớn mà phong trào này đã có thể đem lại trên hành tinh trái đất nếu ít nhất một túc số tín đồ Cơ đốc đã kiên trinh với các lời dạy tâm truyền của Giê-su. Hãy tưởng tượng điều gì đã có thể xảy ra nếu, trong 2000 năm qua, thông điệp chính của phong trào Cơ đốc khẳng định Giê-su là một tấm gương để noi theo, rằng mọi người đều có tiềm năng bước theo vết chân thày và đạt được quả vị Ki-tô cá nhân của mình. Hãy nhìn vào tác động của sứ mạng ngắn ngủi của Giê-su trên hành tinh này, rồi nhìn xem tác động đã có thể như thế nào nếu hàng ngàn người đạt được cùng một trạng thái tâm thức như thày và đã đem lại những ý tưởng cùng lời dạy mới hầu đưa nhân loại tiến tới.

Với mức tâm thức và hiểu biết hiện tại của con, có thể con khó hình dung được chuyện gì đã có thể xảy ra, nhưng thày có thể cam đoan với con là địa cầu sẽ khác hẳn ngày nay đến mức con khó lòng nhận diện được. Trước đây thày có yêu cầu con xem xét cuộc vật lộn của con người, cuộc đấu tranh quyền lực của con người. Thày có nói là ngày nay con chứng kiến tình trạng một thiểu số thượng tôn quyền lực đã thành công chiếm đoạt quyền lực, của cải cùng tài nguyên thiên nhiên. Nếu lời hứa đích thực của đạo Cơ đốc đã được hiện thực, thì tầng lớp thượng tôn quyền lực kia đã từ lâu biến mất khỏi trái đất, và con đã chứng kiến một xã hội có sự dồi dào và bình đẳng lớn hơn rất nhiều cho mọi người.

Khi con nhìn địa cầu hôm nay, liệu con có thể thực sự tin rằng Giê-su mong muốn một xã hội bất công với một vài phần trăm dân số ở các nước giàu có kiểm soát phần lớn của cải? Liệu con có thể thực sự tin rằng Giê-su mong muốn một xã hội toàn cầu với một vài nước giàu có tiêu thụ phần lớn tài nguyên, trong khi hàng triệu trẻ em tại các nước nghèo có nguy cơ chết đói – và thật vậy mỗi năm có hàng triệu đứa bé chết đói? Con thử hình dung vị thày tâm linh đã mở rộng vòng tay đến người cùi và nhiều thành phần bị ruồng bỏ khác, sẽ chấp nhận và khoan thứ một tình trạng như thế? Ôi con yêu dấu, vậy con có cảm được lòng sôi sục của thày khi thày nói với con rằng sự kiện đạo Cơ đốc chính thống đã được dùng để biện minh cho bất công này là một điều ghê tởm, một sự nhạo báng hoàn toàn các lời dạy nội tâm của Giê-su? Giê-su đã chẳng dạy hay sao: “Hễ các con làm việc đó cho người hèn mọn nhất trong số anh em ta, thì con cũng đã làm cho ta” (Matthew 25:40)? Thày đã chẳng dạy mọi người hãy làm cho người khác những gì mình muốn người khác làm cho mình hay sao (Matthew 7:12)?

Sự kiện giáo lý nguyên thủy của Giê-su bị đánh mất quả thực là thảm kịch lớn nhất đã xảy ra trên hành tinh địa cầu trong lịch sử được ghi lại. Đó là một thảm kịch chính vì tiềm năng để xây dựng một xã hội dồi dào với cơ hội bình đẳng cho mọi người đã lớn đến như vậy. Lời hứa đó cho đến giờ vẫn chưa thành hiện thực. Thay vào đó, đạo Cơ đốc chính thống đã biến thành công cụ cho các thày giả sử dụng những phiên bản hủ hóa của giáo lý Giê-su để biện hộ cho chủ nghĩa thượng tôn và siết cổ quần chúng. Con hãy nhìn vào thực tế lịch sử – suốt nhiều thế kỷ – chính giáo hội tự nhận mình là giáo hội chân chính duy nhất của Giê-su Ki-tô đã bóp nghẹt đời sống tư tưởng và tôn giáo ở châu Âu như thế nào. Con nhìn xem làm thế nào trong thời đại đen tối, Giáo hội đã ngăn chặn mọi tư tưởng mới và mọi sáng chế mới khởi phát, và do đó đã giữ toàn bộ xã hội trong tình trạng lạc hậu nơi người dân phải làm nô lệ cho một thiểu số thượng tôn. Con nhìn xem làm thế nào cùng giáo hội đó đã cố ngăn chặn sự phát triển của khoa học, giáo dục và công nghệ nhằm giảm bớt gánh nặng của người dân thường. Con nhìn xem làm thế nào cùng giáo hội đó đã xây cất những nhà thờ và cung điện nguy nga cho lãnh đạo của mình trong khi phần lớn dân chúng chết đói hay phải sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực. Liệu con có thể bảo rằng một giáo hội như thế đại diện cho Giê-su Ki-tô và giáo lý đích thực của thày?

Không, con không thể. Nếu con thành thật với chính mình, con sẽ nhận ra sự dối trá của một số giáo điều chính thống cùng khoảng cách vĩ đại giữa quả trái của đạo Cơ đốc chính thống với các lời dạy chân truyền của Ki-tô. Giê-su đã chẳng cảnh báo con về tiên tri giả hay sao: “Qua quả trái của chúng mà con biết chúng” (Matthew 7:20)? Và thật vậy, thày giả ở khắp mọi nơi, trong nhà thờ, trong chính quyền, trong truyền thông, trong khoa học. Họ là kẻ dùng quyền lực của mình để giữ vững cho hiện trạng không thay đổi, để bảo con rằng cái ngã hữu diệt là thẩm quyền tối thượng trên hành tinh trái đất, và không có thẩm quyền nào cao hơn sự thật tương đối mà – vào lúc này – họ tuyên bố là sự thật tuyệt đối, và họ dùng cái đó để bào chữa cho đặc quyền đặc lợi của họ. Trên hành tinh này có một thiểu số thượng tôn đã dùng cái ta khởi lên từ trạng thái nhị nguyên, từ sự thật tương đối của ngã hữu diệt, để dựng lên một ông thần, một thượng đế giả, một thần tượng. Sự thật tương đối này của phản Ki-tô đã được cả giáo hội lẫn chính quyền nâng lên thành một sự thật tuyệt đối, không thể nghi ngờ và không thể thách thức. Đây đúng là sự gớm ghiếc của hoang tàn (Daniel 11:31) đang đứng ngay nơi thánh là nơi lẽ ra không nên đứng (Mark 13:14), và đây là lý do thực sự tại sao Giê-su đã lật bàn của bọn đổi tiền trong nhà thờ. Nếu Giê-su còn bước chân trên mặt đất ngày hôm nay, thày sẽ lại lật bàn của những kẻ đang bày hàng quảng cáo cho một sự thật tương đối dựa trên tâm phản Ki-tô trong cả giáo hội lẫn chính quyền, trong truyền thông, trong hệ thống giáo dục, trong các hệ thống chăm sóc sức khỏe và mọi lãnh vực khác của xã hội.

Tại sao thày lại đề cập vấn đề này một cách nhiệt thành như thế? Vì thày hy vọng sẽ lay con dậy với sự thật rằng nếu con muốn thực sự giành lại ý niệm cái ta bất tử của con, bản sắc tâm linh thực sự của con, con không thể chờ đợi điều này xảy ra mà không gặp sự kháng cự, chống đối từ các thế lực của thế gian. Các thế lực này đã hoành hành từ rất lâu trên hành tinh này, và chúng chính là thế lực đã giết chết Giê-su khi thày còn bước chân trên mặt đất và thách thức quyền lực của chúng trên loài người. Các thế lực này biết rõ là nếu người dân bắt đầu tin rằng Nước Trời ở bên trong mình (Luke 17:21) thì chúng sẽ không còn quyền lực nào nữa. Chúng đã phải giết chết vị thày đang trao sự thật đó cho dân chúng, là sự thật sẽ giải thoát họ khỏi lớp thượng tôn quyền lực.

Sau khi chúng giết Giê-su, chúng cũng toan giết tất cả những ai theo thày, và cuối cùng chúng thành công trong việc giết chết tấm gương của thày. Suốt gần 2000 năm, hiếm có ai dám bước theo chân Ki-tô, và không có ai dám tuyên bố mình là Ki-tô Hằng sống trước mặt các thế lực tại chức. Nhiều người tâm linh chân thành đã bước theo con đường vỏ ngoài, một con đường có vẻ đúng đắn đối với những ai bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên. Con đường này không bao giờ có thể dẫn họ đến mục tiêu đích thực là thay thế cái ta hữu diệt bằng cái ta thực. Con đường này không bao giờ có thể giúp họ giành lại quả vị Ki-tô của họ ở đây trên trái đất.

3.3. Con ý thức lực chống lại bước tăng triển của con

Con yêu dấu, nếu con muốn đòi lại ý niệm bản sắc bất tử của mình, con phải đi theo bước chân của Giê-su và xác nhận quả vị Ki-tô cá nhân của mình. Khi làm vậy, con sẽ phải đâm thủng lực chống đối quả vị Ki-tô của con được biểu hiện qua lực phản Ki-tô đã chi phối mọi lãnh vực đời sống trên hành tinh. Trên hết và trước hết, con sẽ phải chọc thủng sự lập trình mà con đã hứng chịu từ thuở thơ ấu, thậm chí từ nhiều kiếp trước – một lập trình mà mục đích duy nhất là khiến con phủ nhận quả vị Ki-tô của mình.

Thày không nói điều này để gây sợ hãi trong con, mà thày nói điều này để cho con một ý niệm thực tế về những gì con cần làm hầu biểu hiện quả vị Ki-tô của con. Thày cũng nói điều này vì khi con nhận ra có lực chống lại quả vị Ki-tô của mình, con đạt được một tầm hiểu hoàn toàn mới và do đó con nhận được uy lực để khắc phục sự chống đối. Những gì con không biết quả thực có khả năng làm hại con, và nhiều người chân thành tìm cầu tâm linh đã bị cầm chân hay đã bỏ ngang bước tiến của mình vì họ không biết đến thế lực đang chống phá sự phát triển của họ. Làm sao con có thể tự vệ trước những gì con không hiểu hay không biết đang có mặt?

Suốt 2000 năm qua, thày đã chứng kiến hàng triệu người thành tâm nỗ lực để biểu hiện một trạng thái tâm thức tâm linh hơn, một cái nhìn tâm linh hơn về cuộc sống. Thày đã thấy họ trong đạo Cơ đốc, trong nhiều đạo khác và trong phong trào Thời Mới, thậm chí cả các phong trào không tâm linh công khai. Thày thấy họ, thày thấy được lòng thành tâm của họ, tình thương yêu trong tim họ. Thày cũng thấy mặc dù họ thành tâm và cố gắng vượt bực, họ vẫn không đạt được tiến bộ họ mong muốn. Họ không đạt được tiến bộ cần thiết để biểu hiện tâm thức Ki-tô. Nhiều người trong số họ cứ theo mô thức tiến lên một bước xong lùi lại một hay hai bước.

Ôi con yêu dấu, nếu con đã tham gia lãnh vực tự cải thiện (self-help) trong một thời gian, hay bất kỳ lãnh vực tu tập tâm linh nào, có lẽ con đã nhận thấy điều đó trong chính đời mình hay con đã quan sát thấy trong đời người khác. Quá nhiều người đột nhiên thức tỉnh và nhận ra cuộc sống là nhiều hơn, rằng cuộc sống có một khía cạnh tâm linh. Họ tìm thấy một giáo lý nào đó, một quyển sách hay một vị thày, bảo rằng cuộc sống là nhiều hơn, rằng họ có khả năng vươn cao hơn các hạn chế hiện tại của mình và biểu hiện một cuộc sống dồi dào hơn, cả về tinh thần lẫn vật chất. Họ trở nên rất nhiệt tình, và lý do là vì sâu thẳm trong chính họ, họ biết đó là sự thật, rằng họ có khả năng vươn lên một trạng thái tâm thức cao hơn. Ký ức nội tâm này đã được Thượng đế ghi sâu vào trong họ, không bao giờ có thể bị mất đi hoàn toàn. Khi con tìm được một vị thày hay một lời dạy vỏ ngoài gợi lại ký ức này, con biết là nó thực, và ngay lập tức con tỏ ra nhiệt tình. Tiếc thay, khi tới việc biểu hiện tâm thức cao hơn đó, biểu hiện lời hứa của giáo lý vỏ ngoài đó, hầu hết mọi người đều thấy rất khó thực hiện. Nhiều người đã nỗ lực chân thành, có khi hàng chục năm trời, mà vẫn không thực sự cảm thấy mình có tiến bộ, không thực sự cảm thấy lời hứa của giáo lý vỏ ngoài thành hình trong đời mình. Một số bỏ cuộc trong tuyệt vọng, họ bỏ luôn ý tưởng một con đường tâm linh, cho rằng đó chỉ là lời hứa hão huyền của một thày giả nào đó. À con yêu dấu, đây chính là âm mưu đằng sau hoạt động của các thày giả.

Có lẽ con từng nghe câu nói dân gian này: “Sự nản lòng là công cụ sắc bén nhất trong hộp dụng cụ của ác quỷ.” Câu này có chút sự thật trong đó, mặc dù ác quỷ còn nhiều dụng cụ khác có nhiều khả năng kéo con ra khỏi đường tu chân chính. Lòng chán nản là một vấn đề rất thực cho mọi người tìm kiếm tâm linh. Nếu con đã trải nghiệm nó trong đời mình, hay quan sát thấy nó trong đời người khác, con sẽ biết việc tiến bước trên con đường tâm linh không nhất thiết là dễ. Tại sao không dễ? Nó khó chính là vì có gì đó con chưa biết, có gì đó con không hiểu. Điều con không biết là có sự chống phá đường tiến bộ của con. Quá nhiều người chưa được dặn dò là có một lực đối chọi với tiến bộ tâm linh. Đạo Cơ đốc truyền thống có thể bàn đến ác quỷ hay phản Ki-tô, nhưng nếu đạo Cơ đốc chính thống không vạch ra được một con đường khả thi dẫn đến quả vị Ki-tô cá nhân, làm sao họ có thể cho con một tầm hiểu đích thực về lực chống lại bước tu của con? Nhiều giáo lý Thời Mới cũng bàn về một đường tu tâm linh nhưng lại ngần ngại nói tới một thế lực chống lại bước tiến của con. Còn toàn bộ giới thẩm quyền trong lãnh vực khoa học thì bác bỏ bất cứ gì không thể được khoa học chứng minh, và họ chế giễu quan điểm cổ xưa bảo rằng có những “tà linh” có thể ảnh hưởng đời con.

Làm sao con sẽ có thể tiến bước nếu con không biết là có sự chống đối, con không hiểu bản chất của sự chống đối cũng như cách nó lấn át tư duy của con và ý niệm cái ta của con? Con sẽ khiến cho bước tiến khó khăn hơn gấp bội nếu con cứ mãi không biết đến vấn đề này. Cũng giống như thể con leo núi mà không biết mình đang kéo theo một chiếc neo thuyền to tướng cứ mắc vào mỗi kẽ đá.

3.4. Đối mặt với nỗi sợ và lòng sợ hãi

Nhiều người sẽ phản ứng với lòng sợ hãi khi thày nói về tà lực hay lực phản Ki-tô. Một cựu tổng thống Mỹ từng nói: “Chúng ta không có gì để sợ ngoài chính nỗi sợ,” và thày muốn giải thích cho con tại sao câu nói này chí lý. Trạng thái tâm thức hiện tại của con, ý niệm cái ta hiện thời của con, dựa trên – hay ít ra bị ảnh hưởng bởi – sự thật tương đối khởi lên từ tâm phản Ki-tô. Tác động của tâm phản Ki-tô là nó tạo ra một tâm ảnh, một thần tượng che khuất thực tại, che mờ sự thật. Có thể nói tâm thức Ki-tô giống như một ngọn đèn sáng rực chiếu lên vạn vật từ mọi hướng để không tạo bóng tối và không có gì bị che giấu. Mọi thứ đều có thể được nhìn thấy dưới ánh sáng rực rỡ của Mặt trời Thượng đế, của tâm Ki-tô. Không có khác biệt, không có bóng tối hay biến đổi (James 1:17), không có chỗ nào cho sự dối trá hay lừa lọc.

Một khi con bước vào tâm thức nhị nguyên, bỗng nhiên có một tình trạng mang khả năng dối trá và lừa lọc. Bản chất của nhị nguyên là khả năng tạo ra một tâm ảnh che khuất thực tại, che mờ sự thật. Thế là con có một hoàn cảnh nơi con có thể tạo ra một bề mặt che giấu cái gì đó đằng sau. Tâm ảnh này có thể che khuất sự thật nhưng nó cũng có thể che giấu một dối trá, che giấu những ý định không trong sáng. Thế là chúng ta có khả năng là một sinh thể tự nhận biết có thể đánh lừa một sinh thể khác một cách cố tình và ác ý. Khi con còn ở trong sự thật của tâm thức Ki-tô thì không có gì bị che giấu và mọi chuyện hiện ra như thật là. Trong tâm thức Ki-tô không có dối trá, không có lừa lọc, không có khuynh loát, không có giả vờ để khiến cho mọi chuyện bề ngoài có vẻ an toàn nhưng bên dưới lại ẩn giấu hiểm nguy. Khi con bước vào tâm thức nhị nguyên, dối trá và lừa lọc có thể xảy ra và đó là tại sao Giê-su mới nói, ác quỷ là cha đẻ của lừa dối (John 8:44). Cách giải thích rộng rãi nhất về khái niệm ác quỷ là bảo rằng ác quỷ là tâm thức phản Ki-tô, qua đó một sự thật tương đối đã thay thế sự thật tuyệt đối.

Trạng thái nhị nguyên này mở ra khả năng là một tình huống trông bề mặt có vẻ yên ổn nhưng bên dưới lại tiềm ẩn những mối nguy có thể chặn nghẽn bước tiến của con đến quả vị Ki-tô. Sự lừa dối ở khắp mọi nơi chung quanh con. Con biết rất rõ người ta có thể nói dối, người ta có thể giả vờ làm bạn với con nhưng kỳ thực họ là kẻ thù. Đó là tại sao Giê-su nói về những kẻ đội lốt chiên nhưng bên trong là loài sói đói mồi (Matthew 7:15). Suốt lịch sử được ghi chép, lọc lừa đã là một phần không thể tránh của cuộc sống trên hành tinh địa cầu. Lọc lừa không thể tránh được chừng nào con người bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên ngăn cản mình nhìn ra sự thật tuyệt đối của Ki-tô. Một khi có một túc số tới hạn những người vươn lên được tâm thức Ki-tô, lọc lừa sẽ không thể có mặt trên trái đất được nữa. Những kẻ dùng lừa dối để đoạt đặc quyền đặc lợi đều không muốn thấy ngày đó xảy đến. Họ sẽ làm tất cả trong khả năng của họ để ngăn chặn chuyện này xảy ra. Thật không khó gì nhìn thấy là suốt chiều dài lịch sử đã có một thiểu số quyền lực đối chọi với bước tiến của loài người về phía tự do lớn hơn, bình đẳng và công bằng lớn hơn trong xã hội. Con hãy nhìn sự chống phá việc thiết lập thể chế dân chủ. Và hãy nhìn vua nước Anh chống đối như thế nào sự trỗi dậy của các thuộc địa ở Mỹ cùng nỗ lực của họ nhằm thiết lập một hình thức chính quyền mới đem lại tự do công bằng cho mọi người.

Quả thật trên hành tinh địa cầu có một thế lực chống đối sự tiến bộ để cố duy trì đặc quyền đặc lợi. Thường thường người ta không nhận chân thế lực này. Nó được che giấu khỏi con mắt của hầu hết mọi người trên hành tinh, và thực sự nếu con nhìn vào lịch sử, con sẽ thấy lực này chỉ có thể sống sót bằng cách ở trong bóng tối hay giả vờ là cái gì khác hơn. Một khi nó bị phơi bày và được nhìn thấy đúng như nó là, hầu hết mọi người trên hành tinh sẽ quyết định tách mình ra khỏi nó và như vậy từ chối trao quyền lực cho nó.

Thế lực phản Ki-tô sẽ luôn luôn tìm cách ẩn náu hay khoác vào hình dạng một lực thiện lành. Cho nên lực đối lập bước tiến của con về hướng quả vị Ki-tô sẽ không hiển nhiên chút nào, nó sẽ lẩn trốn trong bóng tối nơi con khó lòng nhìn thấy. Tại sao điều này quan trọng đến vậy? Con hãy xét những gì thày vừa nói với con ở đây trong bối cảnh câu nói rằng chúng ta không có gì để sợ ngoài chính nỗi sợ.

Đâu là cốt tủy của sợ hãi? Đó là khi con bị dội bởi cái gì đó, con muốn tránh xa khỏi cái gì đó. Tác động tâm lý của sợ hãi là một khi con sợ điều gì, con sẽ không muốn nhìn nó nữa, con muốn làm ngơ hay chạy trốn khỏi nó. Không chịu nhìn sẽ tạo nên sức mạnh cho phản Ki-tô – vì phản Ki-tô hoàn toàn dựa trên lừa dối. Đây là một lợi thế kinh hồn, không những nó có thể chặn nghẽn sự tăng trưởng cá nhân của con mà nó cũng có thể cầm chân đà tiến bộ của xã hội. Lòng sợ hãi của con người và sự không sẵn lòng nhìn vào điều mình sợ, trở thành một tình trạng lưỡng nan, một thế kẹt dường như không lối thoát.

Nếu con muốn thị hiện cuộc sống dồi dào, thật chỉ có một cách duy nhất để con làm được. Đó là vươn lên cao hơn ý niệm cái ta hạn chế dựa trên nhị nguyên, có nghĩa là dựa trên những dối trá và lừa lọc của tâm phản Ki-tô. Con phải làm vậy, con phải trèo ngược lên cầu thang theo cùng một cách như con từng đi xuống cầu thang, nghĩa là bằng cách lấy những quyết định có ý thức. Nếu con sợ không dám xem xét sự hiện hữu của một thế lực phản Ki-tô, nếu con sợ không dám nhìn vào những dối trá do thế lực này chủ xướng, con sẽ không có hy vọng thoát khỏi dối trá. Biết bao người chân thành tìm kiếm tâm linh đã kìm hãm bước tiến cá nhân của mình chính vì họ không chịu đối mặt với nỗi sợ của mình. Họ không chịu quay mặt lại mà nhìn vào thế lực đang cưỡng chống bước tiến của họ bằng cách giữ họ kẹt lại trong một loạt những dối trá cầm tù tâm họ.

Những dối trá của phản Ki-tô có thể vi tế, nhưng một khi con nắm được phần nào sự thật Ki-tô, chúng sẽ không khó lột mặt lắm đâu. Nhưng trước khi con có thể lột mặt dối trá của phản Ki-tô, con phải sẵn lòng nhìn chúng. Nếu con quá mắc kẹt trong sợ hãi đến độ con sợ cả chuyện liếc nhìn những gì con đang lê theo sau, làm sao con có thể thoát khỏi nó đây? Nếu con đi lên sườn núi và cảm thấy mình đang kéo theo cái gì đó sau mình, nhưng con lại sợ quay đầu lại mà nhìn, làm sao con có thể trút bỏ gánh nặng đó xuống? Điều đang ngăn cản bước tiến của con trên đường tu tâm linh là gánh nặng những lừa dối của phản Ki-tô mà con kéo theo sau vì con vẫn cho phép chúng ở lại trong tâm thức mình, trong bình chứa cái ta của mình. Con cho phép chúng ở lại vì con chưa nhìn chúng để thấy chúng như chúng là – những ảo tưởng không chút thực thể nào. Như Giê-su có nói về ác quỷ, “chúng không có chút lẽ thật nào nơi chúng” (John 8:44), cho nên chúng cũng không có quyền lực thực sự nào trên con. Nếu một ý tưởng không là gì khác một ảo tưởng, làm sao nó có thể có quyền lực thực sự trên con? Ngay khoảnh khắc con thấy nó là ảo tưởng, nó mất hết sức mạnh ảnh hưởng con. Nó chỉ có thể duy trì quyền lực bằng cách khiến con sợ nhìn vào ảo tưởng.

3.5. Lòng sợ hãi không có gì để sợ

Con yêu dấu, thật chỉ có một cách để khắc phục nỗi sợ, và đó là nhận ra điều đáng sợ duy nhất là lòng sợ hãi. Tác động tâm lý của sợ hãi là sự tê liệt, nghĩa là con không sẵn lòng nhìn vào điều con sợ. Nếu con không sẵn lòng nhìn vào điều kiện mà con sợ, làm sao con có thể nhận diện là nó khởi lên từ nhị nguyên của phản Ki-tô và do đó không có chút thực thể nào? Làm sao con có thể khắc phục ảo tưởng rằng điều kiện không thực này có thể có bất kỳ quyền lực nào trên con?

Tất cả mọi em nhỏ đều từng sợ bóng tối, nhưng cuối cùng chúng đã khắc phục nỗi sợ đó bằng cách sẵn lòng đối mặt với nó, sẵn lòng ra ngoài đường buổi tối hay bước vào phòng tối để chứng nghiệm là không có gì xấu xảy ra cho mình. Con nhìn xem, vào thời Trung cổ, người ta sợ nhiều loại bệnh tật đến chừng nào vì người ta không hiểu bệnh tật do vi khuẩn gây ra. Một khi hiểu ra trong nước uống có vi khuẩn nguy hiểm thì họ học cách lọc nước và nhờ vậy khắc phục được nỗi sợ bệnh tả và nhiều bệnh khác, và điều này cho họ sức mạnh loại trừ nhiều loại bệnh tật.

Sợ hãi là một sức mạnh trói buộc con, nó giữ con trong cái bẫy, trong nhà tù. Yếu tố chủ yếu giam hãm con trong nhà tù thế phàm chính là lòng sợ hãi. Cái gì sẽ giải thoát con khỏi nhà tù? Như Giê-su đã nói, chính sự thật sẽ giải thoát con (John 8:32). Để tìm ra sự thật này, con phải sẵn lòng đối mặt với nỗi sợ, con phải sẵn lòng nhìn vào điều kiện mà con sợ. Khi con hiểu ra những điều kiện này là gì, con sẽ thấy là con không có lý do gì để sợ chúng.

Một khi con hiểu các điều kiện có vẻ quá đáng sợ khi con còn vô minh, con sẽ thấy là con có một cách để khắc phục các điều kiện này và bỏ chúng lại đằng sau. Đây là tinh túy của đường tu tâm linh, cụ thể là con đối mặt các nỗi sợ của mình và ngộ ra là mình không có lý do gì để sợ. Khi con ngộ ra con không có lý do gì để sợ một điều kiện đặc thù thì con đã khắc phục hạn chế đó và tiến một bước gần hơn sự sống dồi dào.

Đây là cốt tủy của con đường khắc phục. Trên hết, đó là khắc phục các điều kiện trong tâm lý của mình, cụ thể là nỗi sợ khiến mình sợ tiến thêm một bước hay sợ bỏ lại đằng sau một hạn chế nào đó. Sợ hãi luôn luôn là nỗi sợ một điều gì chưa biết, nó luôn luôn nẩy lên từ sự thiếu hiểu biết, từ vô minh. Con nghĩ có một điều kiện mà con không có cách phòng vệ hay thoát khỏi, và do đó con sợ ngay cả việc xem xét điều kiện đó kỹ càng hơn. Ý nghĩ rằng con không thể phòng vệ chỉ hiện hữu trong tâm con, nó dựa trên sự thiếu hiểu biết hay thông tin sai trật. Một khi con khắc phục vô minh này, con sẽ nhìn ra cách khắc phục điều kiện đó và bỏ nó lại đằng sau. Đường tu là con đường khắc phục vô minh, cái vô minh khởi lên từ nhị nguyên của tâm phản Ki-tô, và thay thế nó bằng sự thật không phân rẽ của Ki-tô.

3.6. Nhìn xuyên thấu tâm phản Ki-tô với mắt trẻ thơ

Hãy để thày trở lại khái niệm có một thế lực phản Ki-tô đang chống đối đường tu đến quả vị Ki-tô của con. Đây chính là thế lực đã giết Giê-su 2000 năm về trước. Thày Giê-su được Thượng đế gửi xuống để làm người tiên phong cho một thời đại mới nơi con người đáng lẽ phải khắc phục được lòng sợ hãi của mình để không còn là kẻ theo chân mù quáng các lãnh đạo mù quáng rồi té xuống hố sâu của nhị nguyên và tương đối (Matthew 15:14). Thế lực phản Ki-tô đã giết chết Giê-su, và con biết qua lịch sử chúng cũng toan giết chết mọi tín đồ Cơ đốc trong những thế kỷ sau đó. Khi thế lực này nhận ra là chúng không thể giết chết phong trào Cơ đốc thì chúng ra tay cách khác. Chúng đổi chiến lược dựa trên phương châm: “Nếu bạn không thể đánh bại người ta thì bạn hãy nhập bọn với người ta.” Thế là những người đại diện cho lực phản Ki-tô, những kẻ giảng đạo giả mà Giê-su đã nói sẽ đến mạo danh thày (Matthew 24:5), gia nhập đạo Cơ đốc. Chúng dùng loại vũ khí là vũ khí phổ thông nhất của chúng: chiến lược chia và trị. Bằng cách xâm nhập đạo Cơ đốc, chúng biến nó thành một ngôi nhà phân rẽ với chính nó. Sau một thời gian, chính phân rẽ này cũng được tẩy xóa khi đạo Cơ đốc thay thế giáo lý chân truyền của Ki-tô bằng một tượng khắc, một hình giả, biến Giê-su thành một thần tượng chứ không là một tấm gương.

Quả thực như vậy, trên hành tinh trái đất có một thế lực bên ngoài sẽ chống đối bước tiến của con về cuộc sống dồi dào. Trên hết và trước hết, lực này sẽ tìm cách giữ con trong vô minh, không biết gì về khả năng đạt được cuộc sống dồi dào và tâm thức Ki-tô. Nếu chuyện này không thành, chúng sẽ tìm cách đánh lạc hướng con để con đi theo đường tu giả, tìm cầu vinh quang cho cái ta hữu diệt thay vì khắc phục cái ta hữu diệt và được tái sinh về mặt tâm linh. Nếu lực phản Ki-tô không thể ngăn con khám phá đường tu chân chính, chúng sẽ tìm đủ mọi cách để biến con thành một ngôi nhà phân rẽ với chính mình, để con nghi ngờ chính mình có khả năng hay xứng đáng bước theo đường tu. Chúng sẽ tìm cách khiến con ngờ vực mỗi khía cạnh của con đường dẫn đến quả vị Ki-tô, để hoặc con từ bỏ đường tu, hoặc con cứ đi mãi mà không bao giờ tới.

Điều gì khiến cho lực phản Ki-tô này có thể chi phối đời con, ảnh hưởng tâm thức con? Chúng nắm được gì trong con để dùng làm vũ khí chống lại con, để gieo hạt giống ngờ vực trong tâm con – y như Rắn đã gieo ngờ vực trong tâm Eva? Chúng có thể dùng gì để biến con thành một ngôi nhà phân rẽ với chính mình? Cái đó là sự kiện con mang trong quả cầu cái ta, trong bình chứa cái ta của con, một số tin tưởng khởi lên từ dối trá của phản Ki-tô, những dối trá nham hiểm của rắn. Đây là điều Giê-su đã giải thích qua câu: “Ông hoàng của thế gian có thể đến mà không nắm được gì nơi ta” (John 14:30). Ông hoàng của thế gian chính là tâm phản Ki-tô. Sự kiện y không nắm được gì nơi Giê-su cho thấy Giê-su đã vươn lên tới mức thanh lọc được tâm mình, cả tâm ý thức lẫn tâm tiềm thức, cho không còn một yếu tố nào của phản Ki-tô, một dối trá nào của rắn. Vì Giê-su không còn dối trá nào trong bản thể cho nên ông hoàng của thế gian không nắm được gì để có thể biến Giê-su thành một ngôi nhà phân rẽ với chính nó. Không có cách chi khiến cho thày ngờ vực chính mình, ngờ vực Thượng đế hay nghi ngờ đường tu, vì thày đã tái lập sự nối kết với Hiện diện TA LÀ của thày, mà qua đó thày tiếp cận được sự thật Ki-tô sẽ tức khắc xua tan các lừa lọc dối trá của tâm phản Ki-tô.

Thày hiểu hoàn toàn là trong trạng thái tâm thức hiện tại, con vẫn mang một số yếu tố phản Ki-tô trong bản thể con. Thày hoàn toàn không chê trách gì con vì đây là hậu quả không thể tránh của việc con lớn lên trong thế giới ngày nay. Thày hiểu hoàn toàn là con có một số nghi ngờ vì con mang các yếu tố phản Ki-tô này trong con, và các nghi ngờ đó khiến con sợ hãi. Con không có lý do gì để sợ dối trá của phản Ki-tô vì con có khả năng khắc phục dối trá bằng cách với lên sự thật Ki-tô. Chừng nào con còn ở trong tâm thức nhị nguyên, chừng nào con còn tin một số lời dối nhị nguyên, tâm thức con sẽ là một ngôi nhà xây trên cát (Matthew 7:26), nghĩa là xây trên sự thật tương đối của phản Ki-tô. Nếu “sự thật” của con tương đối thì các thế lực phản Ki-tô sẽ luôn luôn nắm được gì đó trong con để chúng có thể khuynh loát con, khiến con bước vào tâm thức ngờ vực dẫn đến sợ hãi. Chừng nào con còn cho phép những yếu tố nhị nguyên ở lại trong tâm thức, trong bình chứa cái ta, con sẽ không bao giờ hoàn toàn thoát được sợ hãi. Tâm phản Ki-tô sẽ luôn luôn có cách thao túng con để con nghi ngờ chính mình hay nghi ngờ Thượng đế. Chính lòng ngờ vực này làm sợ hãi nẩy sinh.

Nếu con nghi ngờ Thượng đế sẽ bảo vệ con khỏi mọi tà ác thì con không thể tránh sợ tà ác. Khi con có sự thật của tâm Ki-tô, con sẽ biết là không có lý do gì để sợ tà ác vì nó chỉ có thể ảnh hưởng con nếu con mang một số yếu tố nhị nguyên trong tâm thức con. Khi con cho phép sự thật Ki-tô ngụ trong con và xua tan mọi bóng tối, ông hoàng của thế gian sẽ không nắm được gì nơi con nữa để mà có thể kiểm soát con qua sợ hãi, nghi ngờ hay bất cứ cảm xúc tiêu cực nào khác.

Những ý tưởng trên gắn liền với điều thày vừa nói ở đầu chương rằng ý niệm cái ta hữu diệt của con phải chết đi. Ý niệm cái ta hữu diệt của con dựa trên và sinh ra từ tâm thức nhị nguyên, nghĩa là nó hoàn toàn dựa trên những dối trá của tâm rắn. Chừng nào con – tức cái Ta Biết – còn bám giữ các yếu tố này của cái ta dựa trên nhị nguyên, con sẽ không thể tiến bộ tối đa trên đường tu tâm linh. Các thày giả, thế lực phản Ki-tô, biết điều này rất rõ, và chính vì vậy chúng đã mưu toan đặt con vào một thế lưỡng nan không lối thoát. Trong trạng thái tê liệt này, con mang một số dối trá phản Ki-tô trong bình chứa cái ta của mình, nhưng đồng thời con lại sợ nhìn chúng. Nếu con sợ nhìn vào các lừa dối của phản Ki-tô, con sẽ không có cách nào nhìn ra chúng là lừa dối, chúng là ảo tưởng, chúng không có quyền lực gì trên con. Và các lừa dối đó sẽ có quyền lực trên con mặc dù chúng không có thực thể gì hết. Chúng đích thực là ảo tưởng, nhưng chừng nào con còn sợ nhìn chúng và nhận ra chúng là ảo tưởng thì chúng sẽ nắm quyền lực trên con, chúng sẽ vẫn giam con chặt trong nhà tù tinh thần của những hạn chế, thiếu thốn, khổ ải và đau đớn.

Chừng nào con còn bám giữ ý niệm cái ta hữu diệt, hay một nét nào đó của cái ta này, con sẽ không bao giờ hoàn toàn khắc phục được các lời dối mà từ đó cái ta hữu diệt nẩy sinh. Con sẽ không bao giờ giải thoát khỏi một số ảo ảnh. Ở đầu khóa học này, thày đã cho con hình ảnh con bị giam trong một nhà tù và nhà tù này có cánh cửa với một số ổ khóa. Mỗi ổ khóa trên cửa tù tượng trưng cho một lời dối đặc thù của phản Ki-tô, một lời dối nham hiểm của rắn. Để tìm ra chìa khóa sẽ mở một ổ khoá đặc thù, con phải nhìn vào lời dối đó, con phải nhận thức được đầy đủ và có ý thức tại sao đó là một lời dối, tại sao đó là một ảo tưởng và tại sao không gì không thực có thể có quyền lực thực sự trên con.

Chắc hẳn con đã từng nghe truyện cổ tích về bộ quần áo mới của nhà vua. Con nhớ có một nhóm thợ may đến chầu vua, hứa sẽ may cho vua một bộ áo lộng lẫy nhất chưa ai từng thấy trên đời. Nhóm người này không những đã lừa được nhà vua mà toàn bộ triều đình, thậm chí cả quần dân trong nước, để ai nấy tin rằng nhà vua mặc quần áo. Sự lừa dối của họ toàn diện đến độ không một ai có thể, hay sẵn lòng, thực sự xem xét để mà nhận ra đó là một trò lừa – cho đến khi vua đi trước cặp mắt ngây thơ của một đứa bé. Rốt cuộc đứa bé ấy thốt lên: “Uả sao vua không mặc gì cả?” Trong một khoảnh khắc, tất cả mọi người bừng tỉnh, họ ngộ ra sự thật mà họ đã không thể nhìn thấy chỉ vì họ đã không sẵn lòng nhìn kỹ hơn vào trò lừa.

Con hãy suy ngẫm tình trạng tương tự trên địa cầu. Có một nhóm người thượng tôn quyền lực đang đầu thai trong cõi vật lý và đằng sau họ là một thế lực phản Ki-tô. Suốt hàng ngàn năm trời, lực lượng tổng hợp này đã xoay sở để kiểm soát hầu hết mọi người trên hành tinh. Quyền lực và hệ thống kiểm soát của họ dựa trên một loạt những lời gian dối, cho nên quyền lực của họ tồn tại và chỉ tiếp tục tồn tại chừng nào ai nấy trên hành tinh còn tin vào những lời dối đó. Thế lực phản Ki-tô này chỉ có một cách duy trì quyền lực, là giữ cho mọi người mê muội, không thể nhìn xuyên qua những lời dối làm cơ sở cho quyền lực đó. Một vũ khí họ dùng để duy trì ảo ảnh là khiến mọi người sợ nhìn vào ảo ảnh.

3.7. Nhà tù của con không có khóa

Con yêu dấu, lực phản Ki-tô này thừa biết là ngay khi con quyết định nhìn vào một trong những lời dối đó, con có tiềm năng nhìn xuyên qua nó. Họ biết là nếu con vượt quá sự thật tương đối của tâm thức nhị nguyên và tìm cầu sự thật của Ki-tô, con không thể tránh nhìn xuyên qua lời dối. Con sẽ thấy đó là một ảo tưởng, đó là một ngôi nhà xây trên cát, những bãi cát lún của tâm thức nhị nguyên. Thế lực phản Ki-tô cũng biết Giê-su đã đưa ra một lời hứa chân thực khi thày nói: “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì cửa sẽ mở ra cho con” (Matthew 7:7). Họ biết là trong tim con có chìa khóa của hiểu biết. Khi con quyết định dùng chìa khóa này của hiểu biết và thỉnh một hiểu biết cao hơn về một khía cạnh đặc thù của cuộc sống, con sẽ được trao hiểu biết cao hơn đó. Lực phản Ki-tô cũng biết là trước khi con có thể thỉnh sự thật sẽ giải thoát con, con phải khắc phục nỗi sợ nhìn vào lời dối. Con cũng phải khắc phục nỗi sợ khiến con có thành kiến và bị dính mắc với một tâm ảnh nhất định bảo rằng cuộc sống phải như thế này hay thế khác. Con phải sẵn lòng nhìn xa hơn sự thật tương đối mà hiện giờ con nghĩ là sự thật tuyệt đối. Con phải sẵn lòng mở tâm ra sự thật cao hơn của Ki-tô. Nếu con sẵn lòng bước theo lời gọi của Giê-su để trở thành giống như trẻ nhỏ (Matthew 18:3) – nghĩa là con sẵn lòng nhìn một khía cạnh nào đó của cuộc sống, nhìn một sự thật tương đối nào đó, với tâm ngây thơ và cởi mở của trẻ nhỏ – thì con sẽ được trao sự thật cao hơn của tâm Ki-tô. Và khi con có sự thật này, con sẽ có thể nhìn xuyên thấu lời dối gian và thấy đó là một ảo ảnh toàn diện, và do đó nó không có quyền lực gì trên con.

Các tà lực trên hành tinh này không có quyền lực gì trên con ngoại trừ quyền lực mà con cho chúng qua quyền tự quyết của con. Có một sự thật trong câu nói rằng nếu người ta biết tốt hơn thì người ta sẽ làm tốt hơn. Con có đồng ý chăng là nếu con biết rõ một hạn chế mình phải đối mặt dựa trên gian dối, rằng nó chẳng hơn gì một ảo ảnh, thì con sẽ có thể tự giải thoát ra khỏi hạn chế? Có lẽ con còn nhớ thuở là một đứa bé đi bộ trên vỉa hè và được bảo rằng giẫm phải vết nứt trên vỉa hè là điềm xui xẻo, hay có lẽ con từng tin một điều dị đoan tương tự của tuổi thơ ấu? Một niềm tin như thế có thể tác động rất lớn trên cách con đi đứng, thế rồi đến một thời điểm con chỉ đơn giản quyết định là chuyện đó không thể nào có thật. Từ giây phút đó trở đi, ảo ảnh không còn quyền lực trên con nữa và giờ đây con có thể tự do bước chân trên đường đời. Hãy thử tưởng tượng là suốt nhiều năm trời, con từng sống với niềm tin mình nợ ngân hàng một số tiền rất lớn, con đã lo âu không biết làm thế nào trả nợ và đời con đã khổ sở vì thế. Rồi một buổi sáng, con nhận được thư ngân hàng cho hay họ đã tính lộn và con không nợ gì hết. Liệu con sẽ tiếp tục bám giữ nỗi lo âu? Liệu con sẽ khăng khăng đòi trả hết món nợ dù đó chỉ là ảo ảnh? Hay con sẽ đơn giản bỏ nó qua bên và tiếp tục cuộc sống của mình?

Con hiện đang bị giam trong nhà tù của các giới hạn phàm phu và đau khổ. Nhà tù này chỉ thật sự hiện hữu trong tâm con và trong tâm thức tập thể của nhân loại. Nhà tù có một cánh cửa và cánh cửa thì có nhiều ổ khóa, nhưng mỗi ổ khóa tượng trưng cho một ảo tưởng, một lời dối của rắn nham hiểm. Bí mật thực sự của cuộc sống là mặc dù các ổ khoá dường như đang khóa chặt cánh cửa, không một ổ nào là khóa cả. Cái dường như đang khóa chặt cánh cửa của nhà tù con người là một loạt những ảo tưởng nẩy lên từ sự thật “tương đối”, từ các dối trá của rắn, của tâm phản Ki-tô. Kỳ thực, cánh cửa của nhà tù con người không hề được khóa!

Con đinh ninh là mình bị kẹt trong tù, nhưng trong suốt thời gian đó cửa tù vẫn mở. Con chỉ không lấy can đảm để nhìn các ổ khoá kỹ hơn và khám phá là chúng không có khả năng ngăn ai mở cửa. Người ta bị giam trong tù chỉ vì họ cứ tin vào ảo tưởng cánh cửa bị khóa. Kỳ thực, cửa tù không khóa. Khi con ngộ ra sự thật này, con có thể ngay lập tức bước đến cửa, mở cửa ra và bước ra ngoài. Và như thế con bỏ lại đằng sau các hạn chế thế phàm.

Thày biết rõ hoàn toàn là trong trạng thái tâm thức hiện tại của con, con rất khó lòng nào tin được điều thày vừa nói với con. Thế nhưng đó là sự thật tuyệt đối. Tại sao việc chấp nhận sự thật này lại khó đến vậy? Nó khó là vì con vẫn còn một số “sự thật” tương đối trong bình chứa cái ta, một số ảo tưởng mà con tin là thật. Ý niệm cái ta của con vẫn dựa trên các lời dối nhị nguyên của tâm phản Ki-tô, và chừng nào con còn bám lấy chúng, con sẽ không thể chấp nhận là cánh cửa của nhà tù con người thật ra không khóa. Mỗi lời dối hiện ra như một ổ khóa sẽ giữ con lại trong một trạng thái giới hạn, ngăn con thoát ra khỏi nhà tù con người. Chừng nào con còn tin những lời dối đó và chưa nhận ra chúng là ảo ảnh, tất nhiên con không thể chấp nhận sự thật rằng cánh cửa không khóa. Thày không chờ đợi con có thể lập tức chấp nhận là cánh cửa không khóa và cứ thế bước qua ngưỡng cửa. Đây là tại sao thày đã đến để cống hiến cho con một con đường tuần tự hầu con có thể, một cách có hệ thống, nhìn xuyên qua mỗi lời dối trong bình chứa cái ta. Khi con nhìn xuyên thấu một lời dối, con có thể gạt bỏ nó như chuyện không thực, như một ảo ảnh, rồi nhờ vậy con tự giải thoát khỏi nó. Bởi vì với mỗi lời dối con bỏ lại đằng sau, con tiến thêm một bước gần hơn việc thị hiện quả vị Ki-tô cá nhân của mình. Vào một điểm nào đó trong tương lai, có lẽ một tương lai không xa lắm, con sẽ đột nhiên đạt đến một điểm mấu chốt, một điểm không quay lại.

Trước kia khi con bước xuống dưới mức tâm thức Ki-tô, con đã khởi sự rất lần hồi nhưng cuối cùng con đã đến một điểm không quay trở lại khi con quên mất sự kết nối với Hiện diện TA LÀ của con. Bây giờ đi ngược trở lên chiếc cầu thang, con sẽ đến cùng điểm đó từ hướng ngược lại. Khi con vượt quá điểm này, con sẽ tái lập sự kết nối ý thức với Hiện diện TA LÀ. Con sẽ biết thật sự rằng đường tu có thực, rằng lời hứa của tâm thức Ki-tô là một thực tế mà con có khả năng thị hiện trong đời mình.

3.8. Tấm gương của Giê-su là sự phục sinh, không phải là nỗi thương khó

Chắc chắn con đã thấy những lâu đài cổ với một tháp tròn bằng đá, và trong tháp đá có một chiếc cầu thang vòng xoắn ốc. Phía trên cùng của cầu thang xoắn ốc là một cửa mở dẫn lên mái lâu đài tắm mình trong ánh nắng rực rỡ. Khi con bắt đầu đi xuống cầu thang xoắn ốc, ánh nắng vẫn chói rọi xuyên qua cửa, phản chiếu trên tường cầu thang. Khi con tiếp tục bước xuống, nó uốn mình cho tới một điểm con không thể nhìn xuyên qua cửa nữa để thấy trời xanh. Con không biết ánh nắng đến từ đâu nhưng con vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng phản chiếu trên tường.

Khi con đi xuống thêm nữa, con lại đụng một điểm mấu chốt khác. Khi con đi quá điểm này, con không còn nhìn thấy ánh phản chiếu trên tường, và từ đó trở đi, con không còn bằng chứng trực tiếp nào cho thấy có ánh nắng chiếu qua cánh cửa ở đầu cầu thang. Khi con tiếp tục đi xuống, càng ngày con càng chìm vào bóng tối cho tới khi con xuống đến hầm mộ bên dưới lâu đài, và ở nơi đây thì con bị bao trùm trong bóng tối toàn diện.

Đây là một cách minh họa cho những gì xảy ra trong tâm thức con. Con khởi sự ở trên đầu cầu thang nơi con có thể trực tiếp nhìn thấy trời xanh và ánh nắng. Điều này, tất nhiên, tượng trưng cho Hiện diện TA LÀ của con và ánh sáng Thượng đế chiếu rọi qua Mặt trời của bản thể con. Khi con đi xuống cầu thang, bước xuống tâm thức nhị nguyên, con đánh mất sự kết nối trực tiếp có ý thức với Hiện diện TA LÀ của con. Con vẫn còn chút ký ức về phần cao hơn của bản thể con. Nhưng khi con đi xuống sâu hơn, ngay cả ký ức này con cũng mất, và câu hỏi duy nhất còn lại là con đã thực sự bước xuống cầu thang bao xa. Vì con đang đọc khóa học này, cho nên con đã không bước xuống đáy chót cùng của cầu thang. Hay cũng có thể con đã làm vậy trong một tiền kiếp nhưng từ lâu con đã bắt đầu leo lên trở lại. Nếu con không đi trên hành trình hướng thượng thì con đã không mở tâm ra cho khóa học này hay bất kỳ ý tưởng nào thày đang trình bày cho con.

Con nên cho phép mình nhận biết bằng nội giác rằng con đã bước chân trên con đường tâm linh rồi, con đường sẽ dẫn tới sự sống dồi dào của tâm thức Ki-tô. Con nên cho phép mình cảm thấy là con đã neo trụ trên con đường này và cảm nhận đây quả thực là một chiến thắng. Nếu con chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này trước đây, thày yêu cầu con hãy bỏ ra chút thì giờ để quán chiếu sự kiện con đang đi trên con đường về nhà và con đã thực hiện được những tiến bộ đáng kể.

Khi con mang cảm giác mình đã neo vững trên đường tu, thày sẽ yêu cầu con suy ngẫm điều thày vừa bảo con trong chìa khóa này, cụ thể là tại sao việc cho phép ý niệm cái ta hữu diệt chết đi lại quan trọng đến thế. Cái ta hữu diệt này là một gánh nặng mà con lê theo sau lưng, một quả tạ khiến việc đi lên cầu thang xoắn ốc khó khăn một cách không cần thiết. Nếu con chịu quay đầu lại để nhìn quả tạ đằng sau, con sẽ có thể cắt sợi dây đang buộc nó với con. Khi quả tạ rơi xuống, con sẽ dễ dàng leo thang hơn rất nhiều.

Nếu con không chấp nhận sự kiện ý niệm cái ta hiện tại của con phải chết đi trước khi con có thể leo bước kế tiếp trên cầu thang xoắn ốc, con sẽ khiến cuộc sống của con gian nan hơn rất nhiều. Đường tu tâm linh có thể trở nên vất vả đau đớn đến độ nó thực sự biến thành Con đường Thương khó mà biết bao tín đồ Cơ đốc tin rằng họ phải đi theo để được cứu rỗi. Vào thời Trung cổ, hầu hết tín đồ Cơ đốc tin rằng đó là con đường duy nhất dẫn đến cứu rỗi, rằng đó chính là con đường Giê-su đã chứng tỏ. Họ bị ám ảnh bởi biến cố đóng đinh và nỗi khổ của Giê-su trên thập tự giá, và họ đinh ninh rằng để theo đạo Cơ đốc, họ cũng phải đau đớn như Giê-su đã đau đớn.

Vũ trụ là một tấm gương. Nếu con phóng chiếu vào tấm gương vũ trụ hình tư tưởng rằng cuộc sống là đau khổ, Ánh sáng Mẫu-Vật sẽ thị hiện những điều kiện vật lý xác nhận hình ảnh của con. Đây chính là điều đã xảy ra cho nhân loại vào thời đại đen tối. Người ta quá chú tâm đến đau khổ đến độ họ đã tạo ra sự đau khổ vỏ ngoài được thể hiện trong thời đại đen tối đó. Đối với một số người trong thế giới ngày nay, điều này sẽ khó chấp nhận, nhưng dù sao thì đó là sự thật.

Người ta quá chú tâm vào khổ đau do đã chấp nhận một hình ảnh giả, một thần tượng khắc, về giáo lý của Giê-su. Mặc dù Giê-su đã có đau đớn trên cây thập tự, nhưng thày chỉ ở trên thập tự vài giờ. Toàn bộ cuộc đời của thày kéo dài đến 33 năm và mục vụ công cộng của thày thì kéo dài 3 năm. Có công bằng hay không, có phải lẽ hay không, nếu chúng ta để cho mấy giờ chót trên thập tự giá trở thành hình ảnh chủ yếu, hình ảnh quyết định mà chúng ta lưu giữ về cả cuộc đời, về sứ mạng cùng lời dạy của Giê-su? Có đến hàng ngàn và hàng ngàn người từng bị đóng đinh vào thời buổi đó. Chẳng có gì trong việc đóng đinh Giê-su khiến thày là một người đặc biệt. Điều khiến Giê-su đặc biệt là thày đã phục sinh, thày đã lại hiện ra trong thân xác tâm linh phục sinh của thày sau khi bị hành quyết. Điều khiến Giê-su đặc biệt là trước khi bị đóng đinh, thày đã chứng tỏ khả năng điều ngự của tâm trên vật chất, và điều này là bí quyết thật sự của sự sống dồi dào. Giê-su đã không đến để chứng tỏ Con đường Thương khó, một con đường khổ ải. Thày đã đến để làm chứng cho sự sống dồi dào cũng như con đường dẫn đến dồi dào. Đó là vì sao thày nói: “Ta đã đến để họ có sự sống, và có sự sống này dồi dào hơn” (John 10:10).

Giê-su đã làm chứng cho sự sống dồi dào bằng cách chữa lành người bệnh tật, vực người chết sống dậy, biến nước thành rượu, hóa bánh và cá thành nhiều, đi bộ trên nước và ban ra những lời dạy mở rộng trái tim nhiều người. Giê-su thực sự đã đến để chứng minh rằng mọi người đều có khả năng khắc phục cảm giác vật lộn, chiến đấu, và thay vào đó thị hiện sự sống dồi dào. Đâu là bí quyết để khắc phục cảm giác vật lộn? Đó là khắc phục ý niệm cái ta dựa trên hình tư tưởng rằng đời sống là một cuộc đấu tranh, cái ta khởi lên từ sự tách biệt khỏi Thượng đế và dồi dào của Thượng đế. Chỉ khi nào con khắc phục được ý niệm cái ta này thì con mới ngừng phóng chiếu hình ảnh đấu tranh vào tấm gương vũ trụ. Chỉ khi nào con ngừng phóng chiếu hình ảnh như vậy thì tấm gương mới ngừng phản chiếu lại cho con những điều kiện vật chất biến cuộc sống thành một cuộc chiến đấu. Chìa khóa là nhận ra con là nhiều hơn hình ảnh giới hạn đó về chính mình. Thực tại đích thực của con là cái Ta Biết, nhưng con chỉ nhìn xuyên qua ý niệm cái ta hữu diệt, gần như thể con đang mang một cặp kính màu. Khi con cho phép cái ta hữu diệt chết đi, điều này không có nghĩa là cá thể của con sẽ chết, vì cái Ta Biết không thể nào chết. Cho phép cái ta hữu diệt chết đi có nghĩa là cái Ta Biết sẽ được tự do để nhận lấy một ý niệm cái ta cao hơn, cái Ta Biết được tái sinh vào ý niệm cái ta tâm linh của con.

3.9. Hãy nhận tình yêu của thày

A con yêu dấu, con có cảm được Hiện diện của thày với con chăng khi thày trao cho con những lời này? Con có cảm được tình thương mãnh liệt từ trái tim một người Mẹ, là tình thương của Mẹ không ao ước gì hơn thấy những đứa con yêu của mình thoát khỏi nỗi sợ bóng tối? Con có cảm được lòng thày muốn ôm con chặt trong vòng tay ấm áp, muốn nói với con rằng con không có gì phải sợ và mọi chuyện sẽ yên lành? Con có cảm được lòng thày muốn vuốt tóc con, muốn lau nước mắt trên má con, muốn nhìn thẳng vào mắt con và nói: “Con ơi, mọi chuyện sẽ tốt lành. Hãy quên đi quá khứ, hãy bước ra khỏi hầm tối nơi con từng run sợ, hãy bước vào nắng ấm sẽ làm tan chảy mọi sợ hãi của con.”

Thày là người Mẹ tâm linh của con và thày ở đây để giải thoát con. Hầu giải thoát con khỏi mọi hạn chế, trước hết thày phải giải thoát con khỏi nỗi sợ khiến con sợ nhìn vào lời dối nằm ngay tâm điểm của mỗi hạn chế con phải đối mặt. Con hãy nắm lấy tay thày và chúng ta cùng chạy vào ánh nắng, chúng ta cùng bật cười để tan đi nước mắt, tan đi những nỗi sợ của cái ta hữu diệt. Thay vào đó, hãy đón chào mặt trời của ngày mới, ý niệm cái ta mới, nhờ vậy con quên đi cái ta cũ. Trong sự quên lãng này, con cho phép cái ta cũ chết đi mà không để ý thấy là nó không còn. Con giống như đứa bé mải vui đùa với đồ chơi mới đến độ nó quên bẵng mất đồ chơi cũ, cái đồ chơi đã mòn nát trên bãi chơi cuộc đời. Con chú tâm vào cái ta mới đến độ con quên tất cả về cái ta cũ, vì vậy con được tái sinh vào một ý niệm bản ngã mới, vào một bản thể mới. Con được tái sinh vào niệm tinh khôi được cất giữ vĩnh hằng trong tâm Ki-tô nhưng cũng được giữ chặt trong trái tim của Mẹ tâm linh của con. Thày đang giữ chặt niệm tinh khôi cho con, như thày đã từng giữ cho Giê-su cho đến ngày sứ mạng của Giê-su thành tựu.

Thày yêu con và tình yêu của thày vô điều kiện. Thày biết rõ tiềm năng thật của con và thày sẵn lòng giúp con vươn lên trên mọi điều kiện đang ngăn con biểu hiện tiềm năng này trọn vẹn trên trái đất. Con hãy nắm lấy tay thày và thày sẽ bước đi với con, y như thày đã bước với Giê-su trên mỗi bước đường dẫn Giê-su đến quả vị Ki-tô cùng sự thăng thiên vào ánh sáng.

1 | Con là một người đồng-sáng tạo

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 12/4/2005.

Trái tim yêu dấu của thày, con có thể tự hỏi làm thế nào một sinh thể được thiết kế như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế – một sinh thể đi ra từ cái Tất cả của tâm thức Thượng đế, một sinh thể thật sự là Thượng đế đang biểu hiện như một dòng sống cá biệt – lại có thể đánh mất sự nhận biết về cái Tất cả nơi nó xuất phát. Đây là một câu hỏi mà con có thể lợi lạc khi quán chiếu.

1.1. Bí ẩn về sự cá biệt trong cái Tất cả

Câu hỏi này không có câu trả lời độc nhất vì mỗi người đồng-sáng tạo được thiết kế như một cá thể độc đáo. Lý do chính xác đã khiến con mất nối kết với nguồn cội của con sẽ không giống như một người khác. Chìa khóa để hiểu được bí ẩn này là suy ngẫm nan đề làm thế nào con cân bằng được việc biết mình là một sinh thể cá biệt, nhưng đồng thời mình cũng là một biểu hiện của cái Tất cả của Bản thể Thượng đế. Đây là thử thách chủ chốt đi kèm với món quà được ban cho con là cá thể và quyền tự quyết của con. Chưa có người đồng-sáng tạo nào đã có thể tránh né thử thách này. Nhiều người đã khá dễ dàng đáp ứng được thử thách, nhưng nhiều người khác phải mất nhiều thời gian mới giải được bí ẩn. Một phần đáng kể những người đồng-sáng tạo, kể cả hầu hết mấy tỷ dòng sống hiện đang cư ngụ trên hành tinh trái đất, vẫn chưa giải quyết được bí ẩn, chưa giải đáp được câu đố về cá thể con người.

Bí quyết để giải đáp bí ẩn là nhận ra ý nghĩa việc con là một sinh thể cá biệt. Con là ai, con là gì, đâu là cốt lõi của bản sắc con? Mọi tạo vật đều khởi đầu với điểm dị biệt (singularity) của Đấng Sáng tạo. Ở khởi đầu duy chỉ có Thượng đế, Đấng Sáng tạo, và Thượng đế đã là – và đang là – một Sinh thể trọn đủ. Đấng Sáng tạo có khả năng tự nhận biết và ngài có một ý niệm rõ ràng về bản sắc của mình. Đấng Sáng tạo khởi sự bằng cách tạo ra hai lực cơ bản, là lực lan ra của Cha và lực co lại của Mẹ. Hai lực này không chỉ đơn giản là lực vô tri như các lực tự nhiên mà con vốn thấy trên hành tinh trái đất, chẳng hạn như trọng lực và từ lực.

Hai lực tâm linh cơ bản này được chỉ đạo bởi hai sinh thể có tự nhận biết, là hai vị đồng-sáng tạo đầu tiên xuất thân từ Đấng Sáng tạo. Hai sinh thể này được Kinh thánh gọi là Alpha và Omega, sự khởi đầu và sự kết thúc. Họ không tách rời khỏi Đấng Sáng tạo mà thực sự là những phần nối dài, những cách hiển thị của Đấng Sáng tạo. Đó là tại sao Thánh kinh có ghi câu: “Ta là Alpha và Omega, sự khởi đầu và sự kết thúc – Thượng đế phán như vậy, tức là Đấng hiện có, đã có và còn đến, Đấng toàn năng” (Revelation 1:8). Vậy thì chúng ta có Đấng Sáng tạo đã tự biểu hiện là hai sinh thể tự nhận biết, hai đấng đồng-sáng tạo. Mỗi sinh thể này đều có khả năng tự nhận biết cho nên cũng có một ý niệm về cái ta, biết mình là một sinh thể riêng biệt, một cá thể riêng biệt. Bởi vì Alpha và Omega được Đấng Sáng tạo sinh tạo trực tiếp, cho nên sự nối kết của họ với Đấng Sáng tạo vững chắc và trực tiếp đến độ một sinh thể ở cấp này khó lòng nào đánh mất ý thức về mối nối kết đó, về sự hợp nhất đó.

1.2. Cây sự Sống

Alpha và Omega tạo ra hậu duệ, và có một số sinh thể tự nhận biết đã xuất thân trực tiếp từ Alpha và Omega. Sau đó những đứa con trực tiếp của Alpha và Omega tạo ra hậu duệ riêng của mình, rồi cứ thế xuyên qua nhiều bầu cõi sáng tạo. Không một hình ảnh đường thẳng nào có thể mô tả hoàn toàn chính xác thực tại tâm linh. Vì tâm con vẫn còn bị lập trình theo lối suy nghĩ đường thẳng quá đỗi, cho nên thày đang cố làm chuyện bất khả thi là mô tả sự thể này một cách đường thẳng. Tất cả mọi sinh thể tự nhận biết trong toàn bộ thế giới hình tướng đều là phần tử của cùng một dòng dõi dẫn ngược trở lên một Đấng Sáng tạo duy nhất. “Không có ngài thì không có tạo vật nào được tạo thành.” Nếu lấy hình minh họa một cây gia phả, chúng ta có thể thấy cây gia phả có nhiều nhánh tượng trưng cho nhiều thế hệ khác nhau. Con càng xa Đấng Sáng tạo bao nhiêu trên Cây sự Sống thì sự nối kết của con với Đấng Sáng tạo sẽ càng xa cách bấy nhiêu. Con càng xa Đấng Sáng tạo bao nhiêu thì con sẽ càng dễ đánh mất ý thức về sự nối kết này. Con có thể quá chú tâm vào cá thể riêng của mình đến độ cuối cùng con quên bẵng mất nguồn cội của mình, và con xem mình là một sinh thể tách biệt đang trôi nổi giống như con thuyền trôi dạt trên đại dương bất tận.

Nhưng hình ảnh cây gia phả cũng có những hạn chế nghiêm trọng khi con xem đến Thân thể Thượng đế, Cây sự Sống. Trong một cây gia phả bình thường, con sinh ra ở một vị thế nào đó và con không thể thay đổi vị thế này. Nhưng trong Thân thể Thượng đế, mỗi sinh thể tự nhận biết cho dù xuất thân từ đâu, đều có cơ hội vươn lên xuyên qua các tầng cấp khác nhau cho đến khi rốt cuộc nó đạt đến tâm thức trọn vẹn của Thượng đế. Và cũng giống như vậy, một sinh thể tự nhận biết có thể tuột xuống dưới mức nó đã sinh ra, và do đó nó có thể xa cách tâm thức Thượng đế nhiều hơn nữa.

Điều gì sẽ định đoạt con lên cao hơn hay xuống thấp hơn trên Cây sự Sống? Yếu tố quyết định là ý niệm cái ta của con, sự tự nhận biết của con, ý niệm bản sắc của con. Con sinh ra trong một gia đình nào đó và gia đình con có một dòng dõi có thể truy ngược lên nhiều thế hệ. Gen của con và cách nuôi dạy đã ảnh hưởng đến con người mà con là hôm nay, con người mà con xem mình là. Điều nhiều người không nhận ra là ý niệm bản sắc của con không hề cố định. Mặc dù nó có thể bị tác động bởi những lực bên ngoài, con có tiềm năng nắm chủ động cái ta của mình, thay đổi ý niệm cái ta theo viễn quan cao nhất của con.

Cơ thể vật lý của con là sản phẩm các gen di truyền trong gia đình con, và sự dạy dỗ con nhận được là sản phẩm của thế giới quan cùng nền văn hóa gia đình và xã hội. Nhưng con vẫn là một cá nhân riêng biệt, và con có khả năng vươn lên cao hơn nguồn gốc gia đình con theo nhiều cách, như nhiều người đã chứng tỏ. Vì con thực sự là một sinh thể tâm linh cho nên con có quyền tự do hoàn toàn để vươn lên cao hơn ý niệm bản sắc hiện tại của con, thậm chí vươn lên cao hơn cả ý niệm bản sắc mà cá thể con được sinh tạo. Cốt lõi con người con là ý niệm cái ta, ý niệm bản sắc của con.

1.3. Bản sắc của con không cố định bất biến

Khi Đấng Sáng tạo ban cho con khả năng tự nhận biết, khả năng tưởng tượng và quyền tự quyết, ngài đã tạo ra một sinh thể không có bản sắc cố định bất biến. Theo nghĩa đen con chính là con người mà con nghĩ mình là, con là con người mà con thấy mình là. Nếu con thấy mình là một đứa con của Thượng đế thì con chính là con của Thượng đế. Nếu con thấy mình là môt người phàm trần hữu diệt (mortal) thì con chính là một người phàm trần hữu diệt, ít ra trong thế giới của thời gian và không gian. Con có khả năng thay đổi ý niệm bản sắc của con, thay đổi nhận biết về mình bằng cách dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết của mình. Con có thể quên hay phủ nhận mình là con trai hay con gái của Thượng đế và thay vào đó hình dung, chấp nhận bản sắc mình là một kẻ tội đồ hữu diệt. Cũng vậy, con có khả năng bỏ lại đằng sau ý niệm bản sắc giới hạn của một người phàm trần và đòi lại bản sắc thực mà con đã có khi bước vào hiện hữu. Xong con có thể xây dựng dựa trên niệm tinh khôi đó và trở nên nhiều hơn nữa so với khi con được sinh tạo, và đây chính là kỳ vọng mà Đấng Sáng tạo dành cho con.

Để hiểu được những khái niệm này, có thể con sẽ cần một chút suy tư bằng trái tim, vì tâm phân tích sẽ không thể giải quyết những gì có vẻ mâu thuẫn đối với nó. Tâm Ki-tô Hoàn vũ lưu trữ bản mẫu thiêng liêng, niệm tinh khôi của cá thể con, là cá thể được ban phú cho con khi dòng sống của con lần đầu tiên bước vào hiện hữu. Bản mẫu này không bao giờ có thể bị mất, và sinh thể tâm linh lớn hơn mà từ đó con xuất phát sẽ tồn tại ở cõi tâm linh cho dù con có làm gì ở đây trên trái đất. Trên hết và trước hết, sinh thể tâm linh này là Hiện diện TA LÀ của con, nhưng Hiện diện TA LÀ của con là một thành phần của cây gia phả đi ngược trở lên Đấng Sáng tạo, có thể xuyên qua nhiều thế hệ hay cấp bậc. Như một sinh thể cá biệt, con là nhiều hơn Hiện diện TA LÀ của con, nhiều hơn cây gia phả của con và nhiều hơn cả Đấng Sáng tạo của con. Khi thày nói “nhiều hơn,” thày không có ý so sánh như thể con hơn Thượng đế. Điều thày muốn nói là con có một ý niệm tự nhận biết đặc thù vượt ngoài sự tự nhận biết của Đấng Sáng tạo cùng các thành viên trong gia đình tâm linh của con.

1.4. Hai khía cạnh của tự nhận biết

Con có một ý niệm tự nhận biết đặc thù, và ý niệm này gồm có hai khía cạnh: một là “nhận biết,” hai là “tự” – hay cái ta. Con nhận biết là con hiện hữu, con có bản thể, con mang sự sống. Nhận biết này tập trung vào cái con xem là “cái ta” của con, bản sắc của con. Nhận biết của con là bình chứa bản thể con, và ý niệm cái ta là nội dung trong bình chứa bản thể của cá nhân con. Nhận biết đem lại cho con hiện hữu, và cái ta thì đem lại cho sự hiện hữu của con một trọng tâm cụ thể và từ đó một cách để con tự biểu đạt trong thế giới hình tướng.

Sự nhận biết độc lập với cái ta, theo nghĩa là nó không tùy thuộc bất kỳ hình tướng nào. Nó có thể tồn tại như là nhận biết thuần khiết mà không tập trung vào – hay xuyên qua – một cá thể đặc thù, và chính nhận biết này là cốt lõi của bản thể Thượng đế. Thượng đế tối thượng là một trạng thái nhận biết thuần khiết, và nhận biết này thì vượt khỏi hình tướng, có nghĩa là nó không bao giờ có thể bị mất hay chia cắt. Nó có thể biểu đạt qua một hình tướng cụ thể, qua một cái ta cá nhân, bởi vì “không có ngài thì không tạo vật nào được tạo thành”. Nội dung của cái ta cá nhân này có thể che mờ nhận biết thuần khiết, thế nhưng nhận biết thuần khiết thì bất biến và trường cửu. Như một câu tục ngữ Ấn cổ đã nói: “Con người đến và con người đi, nhưng Ta thì tiếp tục mãi mãi.”

Ý niệm cái ta có thể thay đổi, tùy thuộc vào cách con nhìn mình như thế nào, con tưởng tượng mình ra sao, và con quyết định cái gì là thực và là một phần của chính con. Nó tùy thuộc hoàn toàn vào nội dung mà con bỏ vào bình chứa cái ta, và tất nhiên, ý niệm cái ta của con có thể bị ảnh hưởng bởi thế giới hình tướng. Đây là tại sao cái Ta Biết có thể bị lạc trong hình tướng và quên mất nhận biết thuần khiết là nguồn cội của nó. Con có thể thay đổi nhận biết về mình bằng cách thay đổi ý niệm cái ta, thay đổi nội dung bình chứa bản thể của con.

Nhận biết của con giống như một tờ giấy trắng, và trên tờ giấy này Đấng Sáng tạo đã vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp về bản mẫu thiêng liêng của con. Khi con bắt đầu chấp nhận một ý niệm thấp hơn về cái ta thì con dùng mực đen vẽ nguệch ngoạc lên giấy. Nếu con cứ tiếp tục làm vậy, rốt cuộc sẽ tới điểm những nét vẽ nguệch ngoạc này không chỉ che phủ bản mẫu thiêng liêng của con mà cả tờ giấy trắng bên dưới. Nhận biết thuần khiết và khuôn đúc cái ta tâm linh của con bị che lấp bởi một mạng lưới chằng chịt những gạch đen không có cấu trúc rõ ràng nào. May mắn thay, gạch đen không dùng mực không thể tẩy xóa mà được vẽ lên một tấm nhựa trong, có nghĩa là cả tờ giấy trắng lẫn bản mẫu ban đầu vẫn nguyên vẹn, không hề gì.

Trước khi một hình tướng cụ thể có thể được tạo ra, nó phải hiện hữu như một tâm ảnh trong tâm có tự nhận biết. Cái tâm tự nhận biết mà thày vừa gọi là Tâm Ki-tô Hoàn vũ là kho lưu trữ vĩnh viễn cho tâm ảnh, cho bản mẫu mô tả cá thể của con, cá thể mà con đã có khi được sinh tạo. Khi con phát triển khả năng tự nhận biết, đúng ra con sẽ xây dựng thêm trên nền tảng đó và khuếch trương ý niệm cái ta để con trở thành nhiều hơn những gì con đã là lúc ban đầu. Khi con đồng-sáng tạo thuận theo các định luật của Thượng đế, ý niệm cái ta mà con khuếch trương cũng sẽ được ghi lại trong tâm thức Ki-tô. Một khi đã thu hoạch thì thành tựu của con không bao giờ có thể bị mất.

1.5. Cái Ta Biết là cái nó thấy nó là

Trước khi một hình tướng có thể hiển thị, tâm ảnh phải được phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Tâm ảnh, bản mẫu cho bản sắc cá nhân của con, không phải là một sinh thể tự nhận biết có khả năng bước vào thế giới hình tướng và hành xử ngay như một người đồng-sáng tạo. Bản mẫu, niệm tinh khôi, chỉ là một ý tưởng được giữ trong tâm của Sinh thể tâm linh lớn hơn nơi con đã xuất thân. Đó là một sinh thể mang tiềm năng chứ không là một sinh thể đã hiển thị. Cái đi vào thế giới hình tướng là cái Ta Biết, là cái ta tự nhận biết của con, nó nhận biết chính nó là một sinh thể riêng biệt có cá thể. Thượng đế trước hết tạo ra bản mẫu cho bản thể con, nhưng bản mẫu này chỉ trở nên sinh động khi ngài thổi sự sống vào nó bằng cách cho phép một phần Bản thể ngài làm linh hoạt cái ta với nhận biết thuần khiết.

Khi ý niệm cái ta lần đầu tiên được tạo ra, tất nhiên nó hoàn toàn thẳng hàng với bản mẫu thiêng liêng của con. Đến khi nó du hành vào thế giới hình tướng và sử dụng trí tưởng tượng cùng quyền tự quyết của nó, nó có thể trở nên nhiều hơn hay ít hơn bản mẫu nguyên thủy. Bản mẫu thiêng liêng cho bản sắc của con được lưu trữ vĩnh viễn trong Tâm Ki-tô Hoàn vũ, nhưng cái Ta Biết, tức ý niệm cái ta hiện thời của con, bất cứ lúc nào cũng là cái nó nghĩ nó là, cái nó thấy nó là. Có nghĩa là khi con thay đổi nhận biết về mình thì con người cũ của con, ý niệm cũ về cái ta, sẽ chết đi và không còn nữa. Khi một hạt lúa nảy mầm trên mặt đất, hạt lúa đó không còn nữa. Nó đã biến thành mầm và hạt thì không còn hiện hữu. Khi mầm mọc thành cây thì đến lượt mầm không còn nữa. Nó vẫn hiện hữu như một khái niệm, nhưng nó không hiện hữu như một thực tế hiển thị vì nó đã được thay thế bởi cây lúa.   

Điều này nghe có vẻ trừu tượng nhưng con hãy nhìn trải nghiệm của mình trong kiếp sống này mà xem. Khi con lên 5, con không nhìn thế giới hay nhìn chính con giống như bây giờ. Con có một tầm nhìn khác, rất có thể một tầm nhìn hạn hẹp hơn. Ngày hôm nay đứa bé đó ở đâu? Thực tế là nó không còn tồn tại. Thân xác đứa bé không đang tồn tại trong hình dạng thuở trước nữa, mà sự tồn tại này chỉ kéo dài ở chỗ nó đã lớn lên thành thân xác hiện thời của con. Ý niệm cái ta của đứa bé 5 tuổi cũng không tồn tại trong dạng cũ vì nó đã phát triển thành ý niệm cái ta mà con đang có hôm nay. Thày phải cảnh báo là cách ẩn dụ này có một số giới hạn vì những gì đã xảy ra cho con vào tuổi thơ ấu có thể đã tạo ra những vết thương tâm lý vẫn ảnh hưởng con đến ngày nay. Tuy vậy, ẩn dụ này vẫn minh họa được sự kiện là sự tự nhận biết có mặt trước đây đã được thay thế bởi một ý niệm rộng lớn hơn về cái ta.

1.6. Cái chết của cái ta tâm linh

Thày khuyến khích con hãy quán chiếu điều này trong tim và tìm kiếm cái hiểu trực giác từ bên trong vượt ra khỏi những lời thày đang trao cho con. Khi lần đầu tiên con dấn thân vào thế giới hình tướng trong tư cách một sinh thể riêng biệt, ý niệm cái ta mà con mang là sự biểu đạt của bản mẫu thiêng liêng của con, là cá thể mà Thượng đế đã ban cho con. Trong một thời gian, con đã xây dựng thêm ý niệm cái ta này. Rồi ở một điểm nào đó trong quá khứ xa xôi, con bắt đầu đi theo hướng ngược lại. Con bắt đầu thu hẹp ý niệm cái ta của con thay vì khuếch trương. Thay vì mở rộng nối kết với Hiện diện TA LÀ, con đã bắt đầu hạn chế dần mối nối kết này. Con giới hạn ý niệm cái ta của con và chú tâm nhiều hơn vào nội dung của bình chứa bản thể, dần dần quên mất chính bình chứa. Con tập trung hơn vào ý niệm cái ta mà con đã tạo dựng dựa trên trải nghiệm của mình trong thế gian thay vì ý niệm cái ta bất tử được lưu giữ trong tâm Ki-tô.

Lúc đầu đây là một diễn biến xảy ra từ từ, nhưng đến một thời điểm then chốt, con vượt quá điểm có thể quay ngược – mặc dù luôn luôn có khả năng con quay trở lại bản mẫu thiêng liêng của con. Một khi con đã vượt quá điểm này, con bị kẹt lại trong ý niệm cái ta hạn chế mà con đã tạo dựng. Con đánh mất sự kết nối ý thức với Hiện diện TA LÀ và do đó con quên mất nguồn cội thực của mình. Ý niệm cái ta của con không còn dựa trên sự kiện con là một phần nối dài của Hiện diện TA LÀ, vĩnh viễn nối kết với Hiện diện. Giờ đây con dựng lên một ý niệm cái ta mới dựa trên sự tách biệt với Hiện diện TA LÀ, hay đúng hơn tách biệt với hình ảnh về Thượng đế mà con đã xây đắp từ các tư tưởng được tìm thấy trong thế gian.

Chắc hẳn con từng đặt một nồi nước lên bếp và bật lửa. Trong một thời gian, nước dần dần hâm nóng và con không thấy có gì thay đổi. Nhưng khi nước nóng đến một nhiệt độ nhất định, sẽ có bong bóng nổi lên và chỉ ít lâu sau, nước lặng biến thành nước sôi sùng sục. Nếu con tiếp tục đun nồi nước, cuối cùng toàn bộ khối nước sẽ bốc lên thành hơi. Các phân tử nước vẫn còn ở đó, nhưng chúng đã khoác lấy một hình dạng khác hẳn, không còn là nước lỏng nữa. Bây giờ chúng hiện ra dưới dạng hơi nước, một dạng vô hình với những đặc tính khác nước lỏng. Mặc dù phân tử nước vẫn tồn tại nhưng nồi nước con đã đặt lên bếp lửa không còn nữa.

Trong một tiến trình rất lần hồi, con bắt đầu chìm xuống một ý niệm bản sắc thấp hơn. Lúc đầu hầu như con không nhận thấy là mình đang tách ly khỏi Hiện diện TA LÀ thay vì tiến lại gần hơn. Rồi đến một điểm sự nối kết của con với Hiện diện TA LÀ bị thu hẹp đến một giai đoạn quyết định, và thật đột ngột con đánh mất sự nhận biết ý thức về mối nối kết đó. Đây đúng là chuyện xảy ra chớp nhoáng. Con có thể hình dung con kéo căng một sợi dây cao su nhiều lần mà không làm nó đứt, luôn luôn có thể đưa nó về hình dạng nguyên thủy. Thế rồi tới điểm nó đứt thì ngay lúc đó con không thể đem nó về hình dạng nguyên thủy được nữa. Sự thể này được minh họa trong câu đồng dao quen thuộc về anh chàng Humpty-dumpty bị ngã nặng. Tất cả voi ngựa lẫn quân lính của nhà vua – tượng trưng cho bất kỳ thế lực nào của thế giới vật chất – cũng không thể gắn lại cho Humpty liền lặn như cũ.

Trước khi con đánh mất nối kết ý thức với Hiện diện TA LÀ của con, con vẫn coi mình là một sinh thể tâm linh nối kết với một cái gì lớn hơn mình, nối kết với một cái gì vượt ngoài thế giới vật chất. Sau khi con đi quá điểm tách biệt thì con thấy mình là một cá nhân riêng biệt, tách rời khỏi cái mà giờ đây con nhận thức là một Thượng đế bên ngoài, và tách rời khỏi các sinh thể tự nhận biết khác. Con không còn xem mình là một sinh thể tâm linh mà một sinh thể bị giam cầm trong giới hạn của thế giới vật chất, giới hạn của thời gian và không gian. Sự thay đổi này gây ấn tượng rất mạnh, mạnh đến nỗi cái biết về mình như một sinh thể tâm linh, cái ta mà con là trước khi tách biệt, lăn ra chết. Ý niệm cái ta mà con đã có trước khi đi quá điểm then chốt đó, không còn nữa. Nó đã được thay thế bằng một ý niệm cái ta mới không còn dựa trên sự nối kết với nguồn cội mà dựa trên sự tách biệt khỏi nguồn cội của con. Cái Ta Biết vẫn duy trì một sự tồn tại liên tục, nhưng nội dung của bình chứa cái ta đã khác hẳn – có thể còn đi ngược lại – bản mẫu thiêng liêng của con.

1.7. Ẩn dụ trong câu chuyện Adam và Eva

Hành trình đi xuống một ý niệm cái ta thấp hơn được Thánh kinh mô tả trong câu chuyện Sa ngã của Adam và Eva. Ngược với niềm tin phổ biến nơi các cộng đồng chính thống, đúng lý câu chuyện này không bao giờ được hiểu theo nghĩa đen. Câu chuyện không mô tả hai vị tổ tiên của toàn bộ nhân loại, mà thay vào đó minh họa cho quá trình sa ngã – sa ngã xuống một ý niệm cái ta thấp hơn, một trạng thái tâm thức thấp hơn – mà mỗi con người đang sống trên địa cầu đều đã trải qua trong quá khứ xa xôi, nghĩa là nhiều kiếp trước đây. Nếu con có thể chấp nhận sự thật này, con sẽ học được những bài học quý báu từ câu chuyện Adam và Eva. Còn nếu con không chấp nhận, con sẽ tiếp tục kẹt lại trong cách diễn giải chính thống. Nhưng nếu con dính mắc với cách diễn giải chính thống thì con đã không đang đọc loạt bài này – con đã từ lâu gán cho nó một cái nhãn dị giáo hay báng bổ.

Con yêu dấu, con hãy xem xét câu chuyện Adam và Eva. Con sẽ nhận thấy có một người nam và một người nữ. Con sẽ nhận thấy câu chuyện kể rằng Adam được tạo trước, rồi Eva mới được tạo ra từ chiếc xương sườn của Adam. Kỳ thực điều này nhằm minh họa cho sự kiện Hiện diện TA LÀ của con là khía cạnh nam, hay tâm linh, của toàn bộ bản thể con. Cái Ta Biết, ý niệm cái ta đã bước xuống thế giới vật chất, là thái cực nữ của toàn bộ bản thể con. Hiện diện TA LÀ của con ngụ vĩnh hằng nơi cõi tâm linh và không bị bất cứ gì xảy ra trong thế gian này ảnh hưởng. Không phải Hiện diện TA LÀ bị Rắn dụ dỗ rồi rơi vào tâm thức tách biệt, tâm thức nhị nguyên, mà là khía cạnh nữ của bản thể con, cái Ta Biết, đã bị dụ cắn vào tâm thức nhị nguyên, tâm thức của thiện ác tương đối. Đây chính là tâm thức khiến con nghĩ rằng con có thể chế ra định nghĩa riêng của mình về thiện và ác thay vì chấp nhận định nghĩa tuyệt đối của tâm thức Ki-tô – rằng thiện có nghĩa là thuận theo các định luật của Thượng đế, và ác có nghĩa là đối nghịch lại tổng thể.

Trong câu chuyện Adam và Eva, con thấy Eva bị dụ dỗ bởi một cái gì bên ngoài nàng. Có mấy cách diễn giải có giá trị về Rắn sẽ minh họa những khía cạnh khác nhau của quá trình Sa ngã. Trong khuôn khổ cuộc thảo luận của chúng ta hôm nay, thày muốn dùng cách diễn giải rộng nhất, phổ quát nhất, và nói rằng Rắn biểu tượng cho một trạng thái tâm thức là bạn đồng hành tất yếu cho quyền tự quyết của con. Khi Thượng đế ban cho con quyền tự quyết, điều không thể tránh khỏi là con đạt được khả năng đi ngược lại các định luật của ngài thay vì tuân theo. Đây là sự cám dỗ đi kèm với sự kiện con là một sinh thể tự nhận biết với trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Con tưởng tượng ra chuyện khả thi là mình có thể đi ngược lại định luật của Thượng đế và con có thể quyết định làm như vậy. Cám dỗ này luôn luôn có mặt như một tiềm năng, nhưng con không bắt buộc phải tham gia, đắm mình vào đó. Một người đồng-sáng tạo có tự nhận biết hoàn toàn có khả năng gạt bỏ cám dỗ này và tiếp tục đồng-sáng tạo trong khuôn khổ định luật Thượng đế. Nhưng một số người đồng-sáng tạo lại chọn nhìn vào cám dỗ, rồi bắt đầu phân vân không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra nếu mình quyết định đi ngược lại định luật Thượng đế và phớt lờ sự hướng dẫn từ Trên.

1.8. Thử nghiệm trong vô minh

Những tính toán này khởi lên trong tâm, tâm lý luận, tâm phân tích. Chúng khởi lên vì khi con là một người đồng-sáng tạo tân lập thiếu kinh nghiệm, con chưa có cái hiểu ý thức trọn vẹn về các định luật của Thượng đế. Con không hiểu trọn vẹn là các định luật này không hề hạn chế tự do sáng tạo của con, mà chỉ bảo vệ quyền tự do đó hầu con có thể biểu hiện cá thể con trong sự hài hòa với Thân thể Thượng đế. Vì mức tự nhận biết của con khuếch trương chưa đủ, con chưa hiểu rằng con là một với Thân thể Thượng đế, cho nên những gì con làm tới người khác thì con cũng làm tới chính con. Con chưa hiểu trọn vẹn rằng việc tuân thủ định luật của ngài là một việc làm có lợi cho con – vừa có lợi, vừa minh triết.

Do hiểu hạn chế như vậy mà có thể con đã phân vân không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu mình quyết định đi ngược lại định luật và chỉ đạo của Thượng đế. Có thể con đã bắt đầu cảm thấy định luật của ngài hạn chế tự do sáng tạo của con, và con phải được phép thử nghiệm khả năng sáng tạo mà không bị bất cứ gì cầm chân. Kỳ thực con luôn luôn được phép thử nghiệm với sáng tạo của mình, nhưng vì vũ trụ vận hành như một tấm gương cho nên không thể tránh được chuyện con phải gặt mỗi khi con gieo. Luật của Thượng đế được thiết lập để đảm bảo con chỉ gặt những kết quả tích cực sẽ khuếch trương cuộc sống của con lẫn cuộc sống của toàn bộ Thân thể Thượng đế. Luật của Thượng đế không thực sự giới hạn con, và cảm nhận giới hạn xuất phát từ một cái hiểu hạn chế về sự sống.

Con khởi đầu với một hiểu biết giới hạn về cách vận hành của thế giới nhưng Thượng đế không bỏ con một mình trong hiểu biết giới hạn đó. Câu chuyện vườn Eden kể rằng Adam và Eva đã bước đi và nói chuyện với Thượng đế. “Thượng đế” này không phải là Thượng đế trong nghĩa tối thượng mà là một đại diện của Đấng Sáng tạo trong vai trò thày tâm linh cho dòng sống của con. Vì ý niệm cái ta của con còn mới và thiếu kinh nghiệm, con vẫn là một đứa con của Thượng đế chưa trở thành một người đồng-sáng tạo hoàn toàn ý thức. Khi con bắt đầu sử dụng khả năng sáng tạo của mình và ý thức hơn về quyền năng của trí tưởng tượng và quyền tự quyết, con cũng bắt đầu ý thức hơn về quả trái của cây hiểu biết thiện ác. “Cây” này biểu tượng cho sự kiện con có chọn lựa đi ngược lại các định luật của Thượng đế một cách cố tình và tự cắt mình ra khỏi nguồn cội của mình hay không. Khi con biết trái cây này nhiều hơn, con bị dụ dỗ cắn vào hầu tìm xem chuyện gì sẽ xảy ra. Vị thày tâm linh trong vườn biết rõ chuyện gì sẽ xảy ra nếu con ăn trái. Vì con chưa hiểu trọn vẹn tại sao việc tuân thủ định luật Thượng đế mang lại lợi ích cao nhất cho con, vị thày phải cho con một hiểu biết giới hạn hơn. Điều này có thể so sánh với khi con dạy một đứa trẻ không nên chạm vào bếp nóng kẻo phỏng tay. Trẻ con chưa đủ kinh nghiệm để hiểu được phỏng tay có hậu quả thế nào, và trong cương vị cha mẹ có trách nhiệm, con không muốn nó bị phỏng. Con cố dạy đứa bé không nên chạm bếp nóng mặc dù nó không hiểu tại sao.

Vị thày trong vườn Eden đã dặn các sinh thể tự nhận biết dưới sự hướng dẫn của mình rằng nếu họ dự phần vào trái cây hiểu biết về thiện ác, chắc chắn họ sẽ chết. Nhiều người tâm linh nhìn vào câu chuyện này đã suy đoán rằng chắc hẳn vị Thượng đế trong vườn đã nói dối Adam và Eva. Vì thật vậy, họ đã ăn trái và đã không chết, mà họ bị đuổi ra khỏi vườn. Đây là cách suy luận với cùng tầm hiểu hạn hẹp đã khiến cho vị thày trong vườn không thể giải thích tại sao họ không nên ăn trái. Khi ý niệm cái ta của con đi quá điểm then chốt và đánh mất sự nối kết ý thức với Hiện diện TA LÀ, đúng là ý niệm cái ta đó đã chết và không còn nữa. Đây là điều vị thày biết rõ nhưng những người đồng-sáng tạo thiếu kinh nghiệm kia thì không thể nắm bắt. Họ chưa đủ tự nhận biết để biết rằng con chính là con người mà con nghĩ con là.

Nếu con bỏ một con ếch vào nồi nước sôi, nó sẽ cảm được sức nóng và nhảy ngay ra ngoài. Nhưng nếu con bỏ ếch vào nồi nước lạnh rồi mới hâm nước lên, sự thay đổi sẽ từ từ đến độ con ếch không nhận ra và vì vậy nó sẽ bị luộc chín đến chết. Đây chính là điều có thể xảy ra cho một sinh thể tự nhận biết chưa hiểu được trọn vẹn các hậu quả của việc dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết của mình để thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên, với hiểu biết về thiện ác. Lúc đầu, con có thể lạm dụng trí tưởng tượng và quyền tự quyết mà không cảm ngay được hậu quả của việc làm này. Từ từ, con càng ngày càng bị bao trùm trong tâm thức nhị nguyên, nhưng sự chuyển biến xảy ra quá lần hồi đến độ con không để ý.

Cuối cùng thì sẽ đến một điểm không có trở lại khi đột ngột con chuyển sang một giai đoạn tự nhận biết khác. Giống như nước sôi biến thành hơi nước, ý niệm cái ta của con xoay chuyển và giờ đây con bị kẹt vào tâm thức nhị nguyên qua đó con xem mình tách biệt với Thượng đế. Ý niệm cái ta đã từng duy trì ít nhất một chút nối kết với Hiện diện TA LÀ của nó, bây giờ đã chết. Từ nhận biết này có một cái ta mới ra đời, thế nhưng cái ta này là một cái ngã hữu diệt dựa trên tách biệt và nhị nguyên. Cái ta này giờ đây là điều cái Ta Biết tự định nghĩa mình là gì. Con là con người mà con thấy mình là, cho nên nếu con thấy mình là một con người hữu diệt tách biệt với Thượng đế thì chính con là vậy đó – ít ra ở đây và bây giờ, trong không gian và thời gian.

1.9. Cắn một miếng tâm thức Ki-tô

Trái tim yêu dấu của thày, cái chết của cái ta tâm linh của con, của ý niệm cái ta tâm linh, là vấn đề trung tâm trên hành tinh trái đất. Người ta có thể nói đây là vấn đề duy nhất trên hành tinh trái đất. Tất cả mọi vấn đề riêng biệt mà con thấy trên hành tinh này thật sự đều xuất phát từ tâm thức của thiện ác tương đối, là tâm thức nhị nguyên khiến cho các sinh thể tự nhận biết chế tạo định nghĩa riêng của mình về đúng-sai, tốt-xấu. Tất cả định nghĩa này đều chệch hướng so với thực tại của Thượng đế, với sự thật của Thượng đế, vì chúng hoàn toàn dựa trên tâm thức phản Ki-tô. Tâm thức phản Ki-tô là tâm thức tách biệt khỏi nguồn cội, trong khi tâm thức Ki-tô là tâm thức hợp nhất với nguồn cội của con.

Nếu mỗi con người trên hành tinh này có định nghĩa riêng của mình về thiện và ác thì không thể tránh khỏi xung đột với nhau. Nếu mỗi con người định nghĩa “tốt” là những gì tốt cho “tôi”, làm sao sẽ có được an bình và hài hòa trên hành tinh này đây? Nếu mỗi con người đều cho rằng định nghĩa của mình về sự thật là định nghĩa tuyệt đối duy nhất, có gì đáng ngạc nhiên khi chiến tranh hoành hành trên trái đất? Cách duy nhất để tạo một hành tinh hòa bình là ít ra có đủ túc số những người vươn lên cao hơn tâm thức nhị nguyên. Chỉ khi nào con người có cùng định nghĩa về thiện ác – cụ thể là định nghĩa tuyệt đối của tâm Ki-tô – thì chúng ta mới có thể hy vọng vượt qua được xung đột và chiến tranh trên hành tinh.

Khi con thấy mình là một nối dài của Hiện diện TA LÀ của mình thì con nhận chân được phần nào tâm thức Ki-tô. Khi con thấy mình tách biệt khỏi Hiện diện TA LÀ của mình, hay tách biệt khỏi Thượng đế, con bị kẹt trong tâm thức phản Ki-tô. Có một giai đoạn nửa chừng nơi con có một số yếu tố của tâm thức Ki-tô lẫn một số yếu tố của tâm thức phản Ki-tô. Một khi con đi quá điểm đánh mất mọi yếu tố tâm thức Ki-tô thì con thực sự đã chết theo nghĩa tâm linh. Đó là tại sao Giê-su đã nói: “Quả thật, quả thật, ta nói với con, nếu con không ăn thịt và uống huyết đứa Con của người thì con chẳng có sự sống trong con” (John 6:53). Giê-su muốn nói là trừ khi con dự phần vào tâm thức Ki-tô, con sẽ không có sự sống trong con. Con thực sự không có sự sống tâm linh trong con nếu con không có một miếng tâm thức Ki-tô trong quả cầu cái ta của con, trong bình chứa cái ta của con.

Điều này dẫn chúng ta đến một tầm hiểu mới về ý tưởng rằng con không thể được cứu rỗi nếu không có Ki-tô, rằng Ki-tô là vị cứu tinh duy nhất, con đường duy nhất đến với Thượng đế. Như Giê-su nói: “Không người nào đến được với Cha mà không qua ta” (John 14:6). Giê-su không muốn nói con người vỏ ngoài của riêng mình là sợi dây nối con với thực tại, với sự sống của Thượng đế, mà tâm thức Ki-tô là sợi dây đó. Giê-su so sánh Nước Trời – một cách khác để mô tả tâm thức Ki-tô – với men bột (Matthew 13:33). Khi con nhào bột và bỏ men vào, toàn bộ ổ bánh sẽ nở ra và đây là lý do con có thể làm bánh mì. Chỉ khi nào con bỏ thêm một miếng tâm thức Ki-tô đã được bẻ ra cho con (1Corinthians 11:24) thì tâm thức con mới có thể nở ra cao hơn mức nhị nguyên, cao hơn tâm phản Ki-tô. Chỉ bằng cách ăn vào một miếng tâm thức Ki-tô và cho phép nó nâng cao ý niệm cái ta của mình, cho phép nó xua tan bóng tối phản Ki-tô bằng ánh sáng Ki-tô, thì con mới có thể trở về căn nhà xưa và lại chấp nhận mình là con trai hay con gái của Thượng đế.

1.10. Tái sinh trong một ý niệm cái ta mới

Điều này cũng được Giê-su giải thích khi thày bảo Nicodemus rằng muốn bước vào Nước Trời thì con phải sinh ra lần nữa (John 3:1-8). Nicodemus cãi Giê-su và hỏi làm thế nào một người có thể sinh ra lần nữa, liệu ông có thể đi vào bụng mẹ một lần thứ hai? Nicodemus bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên đến độ ông hiểu lời Giê-su theo nghĩa đen và không nắm được ý nghĩa sâu xa. Khi con bước xuống tâm thức nhị nguyên, ý niệm cái ta tâm linh của con bị chết theo nghĩa đen. Con chết trong nghĩa tâm linh vì ý niệm bản sắc của con như một sinh thể tâm linh không còn hiện hữu. Con chuyển sang một ý niệm bản sắc mới như một sinh thể hữu diệt tách rời khỏi Thượng đế. Làm thế nào trở về Nước Trời nơi con thấy mình là một đứa con của Thượng đế? Chỉ có một cách mà thôi, đó là khi ý niệm cái ta tâm linh của con được tái sinh và con lấy lại bản sắc tâm linh đúng đắn. Con có thể khởi đầu tiến trình đòi lại bản sắc thực của mình vẫn được lưu giữ như là niệm tinh khôi trong tâm Ki-tô. Khi con lấy lại hoàn toàn bản sắc này, con trở về nhà xưa, con giành lại gia sản thiêng liêng của mình. Con trở thành đứa con hoang đàng đã quay trở về căn nhà của cha sau một thời gian dài xa cách (Luke 15:11).

Khi con chuyển từ một cái ta tâm linh sang một cái ta nhị nguyên, từ một cái ta dựa trên tảng đá của Ki-tô sang một cái ta dựa trên cát lún của phản Ki-tô, thì ý niệm cái ta trước đây của con phải chết. Khi con đảo ngược chiều hướng đó và quay trở lại ý niệm cái ta tâm linh, thì cái ta mà con có ngay bây giờ, cái ta dựa trên tách biệt, cũng sẽ phải chết. Con không thể đem ý niệm cái ta này với con vào Nước Trời, và lý do thật đơn giản. Ý niệm cái ta hữu diệt đã sinh ra trong cảm nhận tách biệt với Thượng đế, còn ý niệm cái ta tâm linh thì sinh ra trong hợp nhất với Thượng đế. Cái gì sinh ra từ tách biệt không bao giờ có thể bước vào hợp nhất. Cái ta hữu diệt không bao giờ có thể nắm bắt hay chấp nhận thực tại của Thượng đế. Ý niệm cái ta dựa trên nhị nguyên và tách biệt không bao giờ có thể khắc phục cảm nhận tách biệt khỏi Thượng đế.

Cái có khả năng khắc phục cảm nhận tách biệt với Thượng đế là cái Ta Biết, khi con thay thế nội dung trong bình chứa cái ta với một ý niệm cái ta mới. Đó là tại sao con phải cho phép ý niệm cái ta cũ chết đi, giống như con chim Phượng bị thiêu cháy trong lửa rồi lại trỗi dậy từ đống tro tàn, bay vút lên trời cao. Con phải cho phép ý niệm cái ta hiện thời bị thiêu hủy trong ngọn lửa thiêu đốt của Thượng đế – là ngọn lửa thiêu rụi tất cả những gì không giống như chính nó – và như vậy cũng thiêu rụi tất cả những gì sinh ra từ nhị nguyên và tâm phản Ki-tô. Con phải vững tin điều này không có nghĩa là con sẽ đánh mất ý thức liên tục mình là một sinh thể riêng biệt. Thay vào đó, một ý niệm cái ta mới sẽ ra đời. Ý niệm cái ta tâm linh của con sẽ được tái sinh, được phục sinh, và nó sẽ trỗi dậy từ đống tro tàn của cái ta cũ. Ý niệm cái ta mới này sẽ có nền tảng là bản mẫu thiêng liêng mà Thượng đế đã thiết kế.

Điểm này chính là sự khác biệt cơ yếu giữa mọi thày giả và mọi vị thày chân chính. Thày giả sẽ hứa con có thể đạt được sự dồi dào của Thượng đế – một số còn hứa rằng con có thể được cứu rỗi và sống vĩnh hằng – mà không cần để cho ý niệm cái ta nhị nguyên chết đi. Họ hứa với con là họ đã khám phá một đường tắt, một sơ hở mà qua đó con có thể duy trì cái ta hữu diệt và một cách nào đó biến nó thành cái gì chấp nhận được trong mắt Thượng đế. Ôi con yêu dấu, đây là một lời hứa hoàn toàn giả dối. Đây là điều mà Kinh Cựu ước gọi là con đường có vẻ đúng cho con người phàm (Proverbs 14:12) – tức sinh thể tự nhận biết bị kẹt trong nhị nguyên – tuy nhiên kết quả là những con đường dẫn đến cái chết, vì nó giữ con kẹt lại trong tâm thức của cái chết tâm linh. Giê-su từng so sánh Nước Trời với một bữa tiệc cưới (Matthew 22:1-14). Có người kia bước vào tiệc cưới mà không mặc áo cưới – nghĩa là đã không thay thế cái ta hữu diệt bằng cái ta Ki-tô – và ông ta bị trói cả tay chân, ném ra bóng tối bên ngoài. Mặc dù việc này nghe có vẻ thô bạo, nhưng nó minh hoạ chính xác sự thật là khi con vẫn ở trong tâm thức nhị nguyên thì con còn bị buộc trói bởi các tin tưởng nhị nguyên của mình, và con phải ở lại trong bóng tối của tâm phản Ki-tô.

Ý tưởng này quan trọng đến độ thày sẽ đề cập lại tường tận hơn trong các chương tới. Khi thày trải bày ra cho con thấy sự sai lầm của hình ảnh giả này về cứu rỗi, con sẽ thật sự ngộ được chìa khóa chủ chốt trong việc trải nghiệm đời sống dồi dào ngay nơi con đang ở. Thày vô cùng phấn khích mong được có dịp trải bày cho con tầm hiểu sâu xa này về sự cứu rỗi đích thực qua cái ta được tái sinh, là con đường có vẻ sai trái đối với tâm nhị nguyên, nhưng kết quả lại là những con đường dẫn đến sự sống vĩnh hằng.

15| Đạt được một trạng thái tâm thức quân bình

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 11/4/2005.

15.1. Con được thiết kế để biểu hiện cá thể của con

Con hãy để thày trình bày về cốt lõi của tâm thức Ki-tô. Khi đấng Sáng tạo của con quyết định sinh tạo những cá thể hóa của chính ngài, một vấn đề khó xử hiện ra. Điều khó xử là làm sao quân bình được quan hệ giữa một cá thể của tổng thể và chính tổng thể, để cá nhân không cảm thấy tách biệt khỏi tổng thể và hành động hạ giảm tổng thể thay vì khuếch trương tổng thể.

Đấng Sáng tạo của con có một trạng thái tâm thức bao trùm tất cả. Mọi vật trong thế giới hình tướng đều nằm trong tâm thức của ngài, vì ngài đã sinh tạo tất cả từ chính chất liệu của ngài, từ Bản thể và tâm thức của ngài. Giống như thế, tất cả những thứ do các người đồng-sáng tạo có tự nhận biết, là những cá thể hóa của đấng Sáng tạo, tạo ra đều được tạo ra từ Bản thể của Thượng đế. Đấng Sáng tạo của con ở trong mọi thứ đã từng được tạo thành, do đó đấng Sáng tạo của con có nhận biết ngài là Tất cả và ngài ở trong tất cả. Nói rằng đấng Sáng tạo tạo ra hình tướng không đúng. Nói rằng đấng Sáng tạo biểu hiện mình như một hình tướng thì đúng hơn. Đấng Sáng tạo khoác vào một hình tướng và khoác vào sự giới hạn mà không mất đi cái Tất cả của ngài. Khi một hình tướng được đem vào hiện thực, hình tướng này hiện hữu chính vì nó có một số đặc tính khiến nó khác biệt với:

  • Cái Tất cả của Thượng đế trong đó không có hình tướng
  • Cái trống không trong đó chỉ có bóng tối và vì vậy không có hình tướng
  • Những hình tướng khác trong thế giới hình tướng

Cốt lõi của một hình tướng nào đó là nó được xác định bởi các đặc tính cá biệt khiến nó trở nên khác biệt. Nếu hình tướng này không có đặc tính nào, nó sẽ vẫn còn ở trong cái Tất cả và vì vậy nó sẽ không hiện hữu như một hình tướng khác biệt. Khi đấng Sáng tạo biểu hiện mình như một sinh thể có tự nhận biết, sinh thể này nhất thiết phải có đặc tính cá biệt. Nếu sinh thể không có cá thể gì cả, nó sẽ không hiện hữu như một sinh thể khác biệt, nó sẽ vẫn không thể phân biệt ra khỏi cái Tất cả của Bản thể Thượng đế. Trong trường hợp những hình tướng vô tri giác hay những sinh thể không có tự nhận biết (như thú vật) thì sự hiện hữu của các đặc tính cá biệt không gây vấn đề vì sự phân biệt khỏi cái Tất cả không bao giờ dẫn tới tách biệt khỏi Tất cả.

Nhưng với những sinh thể có tự nhận biết, thì một vấn đề có tiềm năng xảy ra, một loại bí ẩn xảy ra. Một sinh thể có tự nhận biết chỉ hiện hữu vì nó có nhận biết; nó biết nó đang hiện hữu. Cốt lõi của bản sắc của con là con hiện hữu như một sinh thể khác biệt với những đặc tính cá biệt và tiềm năng biểu hiện những đặc tính này qua quyền năng sáng tạo của con. Đây chính là điều con được thiết kế để làm, cụ thể là biểu hiện cá thể của con và qua đó đồng-sáng tạo vương quốc Thượng đế bất cứ nơi nào con ở, kể cả nơi hành tinh trái đất.

Con cũng được thiết kế để biểu hiện cá thể của con như một thành phần của Tất cả và một thành phần của Thân thể Thượng đế, là gia đình những người đồng-sáng tạo hiện hữu trong thế giới hình tướng. Con không được thiết kế để biểu hiện khả năng sáng tạo của mình như một người sống trong hư không. Con được thiết kế để biểu hiện cá thể của con hầu nâng cao tổng thể trong đó con là một thành phần và con không bao giờ có thể tách biệt khỏi tổng thể đó. 

Con có thể sinh hoạt như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế chỉ vì con có trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Cách con biểu đạt trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con là một biểu hiện của tự nhận biết của con. Hình ảnh của con về mình quy định cách con dùng trí tưởng tượng để hình dung những hình tướng chưa được biểu hiện. Nó cũng quy định con dùng quyền tự quyết như thế nào để quyết định biểu hiện hình tướng nào hay quyết định hình tướng nào con có thể và không thể biểu hiện. Khi ý niệm tự nhận biết của con thẳng hàng với thực tại của Thượng đế, tức là con là một phần của Tất cả và một phần của Thân thể Thượng đế trên trái đất, thì biểu hiện cá biệt của con sẽ thẳng hàng với tổng thể.

Sự kiện con có trí tưởng tượng không có giới hạn có nghĩa con có thể hình dung một ý niệm tự nhận biết tách biệt khỏi cái Tất cả của Thượng đế và tách biệt hay thậm chí đua tranh với những sinh thể tự nhận biết khác. Sự kiện con có quyền tự quyết không có giới hạn có nghĩa là con có thể chọn chấp nhận là một hình ảnh giới hạn như thế về mình. Từ đó con có thể tạo ra một hình ảnh mới về mình dựa trên tách biệt thay vì dựa trên cảm nhận hợp nhất nguyên thủy khi con được sinh tạo.

Việc chuyện này có thể xảy ra là một khía cạnh không tránh được của quyền tự quyết và trí tưởng tượng của con. Chuyện con dùng khả năng sáng tạo của mình để tạo ra một hình ảnh hạn chế về mình như vậy, không phải là điều không thể tránh. Thượng đế làm tất cả những gì làm được để con có thể duy trì dễ dàng một hình ảnh về mình đúng đắn và xây dựng trên hình ảnh này để con trở nên hơn những gì con được thiết kế để trở thành, thay vì con tạo ra một hình ảnh về mình kém hơn những gì con đã được thiết kế để trở thành.

15.2. Người đồng-sáng tạo có thể tách mình ra khỏi tổng thể

Câu hỏi cốt lõi là làm sao một sinh thể có tự nhận biết tránh không hành xử như một người tách biệt khỏi Thượng đế, xa rời Thượng đế hay hành xử giống như mình là sinh thể tự nhận biết duy nhất trong vũ trụ hay chỉ có mình là quan trọng. Thày biết chắc con có thể thấy được tình trạng khó xử này. Thượng đế sinh tạo nhiều sinh thể có tự nhận biết để họ hành động như người đồng-sáng tạo. Không sinh thể nào trong đó được sinh tạo như một ốc đảo. Không sinh thể nào được sinh tạo là con trai cưng có thể hành xử như một ông vua và tất cả những sinh thể có tự nhận biết còn lại chỉ là tôi mọi cho người duy nhất đó. Quả như Kinh thánh nói: “Thượng đế không tuân theo con người” (Acts 10:34). Đấng Sáng tạo yêu tất cả những đồng-sáng tạo của ngài với tình yêu vô hạn. Khi tình yêu vô hạn và vô điều kiện thì không thể có so sánh và do đó không có con trai hay con gái cưng. Mọi con đều được thương yêu với cùng một tình thương bởi vì dưới mắt Thượng đế mọi con đều giá trị như nhau, đều quan trọng như nhau. Làm sao khác được nếu mỗi sinh thể có tự nhận biết được tạo ra từ cùng chất liệu của đấng Sáng tạo và mỗi sinh thể là đấng Sáng tạo biểu hiện chính ngài như sinh thể cá biệt đó?

Một khi đấng Sáng tạo đã ban cho một sinh thể có tự nhận biết trí tưởng tượng và quyền tự quyết, thì người đồng-sáng tạo đó có thể tách mình ra khỏi tổng thể và bắt đầu hành xử như mình tách rời khỏi người khác, thậm chí coi mình quan trọng hơn người khác. Khi hành động tách biệt ra khỏi tổng thể, sinh thể tự nhận biết đã ăn vào “trái của sự biết thiện và ác” (Genesis 2:17), mà nghĩa thật là thiện và ác tương đối. Trong tâm thức nhị nguyên này, người ta có thể so sánh và do đó người đồng-sáng tạo có thể xây dựng hình ảnh về mình như người giỏi hơn hay có giá trị hơn người khác. Sinh thể đó xây dựng ý muốn cai quản người khác và kiểm soát tổng thể thay vì làm việc để khuếch trương tổng thể.

Khi một người đồng-sáng tạo chấp nhận hình ảnh nhị nguyên này về mình là thật, thì người ấy sẽ bắt đầu hành xử như thể hình ảnh này thật. Người đồng-sáng tạo có thể dần dần tập trung vào “thực tại” do tự mình tạo ra đến độ người ấy quên bản sắc thật của mình. Người đồng-sáng tạo, đã được thiết kế để luôn luôn giữ được ý thức mình là một cá thể hóa của Thượng đế, có thể đánh mất sự hợp nhất này, có thể đánh mất trạng thái Hồng ân này và do đó rơi vào một ý niệm bản sắc giới hạn như một sinh thể tách biệt, tách rời Thượng đế và tách rời Thân thể Thượng đế.

Chuyện này có thể xảy ra ngay khi Thượng đế sinh tạo những sinh thể có tự nhận biết, trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Thượng đế không mong muốn bất kỳ con trai hay con gái nào của ngài lạc trong một ý niệm bản sắc kém hơn. Đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc, nhưng con chỉ nhận được vương quốc khi con thấy mình là con trai hay con gái của Thượng đế có khả năng và xứng đáng nhận vương quốc này. Nếu con mắc kẹt trong một ý niệm bản sắc thấp kém trong đó con xem mình tách rời khỏi tổng thể và do đó con nghĩ hoặc là con không xứng đáng nhận sự dồi dào của Thượng đế hoặc con không được quyền nhận tất cả sự dồi dào đó, con không thể nhận trọn vẹn vương quốc. Thượng đế không muốn thấy điều này xảy ra, vậy thì làm sao có thể né tránh chuyện này đây? Trên thực tế không bao giờ có thể đoan chắc chuyện này không xảy ra. Cách duy nhất để đoan chắc con không thể bị mắc kẹt trong một bản sắc thấp là tước đi trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con. Nếu con không có khả năng tưởng tượng một trạng thái bản sắc giới hạn và nếu con không có ý chí để chấp nhận bản sắc này là thật thì con không thể bị lạc. Nhưng nếu con không có những khả năng sáng tạo này, con không thể phục vụ như người đồng-sáng tạo với Thượng đế và do đó con không thể trở nên hơn nữa. Con không thể làm công việc gia tăng cường độ của ánh sáng Thượng đế để lấp đầy khoảng trống không với ánh sáng. Trở nên hơn nữa và lấp đầy khoảng trống không chính là mục đích của sự hiện hữu của con.

15.3. Sự sống luôn luôn tự thăng vượt

Câu hỏi mà đấng Sáng tạo phải đối diện là làm sao con dùng khả năng sáng tạo của con một cách an toàn nhất, có nghĩa là con sáng tạo mà không quên nguồn gốc của mình, cội nguồn của mình. Dù vấn đề này không có đáp án tuyệt đối vì con luôn luôn có quyền tự quyết, nó có một đáp án tuyệt đối theo nghĩa con không bao giờ mất tiềm năng giành lại bản sắc thật của con. Thượng đế đã thiết kế một cách tài tình để lúc nào con cũng có thể tìm về vương quốc của ngài cho dù con đã đi bao xa chăng nữa khỏi vương quốc trong tâm thức.

Đấng Sáng tạo Một bắt đầu tiến trình sáng tạo bằng cách tạo ra hai lực bổ túc. Lão giáo gọi hai lực này là Âm và Dương, nhưng thày muốn gọi chúng là lực lan ra của Cha và lực co lại của Mẹ. Hai lực có thể có vẻ như đối chọi nhau nhưng đây không phải là sự thật vô điều kiện. Dù chúng có vẻ như có hướng ngược nhau, chúng thật sự là những lực bổ sung nhau. Chúng không loại trừ lẫn nhau, chúng chỉ quân bình lẫn nhau. Chỉ khi hai lực này hoàn toàn quân bình thì một hình tướng bền vững mới được tạo ra.

Một cái gì bền vững có nghĩa gì? Chìa khóa là thấu hiểu chính mục đích của sự sáng tạo, cụ thể là gia tăng ánh sáng Thượng đế, mở rộng vương quốc Thượng đế để lấp đầy khoảng trống không. Tăng triển không ngừng, thăng vượt không ngừng là mục tiêu. Vai trò của lực lan ra là thúc đẩy sự sáng tạo theo hướng đi ra ngoài, lan ra ngoài để nó không bao giờ đứng yên. Nó không bao giờ bị giới hạn trong một hình tướng nhất định nhưng luôn luôn tăng trưởng để hơn nữa.

Để có thể tạo ra bất cứ gì từ điểm dị đồng của đấng Sáng tạo, phải có một lực lan ra. Nếu lực lan ra là lực duy nhất, sự sáng tạo sẽ đơn giản là một sự bùng nổ liên tục trong đó không thể có được một hình tướng khác biệt nào. Lực co lại của Mẹ quân bình lực lan ra của Cha và khi có quân bình thì có thể tạo một hình tướng có thể vững bền. Hai lực sáng tạo cơ bản này đem lại nền tảng cho sự sáng tạo hình tướng. Chìa khóa cốt yếu cho sáng tạo thành công là sự quân bình đúng đắn giữa hai lực cơ bản này. Nếu lực lan ra quá mạnh, mọi hình tướng sẽ nổ tung. Nếu lực co lại quá mạnh, sự tăng trưởng sẽ dừng lại và rốt cuộc mọi hình tướng sẽ xập xuống và Ánh sáng Mẫu-vật sẽ trở về trạng thái nền của nó. Phải có cái gì đó duy trì thế quân bình đúng đắn giữa hai lực này và bảo đảm là sáng tạo được bền vững mà không bao giờ đứng yên. Bền vững không đồng nghĩa với đứng yên, nó có nghĩa là vượt thăng liên tục. Tại sao thế? Bởi vì chính định nghĩa của sự sống là tăng trưởng, sự sống là cái gì luôn luôn trong tiến trình tự vượt thăng, mang nhiều thêm bản chất Thượng đế vào sự biểu hiện và do đó thay thế bóng tối trong khoảng trống không.

Lực lan ra và lực co lại không thể tự chúng tạo ra hình tướng. Lực lan ra sẽ luôn luôn lan ra và lực co lại sẽ luôn luôn co lại và nếu chỉ có một lực thì mọi hình tướng, mọi cấu trúc sẽ bị tan vỡ. Hầu tạo được một hình tướng, trước tiên hình tướng đó phải hiện hữu như một tiềm năng, như một hình tư tưởng. Hình tư tưởng này phải quân bình hai lực lan ra và co lại để hình tướng có thể vững bền trong một trạng thái sinh động trong đó hình tướng không đứng yên nhưng là một môi trường để tăng triển hơn nữa. Lực co lại của Mẹ có sẵn trong Ánh sáng Mẫu-Vật. Chúng ta có thể so sánh nó như đại dương yên lặng không có sóng. Lực lan ra của Cha giống như ngọn gió thổi vào đại dương và khuấy động sóng. Những ngọn sóng trong đại dương ánh sáng vô tận là những gì hiện ra như hình tướng khác biệt. Ánh sáng Mẫu-Vật có khả năng khoác vào bất cứ hình tướng nào và một số những hình tướng này có thể hủy bỏ lẫn nhau giống như sóng đại dương có thể hủy bỏ lẫn nhau.

Cái gì quy định một hình tướng đặc thù được đem vào hiện thực? Những đặc tính của hình tướng đó phải hiện hữu như một tiềm năng trước khi hình tướng được áp đặt lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Cần có một khuôn đúc để lực lan ra của Cha tuôn chảy vào và khuấy động Ánh sáng Mẫu-Vật khoác vào một hình tướng đặc thù thay vì là một sự bùng nổ bừa bãi. Lực lan ra lẫn lực co lại đều không thể tạo ra một hình tư tưởng và dùng hình này để điều khiển lực lan ra đi vào Ánh sáng Mẫu-Vật. Một hình ảnh như thế chỉ có thể được giữ trong một tâm có tự nhận biết, một tâm có trí tưởng tượng để hình dung một hình ảnh và có ý chí để áp đặt hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật.

Tâm đó cũng phải có tự nhận biết, khiến nó biết nó hiện hữu và biết nó có khả năng dùng những lực sáng tạo cơ bản. Đấng Sáng tạo có tâm như thế nhưng đấng Sáng tạo không muốn tự mình tạo ra mọi sự. Đấng Sáng tạo quyết định biểu hiện chính mình như những sinh thể cá biệt có thể hành động như những đồng-sáng tạo. Những sinh thể này có khả năng của tâm để hình dung hình ảnh của một hình tướng chưa được biểu hiện và họ có thể phóng chiếu hình ảnh này lên Ánh sáng Mẫu-Vật.

Khi lực lan ra của Cha chảy vào khuôn đúc, Ánh sáng Mẹ khoác lên hình tướng tương ứng. Tại sao những đồng-sáng tạo có khả năng này? Đó là vì họ được sinh tạo ra từ, họ là cá thể của, một khía cạnh khác của Thượng đế, một nối dài khác của Thượng đế, đó là cái mà Kinh thánh gọi là Ngôi Lời hay đấng Con trai duy nhất được sinh tạo từ đấng Cha, đầy ân huệ và lẽ thật (John 1:14).

15.4. Con sáng tạo trong sự hài hòa toàn hảo với quy luật Thượng đế qua tâm Ki-tô

Nhiều người Cơ đốc đã tin rằng Giê-su Ki-tô là người Con trai duy nhất được sinh tạo từ Thượng đế hoặc Giê-su chính là Thượng đế ngay từ đầu. Ý tưởng này không đúng vô điều kiện. Vì mỗi sinh thể có tự nhận biết từng được sinh tạo đều là con trai hay con gái của Thượng đế, vì mọi vật từng được tạo ra đều đi ra từ Bản thể và tâm thức của Thượng đế, nên ta có thể xem tất cả đều là Thượng đế ngay từ đầu. Nhưng ngay lúc một hình tướng cá thể hay một sinh thể cá thể đi vào hiện hữu, thì nó mang vào những đặc tính riêng biệt và do đó nó không còn là cái Tất cả của Thượng đế nữa. Điều này áp dụng cho Giê-su Ki-tô và cũng như là con. Giê-su đi ra từ cái Tất cả của Thượng đế và thày đã là và đang là con trai của Thượng đế. Con cũng thế, con đi ra từ cái Tất cả và con cũng là con trai hay con gái của Thượng đế. Giê-su còn xác nhận thày bình đẳng với mọi sự sống qua câu nói: “Hễ các người làm điều gì cho người thấp hèn nhất trong anh em của ta, thì các người đã làm điều đó cho chính ta.” (Matthew 25:40).

Nếu con đã lớn lên trong sự sùng bái thần tượng mà Cơ đốc giáo truyền thống cổ xúy, thì con có thể xem những lời của thày là miệt thị thần linh. Giê-su không bao giờ đặt mình tách rời người khác, thày cũng không bao giờ đặt mình cùng hàng với Thượng đế. Tại sao con nghĩ Giê-su nói: “Sao ngươi gọi ta là tốt lành, chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi, đó là Thượng đế” (Matthew 19:17). Giáo lý truyền thống xem Giê-su là Con trai duy nhất của Thượng đế được sinh tạo từ Thượng đế. Giê-su xem cái nhìn này là hình thức miệt thị thần linh tệ nhất và là sự nhạo báng toàn bộ sứ mạng của thày. Khi giáo hội truyền thống tạo ra giáo lý này, họ đã tách Giê-su khỏi mọi người khác và do đó thày trở thành một thần tượng thay vì là tấm gương. Giê-su không thích thấy tín đồ Cơ đốc nhảy múa chung quanh con bò con vàng này, thay vì thừa nhận sự thật là Giê-su đến để chỉ cho họ thấy họ có tiềm năng thật giành lại di sản thiêng liêng của họ. Khác biệt thực sự giữa con và Giê-su là Giê-su đã nhận ra và chấp nhận nguồn gốc của thày là một con trai của Thượng đế trong khi con vẫn chưa làm thế. Con quả thực có tiềm năng giành lại bản sắc thật của con bằng cách noi gương Giê-su và cho phép tâm này ở trong con, tâm đó cũng ở trong Giê-su Ki-tô (Philippians 2:5).

Tâm ở trong Giê-su là tâm gì? Nó là tâm Ki-tô, là Con trai thật được Cha sinh tạo, Cha ở đây có nghĩa là đấng Sáng tạo. Trạng thái tâm thức này là một tâm hoàn vũ, một ý niệm nhận biết hoàn vũ do Thượng đế đấng Sáng tạo tạo ra để phục vụ một chức năng đặc biệt là chức năng làm trung gian giữa Thượng đế và tất cả những nối dài cá thể của ngài, chính là những đồng-sáng tạo của Thượng đế. Mục đích của tâm Ki-tô là bảo đảm rằng không người đồng-sáng tạo nào có thể mất đi vĩnh viễn bản sắc thật của mình hay mất đi nhận biết về các quy luật Thượng đế. Tâm Ki-tô bảo đảm mọi hình tướng được tạo ra phù hợp với các quy luật Thượng đế và hình tướng nào không thẳng hàng với các quy luật này không thể tồn tại vô hạn định.

Khi Thượng đế sinh tạo ra con, ngài cho con một cá thể độc nhất. Đây là tiềm năng sáng tạo của con và khi con dùng quyền năng sáng tạo của mình, một cách tự nhiên con sẽ biểu hiện cá thể của con trong mọi vật mà con sáng tạo. Cá thể của con là món quà Thượng đế cho con và khi con cho phép ánh sáng của con tỏa chiếu, cá thể của con biểu hiện như món quà của con cho thế giới. Cá thể mà Thượng đế ban cho con quả thực đẹp đẽ và tuyệt vời vượt quá những gì hầu hết con người có thể chấp nhận với ý niệm bản sắc hiện nay của họ. Như Giê-su đã nói: “Con là Thượng đế” (John 10:34), nghĩa là con đã được thiết kế với một vẻ đẹp và sự toàn hảo vượt xa mức bản sắc và nhận biết phàm phu. Con được sinh tạo để trở thành vô vàn hơn những gì con có thể chấp nhận hiện nay, và cá thể mà Thượng đế ban cho con không bao giờ mất được vì nó được ghi lại vĩnh viễn trong Tâm Ki-tô Hoàn vũ. Con trai duy nhất do Cha sinh tạo là người gìn giữ cá thể thật của con, và do đó tâm Ki-tô cũng là chìa khóa giúp con tìm lại bản sắc đó. Tâm Ki-tô là chìa khóa duy nhất cho sự cứu rỗi của con vì cứu rỗi có nghĩa là con khắc phục được ý niệm bản sắc giới hạn sinh ra từ tâm phản Ki-tô, tâm tách biệt khỏi nguồn cội của con. Để có được đời sống vĩnh cửu, con phải giành lại bản sắc sinh ra từ tâm Ki-tô, là tâm hợp nhất với nguồn cội của con.

Tâm Ki-tô cũng có vai trò hướng dẫn nỗ lực sáng tạo của con và bảo đảm là chúng luôn luôn thẳng hàng với các quy luật Thượng đế và có sự hài hòa giữa con và Thân thể Thượng đế. Không sinh thể tự nhận biết nào có thể tiếp cận ánh sáng thanh khiết của Thượng đế mà không đi qua tâm thức Ki-tô. Như Giê-su đã nói: “Ta là con đường, sự thật và sự sống: không ai tới được Cha ta mà không qua ta” (John 14:6). Tâm Ki-tô biết quy luật của Thượng đế và do đó nó có tiêu chuẩn tuyệt đối để lượng định xem hình tướng mà người đồng-sáng tạo hình dung hòa hợp với quy luật Thượng đế (thiện lành vô điều kiện) hay không hòa hợp với quy luật Thượng đế (xấu ác). Hầu sáng tạo một hình tướng, người đồng-sáng tạo phải hình dung hình tướng và sau đó cho phép uy lực của Thượng đế tuôn chảy qua hình tướng đó, qua đó hình tướng được áp đặt lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Quyền năng sáng tạo hình tướng của con tùy thuộc vào cường độ và sức mạnh của ánh sáng thúc đẩy nỗ lực sáng tạo của con. Lực sáng tạo tối hậu là ánh sáng lan ra của Cha và khi con sáng tạo với ánh sáng này, con có quyền năng sáng tạo tối đa. Như Giê-su đã nói: “Con người không thể làm được nhưng đối với Thượng đế thì chẳng thế; bởi vì Thượng đế làm được mọi sự” (Mark 10:27). Hầu tiếp cận được quyền năng của Thượng đế, con phải có tâm Ki-tô và hình tư tưởng mà con hình dung phải hài hòa với các quy luật Thượng đế. Khi con hiện thân như một con người, tâm thấp của con phải trở thành cánh cửa mở cho dòng năng lượng chảy từ Hiện diện TA LÀ của con. Chính năng lượng tâm linh này trở thành lực đẩy mạnh đằng sau nỗ lực sáng tạo của con. Như Giê-su đã nói: “Ta không thể tự mình làm nổi việc gì” (John 5:30) và: “Nhưng chính Cha ở trong ta làm những việc này” (John 14:10).

Khi con hình dung một hình tư tưởng dựa trên tâm Ki-tô, nó sẽ luôn luôn hài hòa toàn hảo với quy luật Thượng đế và với ý định sáng tạo của Thượng đế. Như một cá nhân, con không phải là Tâm thức Ki-tô Hoàn vũ trọn vẹn, nhưng tâm thức này đã được cá thể hóa cho con. Như Giê-su đã nói: “Hãy lấy và ăn: đây là thân ta, vì các người mà bẻ ra: hãy làm điều này để nhớ ta” (1Corinthians, 11:24). Qua tâm Ki-tô được cá thể hóa này, con có thể sáng tạo trong sự hài hòa toàn hảo với các quy luật Thượng đế và do đó những gì con sáng tạo có uy lực tối đa. Đó là lý do tại sao Giê-su, qua tâm Ki-tô đã có uy lực vượt lên trên định luật thiên nhiên và làm những điều mà con người xem là phép lạ. Sự thực là Giê-su đã dùng quy luật cao hơn thay thế định luật thiên nhiên mà khoa học hiện đang hiểu.

Khi con đi theo tiến trình dùng tâm của đấng Con để tiếp cận quyền năng sáng tạo của đấng Cha và quy định hình tướng được phóng lên Ánh sáng Mẹ, sáng tạo của con sẽ khuếch trương tổng thể. Tâm Ki-tô Hoàn vũ sẽ ghi lại mãi mãi hành động thiện lành của con để chúng không bao giờ có thể bị mất. Đây là điều Giê-su gọi là kho tàng chứa ở trên trời: “Nhưng hãy chứa kho tàng ở trên trời là nơi chẳng có sâu mối hay rỉ sét làm hư cũng chẳng có kẻ trộm phá vách vào mà lấy” (Matthew 6:20).

Vì con có quyền tự quyết, con có thể chọn hình dung một hình tướng không hòa hợp với quy luật Thượng đế và con có thể dùng ý chí để biểu hiện hình tướng này. Để có thể biểu hiện một hình tướng không toàn hảo, con không thể dùng ánh sáng thanh khiết của Thượng đế. Con chỉ có chọn lựa duy nhất là dùng ánh sáng kém hơn, cụ thể là năng lượng tâm lý đã được đem vào sẵn trong quang phổ tần số vật lý. Con vẫn có thể sáng tạo bằng cách dùng ánh sáng này do đó các thày giả nói đúng khi họ nói con có thể tích lũy giàu có đồ sộ bằng cách dùng uy lực của tâm. Sự sáng tạo này sẽ không bao giờ mạnh mẽ bằng những gì được sáng tạo qua tâm Ki-tô. Vì chúng được sáng tạo qua tâm phản Ki-tô, con không thể tránh là con sẽ gặt những gì con gieo: “Vì chúng đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc” (Hosea 8:7).

15.5. Con thị hiện vương quốc Thượng đế nơi con ở

Thượng đế muốn bảo đảm là cuộc thử nghiệm quyền năng sáng tạo của con sẽ trở thành một vòng xoáy đi lên, qua đó con sẽ tăng triển tự nhận biết và tăng triển nhận biết là cái ta của con là một với Tất cả. Mọi điều con làm hòa hợp với quy luật Thượng đế được ghi lại vĩnh viễn trong tâm Ki-tô. Nó trở thành thành đạt của con, động lượng của con mà con có thể dùng làm nền tảng vững chắc, giống như tảng đá Ki-tô, để gia tăng quyền năng sáng tạo và tự nhận biết của con. Dù kho tàng đó không bao giờ có thể bị mất, con có thể dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết để tách mình khỏi chúng, thậm chí đến độ con hoàn toàn quên chúng và quên bản sắc thật của mình. Khi điều này xảy ra, hiển nhiên con không thể xây dựng trên nền móng của các hành động quá khứ của con và có thể nói rằng con bị bắt buộc phải bắt đầu lại từ đầu. Vì các hành động thiện lành quá khứ của con không thể nào mất, nên kho tàng của con lúc nào cũng còn đó và đợi con. Bất cứ lúc nào, con có thể quyết định ngưng vòng xoáy đi xuống đã tách con ra khỏi cái Ta thật của con. Con có thể bắt đầu đi theo con đường tâm linh sẽ giúp con có uy lực để giành lại bản sắc thật của con. Khi con làm vậy thì con sẽ lấy lại kho tàng mà con đã cất trên thiên đàng và dùng nó như nền tảng để khuếch trương quyền năng sáng tạo và tự nhận biết của con. Bản sắc thật của con, bản sắc được xây dựng trên tâm Ki-tô, không bao giờ bị mất. Bản sắc giả, bản sắc tách biệt được xây dựng trên tâm phản-Ki-tô, quả thật sinh diệt và do đó có thể bị mất. Con phải đánh mất nó thì mới giành lại được bản sắc thực của mình.

Khi Thượng đế tạo ra thế giới hình tướng này, ngài quy định một số nguyên lý chỉ đạo để bảo đảm hệ thống các thế giới này có thể phát triển vững bền, có thể phát triển mà không nổ tung hay không co lại thành trống không. Thượng đế thiết kế những nguyên lý này để bảo đảm lực lan ra của Cha không quá mạnh đến độ nó làm nổ tung vũ trụ trong một vụ nổ vĩ đại. Cùng một lúc, Thượng đế tạo ra những quy luật để bảo đảm lực co lại của Mẹ không ngừng lại sự lan tỏa của ánh sáng để lấp đầy khoảng trống không. Nếu chuyện này xảy ra thì lực co lại sẽ bắt đầu một chu trình co lại sẽ đem mọi hình tướng trở về cái hư không mà từ đó chúng khởi đầu.

Trong khuôn khổ những nguyên lý sáng tạo do Thượng đế quy định, con có tự do không giới hạn để sáng tạo hình tướng. Là một đồng-sáng tạo với Thượng đế, sáng tạo của con không bị giới hạn bởi quy luật Thượng đế. Quy luật Thượng đế không giới hạn tự do sáng tạo của con. Chúng là một khung sườn, là những nguyên lý chỉ đạo để con có thể sử dụng quyền năng sáng tạo của con mà không phá hủy chính mình hay các đồng-sáng tạo khác. Quy luật Thượng đế được thiết lập để bảo đảm con có thể dùng sự sáng tạo của con để khuếch trương tổng thể bằng cách mở rộng và gia tăng cường độ ánh sáng của Thượng đế. Con nghĩ lại thày đã mô tả tiến trình sáng tạo như thế nào. Khi Thượng đế sáng tạo một bầu cõi mới trong khoảng trống không, thì bầu cõi này không được Ánh sáng Thượng đế hoàn toàn lấp đầy. Sau đó những người đồng-sáng tạo có tự nhận biết được gửi xuống bầu cõi này để nhân lên khả năng của họ và cai quản bầu cõi, qua đó họ lấp đầy bầu cõi với ánh sáng. Sau đó bầu cõi này có thể dùng làm nền móng để mở rộng sáng tạo bầu cõi kế tiếp. Con cần nhận ra là lấp đầy một bầu cõi với ánh sáng không có nghĩa là lấp đầy nó với ánh sáng chưa được phân biệt. Một bầu cõi được lấp đầy với những hình tướng đứng thẳng hàng với quy luật Thượng đế nhưng chúng biểu hiện sự sáng tạo của những người đồng-sáng tạo cư ngụ trong bầu cõi đó.

Con được sinh ra để biểu hiện cá thể mà Thượng đế đã ban cho con bằng cách sáng tạo những hình tướng sẽ thị hiện vương quốc Thượng đế nơi con ở. Quả thực con có khả năng sáng tạo không giới hạn và không nỗ lực nào của con bị lãng phí. Chúng sẽ trở thành một phần của vương quốc trường tồn của Thượng đế sẽ hiện ra khi bầu cõi đạt tới một cường độ ánh sáng nào đó. Khi chuyện này xảy ra, bóng tối còn lại sẽ ít oi đến độ nó không thể che mờ thực tại bên dưới là mọi sự đã được tạo ra từ Bản thể của Thượng đế, từ ánh sáng thanh khiết của Thượng đế. Hiểm nguy các sinh thể có tự nhận biết bị mắc kẹt trong cảm nhận tách biệt với Thượng đế sẽ không còn nữa. Làm sao họ cảm nhận tách biệt được khi chung quanh họ là những hình tướng tỏa rạng ánh sáng của Thượng đế và biểu lộ sự hài hòa của quy luật Thượng đế?

Bởi vì trong vũ trụ vật chất không đủ ánh sáng, ít nhất là trên trái đất, ta không thể thấy, ít nhất là qua giác quan vật lý, là mọi thứ đều được tạo ra từ ánh sáng Thượng đế. Con không thể trực tiếp thấy là Thượng đế là nguyên nhân, nguyên nhân tiên khởi, đằng sau mọi hình dáng. Đó là lý do tại sao một sinh thể có tự nhận biết có thể bị mắc kẹt trong tâm thức tách biệt, nghĩ rằng nó tách biệt khỏi dồi dào của Thượng đế. Khi cường độ của áng sáng được nâng lên trong hành tinh này, con sẽ thấy được ánh sáng tâm linh tỏa rạng từ mọi hình tướng và những hình tướng này hài hòa với quy luật Thượng đế. Vương quốc Thượng đế sẽ được thiết lập trên trái đất và hành tinh này sẽ trở thành ngôi sao tỏa rạng Ánh sáng Tự do, tự do khỏi tâm thức chết.

Thiết kế của bản thể con là con trở nên cánh cửa mở cho ánh sáng của Thượng đế hầu ánh sáng được khuếch trương trong thế giới này. Khi ánh sáng Thượng đế được khuếch trương, con sẽ phóng đại mọi sự sống qua các nỗ lực sáng tạo của con. Không có xung độ giữa con, một cá nhân, với các cá nhân khác. Các nỗ lực sáng tạo của con khuếch trương ánh sáng và do đó con gia tăng lượng dồi dào có mặt trên thế giới. Con phục vụ để phóng đại mọi thành phần trong thế giới này, kể cả tất cả những đồng-sáng tạo khác. Khi làm vậy, con cũng phóng đại cái ta thật của con, chính là toàn thể Thân thể Thượng đế, được hợp nhất qua thân và huyết (là tâm thức) của Ki-tô.

Thày biết những ý tưởng này có vẻ trừu tượng và khó nắm bắt cho tâm vỏ ngoài của con. Thày nhắc con là việc mở rộng tâm có nhiều giá trị lớn. Thày cũng nhắc nhở con là điều con không thể nắm bắt với trí, con luôn có thể nắm bắt với con tim. Mục đích của thày trong khóa học này không phải chỉ cho con hiểu biết trí năng. Mục đích của thày là giúp con tiến lại gần hơn tâm thức Ki-tô, có nghĩa là thày có mục đích mở rộng cả sự hiểu biết của con lẫn khả năng yêu thương của trái tim của con. Thày cho con nhiều khái niệm có vẻ khó nắm bắt với trí, là cách nhìn đời theo đường ngang và đường thẳng là đặc tính của trí, nhưng những khái niệm này có thể nắm bắt bằng cái nhìn quả cầu, đường dọc và không đường thẳng của con tim.

15.6. Tâm Ki-tô nối kết cá nhân với Tất cả

Bây giờ con hãy để thày mô tả thêm tâm Ki-tô. Tâm Ki-tô quả thực là một nối dài của tâm Thượng đế. Chức năng của nó là phục vụ như mối dây kết nối giữa đấng Sáng tạo và các đồng-sáng tạo có tự nhận biết của ngài. Tâm Ki-tô có một mục đích đặc thù, một điểm tập trung đặc thù, đó là cho cá nhân sức mạnh để duy trì và mở rộng ý niệm bản sắc của mình như là một thành phần của Tất cả, nối kết với Tất cả cho tới khi sinh thể cá biệt có tự nhận biết đó phát triển thêm tự nhận biết và nhận ra cái Ta cao của mình là cái Tất cả. Điều này không có nghĩa là cá nhân mất đi tính cá biệt của nó mà có nghĩa là cá nhân nhận ra nó là cái Tất cả của đấng Sáng tạo được biểu hiện và tập trung qua cá thể của nó. Sinh thể cá nhân có tự nhận biết không còn nhìn thế giới và cuộc sống dưới tầm nhìn giới hạn của nhận biết cá nhân của nó. Nó nhìn cuộc sống dưới tầm nhìn mở rộng của đấng Sáng tạo, tỏa rạng xuyên qua cá thể của nó.

Để minh họa điều này, con hãy tưởng tượng con lớn lên trong một căn phòng không có cửa sổ. Căn phòng có một cánh cửa với một lỗ nhìn nhỏ qua đó ánh sáng mặt trời có thể chiếu vào. Con không bao giờ thấy được toàn bộ mặt trời; con chỉ thấy một tia sáng nhỏ, riêng lẻ của mặt trời. Nếu con đã lớn lên trong một căn phòng như vậy, tầm nhìn của con về mặt trời sẽ bị quy định bởi điểm quan sát của con. Con có thể tin rằng không có mặt trời hoặc tia sáng đơn lẻ đó tự nó hiện hữu. Một khi con mở cửa và bước ra ngoài ánh sáng mặt trời, con sẽ có được một nhận biết mở rộng hơn về mặt trời và sức mạnh thật của nó. Giờ đây con sẽ nhận ra mặt trời mạnh hơn tia sáng nhỏ trong phòng rất nhiều. Con sẽ nhận ra tia sáng quả thực đến từ mặt trời và không thể nào hiện hữu nếu không có mặt trời. Nhưng con vẫn thấy mặt trời ở rất xa.

Bây giờ con hãy tưởng tượng con du hành đến chính trung tâm của mặt trời và nhìn thái dương hệ từ chỗ đó. Con sẽ không còn bị giới hạn bởi ấn tượng ban đầu về mặt trời, như tia sáng nhỏ chiếu qua cánh cửa. Giờ đây con trải nghiệm toàn bộ mặt trời, tuy thế con không mất đi nhận biết của con về tia sáng đơn lẻ. Con sẽ nhận biết là tia sáng đơn lẻ quả thực là một nối dài của chính mặt trời. Quả thực là mặt trời đã tỏa sáng qua lỗ nhỏ của cánh cửa, mặt trời biểu hiện chính nó là một tia sáng đơn lẻ. Không có sự tách biệt thật sự giữa nguồn gốc của ánh sáng và tia sáng đơn lẻ. Giới hạn duy nhất là kích thước của lỗ qua đó ánh sáng tỏa chiếu. Nếu con mở rộng kết nối của con với Hiện diện TA LÀ của con, lượng ánh sáng có thể tỏa chiếu qua bản thể của con không bị giới hạn nào hết.

Khi Thượng đế sinh tạo con như một sinh thể cá biệt, con không được ban cho sự nhận biết trọn vẹn về mặt trời, có nghĩa là tâm thức của cái Tất cả của Thượng đế. Con được sinh tạo như một sinh thể cá biệt với một tia sáng tỏa chiếu qua tâm thức con. Trong trạng thái tâm thức giới hạn của con, lẽ tự nhiên là con nhìn mình là một sinh thể cá biệt, khác biệt với cái Tất cả của Thượng đế. Con không đủ tự nhận biết để đồng hóa mình là một với cái Tất cả của Thượng đế, là một nối dài của cái Tất cả của Thượng đế.

Nếu mô tả điều này với từ ngữ đường thẳng mà thày đã có nói là không cho con một hình ảnh chính xác về thực tại Thượng đế, ta có thể nói là con được sinh tạo như một cá thể nhưng con có nhận biết con được sinh tạo bởi Thượng đế. Con thấy mình là một sinh thể cá biệt nối kết với một Thượng đế xa xăm. Sự nối kết của con với Thượng đế không ở ngoài con; nó ở bên trong con dưới hình dạng Hiện diện TA LÀ của con. Con coi mình như một hành tinh quay chung quanh quỹ đạo mặt trời của Hiện diện TA LÀ và được lực hấp dẫn của Hiện diện TA LÀ giữ trong một quỹ đạo ổn định. Dù con có nhận biết rõ ràng về Hiện diện TA LÀ của con, con vẫn chưa có thể thấy Hiện diện TA LÀ là một nối dài, là một cá thể của đấng Sáng tạo. Con có khái niệm Thượng đế là một Sinh thể xa xăm vượt lên trên trải nghiệm trực tiếp của con.

Con được sinh ra với một nhận biết giới hạn tập trung vào hình tướng cá biệt của mình. Con nghĩ mình được Thượng đế sinh tạo và gửi xuống thế gian này. Con được sinh ra để mở rộng nhận biết của con cho tới khi con nhận ra đấng Sáng tạo không tách biệt khỏi tạo vật của ngài. Thượng đế là Tất cả ở trong Tất cả và do đó con không được sinh tạo bởi một Thượng đế xa xăm và gửi vào một thế giới trong đó không có Thượng đế. Thượng đế ở ngay đây với con và do đó khái niệm con được sinh tạo bởi Thượng đế quá giới hạn, quá đường thẳng. Sự thực là Thượng đế đang biểu hiện chính ngài như là sinh thể cá biệt của con. Con là Thượng đế biểu lộ chính ngài như sinh thể cá biệt của con. Đó là lý do tại sao Giê-su nói vương quốc Thượng đế ở trong con (Luke 17:21). Tiến trình thức tỉnh thấy bản sắc thật của con có nhiều giai đoạn:

  • Con bắt đầu thấy mặt trời của Hiện diện TA LÀ của con là nguồn cội sự sống của con.
  • Con nhận ra ánh sáng tỏa xuyên qua Hiện diện TA LÀ là ánh sáng, uy lực của đấng Sáng tạo.
  • Con nhận ra là đấng Sáng tạo ở khắp nơi trong tạo vật và do đó ánh sáng của Thượng đế có tiềm năng tỏa sáng từ bất cứ điểm nào của tạo vật.
  • Cuối cùng con tới sự nhận biết là ánh sáng không đến từ một nguồn xa xăm mà nó đến từ bên trong cái Ta của con. Lúc đó con trở thành một Sinh thể tự đầy đủ tỏa chiếu ánh sáng Thượng đế từ bên trong con, giống như mặt trời tỏa chiếu ánh sáng từ bên trong chính nó.

Sau khi con được sinh tạo như một dòng sống cá biệt, con đi xuống năng lượng dày đặc hơn của vũ trụ vật chất. Cái cho phép con có được và duy trì nhận biết ý thức về Hiện diện TA LÀ của con sau khi con xuống là tâm thức Ki-tô, Con trai duy nhất được Cha sinh tạo ra. Tâm thức này được Kinh thánh gọi là Ngôi Lời và như Kinh thánh nói, mọi thứ được sinh tạo từ Con trai của Cha, từ tâm thức Ki-tô và được quy định qua Ngôi Lời. Mọi thứ từng được tạo ra bởi một đồng-sáng tạo có tự nhận biết đã đi ra từ tâm thức Ki-tô, nghĩa là tâm thức Ki-tô ở trong mọi hình tướng từng được tạo ra. Không có ngài, không có cả Thượng đế Cha lẫn Thượng đế Con, chẳng điều chi đã được làm ra được làm ra (John 1:3).

Con không bao giờ mất đi tiềm năng lấy lại tâm thức Ki-tô. Dù con xuống thấp tới đâu trong tâm thức, con luôn có tiềm năng giành lại sự kết nối với Thượng đế và bản sắc thật của con. Con không bao giờ có thể bị tách biệt khỏi tâm thức Ki-tô vì nó ở trong mọi thứ, ngay cả ở trong những hình tướng không toàn hảo và không hài hòa với quy luật Thượng đế. Đó là lý do tại sao Giê-su nói đá cũng kêu lên để bênh vực Ki-tô (Luke 19:40). Một chức năng của tâm thức Ki-tô là bảo đảm những người đồng-sáng tạo không bao giờ có thể bị lạc trong tạo vật, không bao giờ có thể bị xa rời khỏi Thượng đế đến độ không có khả năng về nhà. Con không bao giờ có thể rời xa tâm thức Ki-tô do đó cảm nhận tách biệt sẽ luôn là một ảo tưởng chỉ có mặt trong tâm con. Bất cứ lúc nào, con cũng có thể bắt đầu đi trên con đường dẫn con thay thế ảo tưởng này với sự thật sẽ giải thoát con (John 8:32). 

15.7. Kế hoạch thiêng liêng cho sự tăng trưởng của trái đất

Thiết kế nguyên thủy của Thượng đế cho dòng sống của con là con bắt đầu như một sinh thể cá biệt với tự nhận biết giới hạn. Con bắt đầu như một cá thể có kết nối với Thượng đế nhưng khác biệt với cái Tất cả của Thượng đế mà không tách biệt khỏi cái Tất cả của Thượng đế. Có sự khác biệt giữa có sự kết nối với cái Tất cả của Thượng đế ngược lại với tách biệt khỏi cái Tất cả bởi một rào cản không đâm thủng được. Trong trường hợp đầu, con có thể mở rộng sự kết nối và cuối cùng đạt được sự tự nhận biết mình là một với Tất cả. Trong trường hợp thứ nhì, con không có chọn lựa nào cả để trở về hợp nhất với Tất cả. 

Khi con sử dụng các quyền năng sáng tạo của con, khi con dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con, con sẽ dần dần tăng trưởng tự nhận biết. Con cũng tăng trưởng nhận biết về cách vũ trụ và các quy luật của Thượng đế vận hành. Thượng đế đã ghi khắc quy luật của ngài trong các phần sâu trong con, nghĩa là cái ta ý thức của con có thể biết các quy luật này qua tâm Ki-tô. Khi dòng sống của con bắt đầu hành trình của nó trong vũ trụ vật chất này, con không có một sự nhận biết ý thức về các quy luật của Thượng đế. Tâm vỏ ngoài của con, tâm lý luận của con không có hiểu biết về các quy luật của Thượng đế. Làm sao con tuân theo quy luật của Thượng đế được? Con làm được bằng cách dùng khả năng trực giác của con tim qua đó con hòa điệu được với Tâm Ki-tô Hoàn vũ và con tuân thủ các quy luật này mà không có sự nhận biết có ý thức về cách chúng vận hành. Khi con dùng quyền năng sáng tạo của mình, con sẽ dần dần mở rộng sự nhận biết của con về các quy luật Thượng đế. Con sẽ xây dựng sự hiểu biết có ý thức tại sao các quy luật vận hành thế đó, tại sao tuân thủ quy luật có lợi nhất cho con và làm sao các quy luật này quân bình các nỗ lực sáng tạo cá nhân của con với sự tốt lành cho tổng thể.

Khi con tăng trưởng tự nhận biết, dần dần con có thể nhìn vượt lên trên ý niệm cái ta cá nhân của mình. Không những con hòa điệu với sự nhận biết rộng lớn hơn về quy luật Thượng đế, con cũng bắt đầu mở rộng nhận biết về Thân thể Thượng đế, nghĩa là các đồng-sáng tạo khác. Con bắt đầu nhìn quá những ý muốn cá nhân của mình và nhận ra các đồng-sáng tạo khác không tới hành tinh này chỉ để thỏa mãn các ước muốn cá nhân của họ. Có một kế hoạch thiêng liêng để đem đến sự tăng trưởng của trái đất và kế hoạch này có sự hài hòa toàn hảo giữa cá nhân và sự tốt lành cho tập thể. Bằng cách đứng thẳng hàng với kế hoạch thiêng liêng cho Thân thể Thượng đế, con sẽ được toại nguyện hơn khi thấy những nỗ lực cá nhân của mình tăng cường và khế hợp với kế hoạch lớn hơn cho trái đất và nhân loại. Điều này sẽ cho con sự toại nguyện lớn hơn bất cứ nỗ lực cá nhân nào.

Khi con hiểu và tôn trọng người khác hơn, con tăng triển khả năng yêu thương người hàng xóm như chính mình. Quan hệ của con lúc đó sẽ dựa trên tình thương và dồi dào thay vì sợ hãi và thiếu thốn. Khi con quý trọng quy luật và tạo vật của Thượng đế nhiều hơn, dần dần con bắt đầu yêu Thượng đế với tất cả trái tim, tâm hồn và tâm trí của con (Luke 10:27). Khi con tiếp tục đồng-sáng tạo với Thượng đế và mở rộng tự nhận biết của con, con dần dần nhận ra cái ta thật của con là Hiện diện TA LÀ của con, là một cá thể của đấng Sáng tạo. Con bắt đầu nhận ra là, như Giê-su thốt lên, “Ta và Cha ta là một” (John 10:30). Con bắt đầu nhận ra là Cha con đã làm việc cho tới nay (John 5:17) bằng cách sinh tạo thế giới hình tướng như một môi trường cho sự biểu lộ sáng tạo của con. Con phải làm việc để nhân lên khả năng của con và cai quản chính ý niệm bản ngã của con. Khi con đã cai quản cái ta của con, thì con có thể cai quản hành tinh nơi con sống và giúp biến hành tinh này thành vương quốc Thượng đế, một bầu cõi được lấp đầy bởi ánh sáng và sự toàn hảo của Thượng đế, thay thế bóng tối bao trùm mặt đất.

15.8. Mục đích của đời sống là tăng trưởng không ngừng

Cốt lõi của tâm thức Ki-tô có thể gói ghém trong một chữ và chữ này là “quân bình”. Tâm thức Ki-tô quân bình lực lan ra của Cha và lực co lại của Mẹ qua đó các hình tướng bền vững được tạo ra, là những hình tướng quân bình toàn hảo với quy luật Thượng đế. Tâm thức Ki-tô quân bình quan hệ giữa một cá nhân đồng-sáng tạo và Thân thể Thượng đế, để có hài hoà toàn hảo giữa cá nhân và tổng thể. Tâm thức Ki-tô cho cá nhân đồng-sáng tạo sức mạnh để tuân thủ quy luật của Thượng đế và qua đó cá nhân dùng khả năng sáng tạo của mình để giúp khuếch trương toàn thể tạo vật và không tác động tiêu cực gì cả trên bất cứ phần nào của sự sống. Tâm thức Ki-tô quân bình quan hệ giữa người cá nhân đồng-sáng tạo và đấng Sáng tạo để người đồng-sáng tạo không bao giờ bị lạc trong thế giới của các hình tướng được tạo ra.

Bất cứ hình tướng nào được quy định bởi và qua tâm thức Ki-tô đều là một hình tướng toàn hảo. Nó là một hình tướng hài hòa toàn hảo với các quy luật Thượng đế và với ý định sáng tạo của Thượng đế, đó là tất cả người đồng-sáng tạo tăng trưởng một cách hài hòa với nhau để mọi sự sống đều trở nên hơn nữa. Chính qua tâm thức Ki-tô mà con có thể đi theo tiếng gọi của Giê-su: “Cho nên các người nên toàn hảo, giống như Cha các người trên trời, là Hiện diện TA LÀ của con, toàn hảo” (Matthew 5:48).

Sự toàn hảo mà thày nói tới không phải là loại toàn hảo mà hầu hết hình dung. Nhiều người tin vào ý tưởng nhị nguyên, ý tưởng tôn sùng rằng nếu điều gì đó toàn hảo, nó không bao giờ có thể thay đổi. Toàn bộ mục đích của sự sáng tạo vũ trụ này là sáng tạo một bầu cõi trong khoảng trống không và dần dần lấp đầy khoảng trống không đó với ánh sáng Thượng đế cho tới khi ánh sáng có thể lan rộng và lấp đầy một phần của khoảng trống không. Mục đích thực sự của sự sáng tạo, mục đích của đời sống là tăng trưởng không ngừng, mở rộng không ngừng, thăng vượt không ngừng.

Thế giới hình tướng hiện hữu vì Thượng đế muốn hơn nữa. Ý muốn hơn nữa là động lực đằng sau mọi sáng tạo và có sẵn trong mọi tạo vật. Ý tưởng truyền thống về thiên đàng như một nơi đứng yên trong đó các thiên thần ngồi trên cụm mây hồng dạo đàn hạc miên viễn hoàn toàn xa với thực tại sôi động và năng động của Thượng đế. Thiên đàng là một nơi năng động hơn trái đất rất nhiều vì tất cả những Sinh thể trên thiên đàng đều đang liên tục làm việc để phát triển ánh sáng của Thượng đế với mục tiêu trở nên nhiều hơn trong Thượng đế, nhiều hơn trong Tất cả.

Động lực muốn hơn nữa cũng được thiết kế sẵn trong tâm thức Ki-tô và do đó tâm Ki-tô liên tục thúc đẩy những cá nhân đồng-sáng tạo để họ thực thi khả năng sáng tạo và mở rộng sự tự nhận biết của họ. Tâm thức Ki-tô thúc đẩy con trở nên hơn nữa, mở rộng tự nhận biết của con cho tới khi con đạt được trọn vẹn tâm thức Thượng đế và biết con là một cá thể của Tất cả, biết con không tách biệt khỏi Thượng đế. Thay vào đó, con là Thượng đế đang tự biểu hiện chính mình qua ý niệm cái ta cá nhân của con.

Sự toàn hảo mà thày nói tới không đứng yên, không là một hình tượng khô chết. Nó năng động, nó tăng trưởng liên tục, luôn luôn trở nên hơn nữa trong sự toàn vẹn của Thượng đế. Thày có nói trước đây với con là lực co lại của Mẹ được thiết kế có sẵn trong chính Ánh sáng Mẫu-Vật. Lực co lại này sẽ luôn tìm cách trả Ánh sáng Mẫu-Vật về trạng thái cơ bản của nó nơi đó không hình tướng nào hiện hữu. Ta có thể nói lực co lại liên tục tìm cách phân hủy bất cứ hình tướng nào. Thượng đế không có ý định là mọi hình tướng đều phải phân hủy và trở thành không gì cả để vô hiệu hóa nỗ lực của các đồng-sáng tạo. Ý định của Thượng đế là không hình tướng nào đứng yên, không hình tướng nào trở nên trường tồn. Thượng đế muốn hình tướng năng động, có nghĩa là hình tướng nào cũng là nền tảng cho sự tăng trưởng thêm nữa. Thậm chí một hình tướng toàn hảo cũng phải được thăng vượt và dùng làm nền tảng để biểu thị một hình tướng cao hơn.

Tâm thức Ki-tô cho người đồng-sáng tạo sức mạnh để thiết kế một hình tướng hoàn toàn hài hòa với ý định sáng tạo của Thượng đế. Không hình tướng nào sẽ trường tồn bởi vì lực co lại của Mẹ sẽ phân hủy bất cứ gì đứng yên, bất cứ gì trở thành một hệ thống đóng như định luật thứ nhì của nhiệt động học nói. Chìa khóa để bảo đảm cho nỗ lực sáng tạo của con không bị phân hủy là gì? Chìa khóa là con ở trong tâm thức Ki-tô và con không bao giờ muốn đứng yên hay duy trì một hình tướng đặc thù. Con liên tục sáng tạo hình tướng mới tốt đẹp hơn, như thế con ở trong Dòng sông sự Sống là lực sáng tạo luôn luôn tuôn chảy, chính khía cạnh Đấng Sáng tạo của Thượng đế.

Khi con ở trong dòng chảy của sự sống, con không dính mắc vào bất kỳ hình tướng đặc thù nào. Con không mong muốn hình tướng này trường tồn, con chỉ có mong muốn duy nhất dùng hình tướng đó làm bàn đạp để mở rộng khả năng sáng tạo của con. Con không bao giờ chờ đợi con có thể sáng tạo một điều gì trở nên trường tồn. Con không bao giờ nghĩ khi một hình tướng được thay thế bởi một hình tướng khác cao hơn, nỗ lực sáng tạo của con bị lãng phí. Con nhận ra nỗ lực sáng tạo của con không bao giờ bị lãng phí khi con còn ở trong dòng chảy của Dòng sông sự Sống. Con tập trung vào tiến trình sáng tạo thay vì kết quả của sự sáng tạo là một hình tướng đặc trưng. Con tập trung vào hành trình thay vì nơi đến vì con nhận ra cuộc sống là một hành trình không bao giờ dứt.

15.9. Con ở trong dòng chảy của sự sống không bao giờ chấm dứt

Để minh họa điều này, con hãy xem xét một hạt lúa mì được để vào lòng đất. Có vẻ như hạt lúa bị lạc mất dưới đất nhưng sau một thời gian nó trổ mầm. Mầm lúa đẹp tươi nhưng có nhà nông nào lại muốn hạt mầm cứ ở yên như thế? Khi hạt mầm lớn lên thành cây, hình dạng của hạt mầm bị mất đi nhưng nỗ lực sáng tạo của cây không mất đi; nó đơn giản chuyển hóa sang một giai đoạn mới, một hình dạng mới. Cây đẹp tươi với lá xanh nhưng cuối cùng nó biến thành một thân cây có hạt và nó đổi màu vàng. Cây xanh không còn nữa nhưng nỗ lực sáng tạo của cây không mất đi. Khi người ta gặt hái lúa mì, thân cây mất đi nhưng một số hạt trở thành hạt giống cho mùa gặt năm sau và một phần của nó được dùng làm thức ăn nuôi dưỡng cho con người, những người này phục vụ như những đồng-sáng tạo trên trái đất với tiềm năng khuếch trương sự sáng tạo của Thượng đế. Mục đích của nỗ lực sáng tạo thúc đẩy một hạt lúa mì nảy mầm và phát triển không phải là để sản xuất hạt mầm, cây xanh hay cây trưởng thành và duy trì hình dạng này mãi mãi. Mục đích của nỗ lực sáng tạo là thúc đẩy chính tiến trình sự sống, một tiến trình luôn mở rộng và khuếch trương tổng thể của sáng tạo của Thượng đế.

Như một người đồng-sáng tạo con không được thiết kế để dính mắc vào bất kỳ hình tướng nào cho dù nó đẹp biết bao chăng nữa hay cho dù tốn bao nhiêu công sức để tạo ra nó. Con được sinh ra để là một thành phần của Dòng sông sự Sống qua đó con liên tục dùng một hình tướng để làm bàn đạp cho một sự thành đạt sáng tạo cao hơn. Con được thiết kế để làm như thế và chỉ khi con ở trong dòng chảy của sự sống thì con mới thật sự cảm thấy mãn nguyện và sống động. Tâm thức thăng vượt liên tục là tâm thức của sự sống. Sự dính mắc vào một hình tướng và nỗ lực giữ nguyên một hình tướng là tâm thức chết, tâm thức phản Ki-tô. Tâm thức phản Ki-tô khiến các sinh thể có tự nhận biết mắc kẹt trong một ý niệm bản ngã giới hạn và từ chối không thăng vượt nó. Họ kéo họ ra khỏi dòng chảy của sự sống và lực co lại của Mẹ sẽ ngay tức khắc bắt đầu phân hủy cái mà họ tìm cách nắm giữ, tìm cách sở hữu.

Đây là ý nghĩa sâu xa đằng sau lời nói của Giê-su: “Vì ai muốn cứu sự sống của mình thì sẽ mất nó, còn ai vì ta mà mất sự sống của mình thì sẽ tìm lại sự sống” (Matthew 16:25). Nếu con tìm cách bám giữ một ý niệm bản sắc giới hạn và từ chối không thăng vượt nó, lực co lại của Mẹ sẽ chắc chắn lấy đi ý niệm về sự sống này. Nếu con sẵn lòng bỏ ý niệm sự sống đứng yên này, cái hình tượng khô chết đó, để có thể vượt thăng giai đoạn đó và đạt được một ý niệm bản ngã lớn hơn, thì con ở trong tâm thức Ki-tô. Qua tâm thức Ki-tô này, qua sự thăng vượt liên tục này, con sẽ ở trong dòng chảy của sự sống không bao giờ chấm dứt và do đó con có đời sống vĩnh cửu.

Hình thức thật duy nhất của đời sống vĩnh cửu không phải là một trạng thái đứng yên nhưng là một trạng thái năng động của thăng vượt liên tục. Vì con có tự nhận biết, trí tưởng tượng và quyền tự quyết, nên con là người mà con nghĩ con là. Thượng đế đã cho con quyền tạo ra bất cứ ý niệm bản sắc nào mà con muốn, ngay cả ý niệm con là người tội đồ sinh diệt. Nhưng Thượng đế không cho con quyền ở lại mãi mãi trong ý niệm bản sắc đó vì điều đó có nghĩa là con sẽ bị bỏ lại đằng sau dòng chảy sáng tạo của Thượng đế. Tại sao một Thượng đế yêu thương lại muốn con bị mắc kẹt trong một ý niệm bản sắc giới hạn, ngăn cản không cho con đời sống dồi dào? Nếu con tìm cách giữ lại một ý niệm bản sắc giới hạn, con sẽ không thể tránh mất nó. Nếu con sẵn sàng muốn tăng trưởng, con sẽ không bao giờ mất đi ý niệm bản ngã của con.

Con sẽ không bao giờ có thể duy trì một ý niệm bản sắc đặc thù, nhưng con có thể duy trì một ý niệm bản sắc liên tục thay đổi, độc lập với mọi hình tướng đã được tạo ra. Đây là ý niệm bản sắc thật của con, vượt lên trên mọi thứ trên thế gian này. Đấng sáng tạo vượt lên trên tạo vật của ngài. Giống vậy, một người đồng-sáng tạo vượt lên trên tạo vật của nó, vượt lên trên ngay cả thế giới hình tướng. Con được tạo ra như một nối dài của đấng Sáng tạo và do đó con hơn bất kỳ hình tướng nào mà con đã tạo ra trong thế giới này. Con hơn bất kỳ ý niệm bản sắc nào mà con đã tạo ra sau khi con mất đi kết nối với Hiện diện TA LÀ của con và xem mình như một sinh thể tách biệt. Thượng đế cho phép con tách biệt khỏi ngài nhưng vì Thượng đế thương con vô điều kiện, nên Thượng đế không chấp nhận để bất cứ điều kiện nào giữ con vĩnh viễn tách biệt khỏi ngài. Thượng đế sẽ không cho phép bất cứ điều kiện nào khiến con vĩnh viễn mắc kẹt vào trạng thái tách biệt, lúc nào cũng kém hơn sự trọn vẹn của đời sống dồi dào.

15.10. Con phải thay đổi hoàn cảnh bên trong của con

Con yêu dấu, con hãy để thày một lần nữa cho con một khái niệm có thể khó nắm bắt với tâm đường thẳng nhưng có thể nắm bắt với con tim. Vũ trụ vật chất có thể so sánh với một rạp chiếu phim. Như con biết có ba yếu tố căn bản cho phép con xem một cuộn phim. Một là màn hình và phim được chiếu lên nó, hai là cuộn phim trong máy chiếu phim và ba là ánh sáng đến từ bóng đèn trong máy chiếu phim. Bóng đèn trong máy chiếu phim có thể so sánh như lực lan ra của Cha, là động lực đằng sau sự sáng tạo mọi hình tướng. Đấy là ánh sáng tâm linh tuôn chảy xuyên qua Hiện diện TA LÀ của con. Màn ảnh so sánh như Ánh sáng Mẫu-Vật sẽ phản ánh lại bất cứ hình tướng nào được phóng chiếu lên nó bởi máy chiếu phim. Cuộn phim so sánh như tâm thức người đồng-sáng tạo.

Bây giờ con hãy tưởng tượng con đi vào một rạp chiếu phim để xem phim và hình đầu tiên của phim cứ lặp đi lặp lại hoài. Dù có một cuộn phim trong máy chiếu phim và cuộn phim đang di động nhưng mỗi hình trên cuộn phim đều giống nhau. Lẽ đương nhiên điều này không tạo nên một phim, nó tạo nên một hình đứng yên không bao lâu làm mọi người chán ngán. Điều làm nên một phim là mỗi hình trên cuộn phim khác hình trước một chút và sự kiện này cho con ảo tưởng con đang xem phim cho dù sự thật là con đang xem một bộ hình đứng yên. Bộ hình đứng yên đơn lẻ này giản dị được phóng chiếu lên màn ảnh với một tốc độ nối đuôi nhau nhanh đến độ mắt của con bị lừa và nghĩ là nó đang xem một phim liên tục.

Cuộc sống trong vũ trụ vật chất rất giống một phim. Hoàn cảnh bên ngoài con đang đối diện ngay bây giờ là kết quả của những chọn lựa mà con đã lấy trong quá khứ và đang lấy trong hiện tại. Hoàn cảnh bên ngoài của con là kết quả một hình tư tưởng mà con giữ trong tâm và phóng chiếu lên màn ảnh cuộc sống. Trong máy chiếu phim, một hình ảnh mới được phóng ra nhiều lần mỗi giây. Hoàn cảnh bên ngoài của con là kết quả của sự kiện tâm con phóng chiếu một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật nhiều lần mỗi giây. Mỗi lúc con đều có cơ hội thay đổi hình ảnh con phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Nếu con không thay đổi hình ảnh, nếu con lấy vào mình một hình ảnh khô chết, con sẽ tiếp tục phóng chiếu cùng một hình ảnh và đó là lý do tại sao cuộc đời con có vẻ không bao giờ thay đổi.

Đó là lý do tại sao con gặp đi gặp lại cùng một vấn đề và tại sao có vẻ như cuộc đời con giống như một cuộc vật lộn không bao giờ dứt. Nếu hiện nay con ở trong một hoàn cảnh đem lại khổ đau cho con, lý do là con đang phóng chiếu một hình ảnh giới hạn, không hoàn hảo lên màn hình cuộc sống. Con đang phóng chiếu một hình ảnh không được tạo ra từ tâm thức Ki-tô và do đó nó không thẳng hàng với quy luật của Thượng đế, là những quy luật được thiết kế để ban cho con đời sống dồi dào. Nếu hoàn cảnh của con không thay đổi, nếu dường như con đang bị kẹt trong những giới hạn mà con không vượt qua nổi, lý do là vì con đang phóng chiếu lặp đi lặp lại cùng một hình ảnh lên màn hình cuộc sống. Giải pháp duy nhất, cách duy nhất để con cải thiện hoàn cảnh là con phải thay đổi hình ảnh trong tâm con. Con phải bước ra ngoài trạng thái tê liệt tâm linh đang khiến tâm con, gồm trí tưởng tượng, quyền tự quyết và ý niệm bản sắc của con, bị mắc kẹt trong cùng một hình ảnh khô chết và như vậy con vi phạm điều răn thứ nhì (Exodus 20:40). Con phải biến những hình ảnh trong tâm con thành một cuộn phim để cuộc sống của con trở thành một bộ phim dần dần tiến tới một chung cuộc vui vẻ.

Albert Einstein định nghĩa điên khùng là tiến trình trong đó con cứ làm cùng một chuyện cũ nhưng chờ đợi kết quả khác đi. Trong bối cảnh chúng ta đang bàn, điều này có nghĩa là con tiếp tục phóng chiếu cùng một hình tư tưởng nhưng làm sao đó, con chờ đợi bỗng nhiên một ngày màn hình sẽ trình chiếu một hình khác. Einstein là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của mọi thời vì ông đã hiểu cốt lõi của của các định luật thiên nhiên. Ông đã hiểu điều mà thày nói trước đây, ấy là vũ trụ là một tấm gương. Nếu con tiếp tục phóng chiếu cùng một hình ảnh vào tấm gương vũ trụ, không thể tránh được chuyện vũ trụ sẽ tiếp tục phản ánh lại con cùng một hoàn cảnh bên ngoài. Nếu con muốn thay đổi hoàn cảnh bên ngoài của con, con phải bắt đầu bằng cách thay đổi hoàn cảnh bên trong của con. Nếu con muốn thay đổi điều đang được phóng chiếu lên màn hình cuộc đời con, con phải bảo đảm hình ảnh trong tâm con được quy định bởi tâm thức Ki-tô và không bởi tâm thức phản Ki-tô.

15.11. Hậu quả khi xuống thấp hơn tầng tâm thức Ki-tô

Chúng ta có thể hiểu thêm một điều từ hình ảnh của rạp chiếu phim giống như cuộc đời của con. Động lực trong máy chiếu phim là lực lan ra của Cha. Trước đây thày có so sánh lực lan ra này với một dòng chảy ánh sáng tâm linh tuôn chảy qua Hiện diện TA LÀ của con và sau đó qua tâm con. Tâm con áp đặt một hình tư tưởng lên ánh sáng đó, và chính hình ảnh này được phóng chiếu lên màn hình như ngoại cảnh mà con trải nghiệm trên trái đất. Lực đẩy đằng sau sự hiện hữu của con là ánh sáng Thượng đế. Nếu con tắt bóng đèn trong máy chiếu phim thì chuyện gì xảy ra? Phòng chiếu phim sẽ tối đen. Nếu con đánh mất nối kết với Hiện diện TA LÀ của con thì tâm con bị cắt khỏi nguồn ánh sáng nguyên thủy của nó. Nếu con giảm kích thước của sự kết nối với Hiện diện của con, thì giống như con hạ cường độ ánh sáng  trong máy chiếu phim.

Điều này không có nghĩa là con tự hủy hoại ngay tức khắc hay con không thể sáng tạo hình tướng nữa. Nó có nghĩa là con không thể phóng chiếu hình ảnh lên trên màn hình cuộc sống nữa bằng cách dùng ánh sáng tinh khiết của Thượng đế đến từ Hiện diện TA LÀ của con. Giờ đây con bị ép buộc phải phóng chiếu hình ảnh lên trên màn hình cuộc sống bằng cách dùng năng lượng tâm lý đã được đem sẵn vào quang phổ tần số vật chất. Ánh sáng này có độ rung thấp hơn, do đó nó không có cùng mãnh lực với ánh sáng tinh khiết đến từ Hiện diện TA LÀ của con. Con sẽ phải cần nhiều năng lượng và nhiều nỗ lực hơn để phóng chiếu hình ảnh lên màn hình cuộc sống bằng cách dùng ánh sáng có độ rung thấp hơn. Điều này giới hạn khả năng sáng tạo của con và sẽ biến cuộc đời con thành một cuộc vật lộn.

Động lực đằng sau những nỗ lực sáng tạo của con là dòng năng lượng chảy xuyên qua tâm con, giống như ánh sáng chiếu xuyên qua máy chiếu phim. Khi con có một phần tâm thức Ki-tô, con có thể nhận ánh sáng có tần số cao trực tiếp từ Hiện diện TA LÀ của con. Giới hạn duy nhất cho quyền năng sáng tạo của con là kích thước ống dẫn kết nối ý niệm bản sắc vỏ ngoài của con với Hiện diện TA LÀ của con. Khi con có ánh sáng thuần khiết này tuôn chảy qua con, thì sự sáng tạo của con không cần nỗ lực vì chính ánh sáng làm công việc. Con nhận ra sự thực của câu nói của Giê-su: “Tự ta không làm được gì” (John 5:30).

Khi con xuống thấp hơn tầng tâm thức Ki-tô, con phải lấy năng lượng tâm lý từ cõi này trước khi con có thể sáng tạo bất cứ gì. Nếu con không hiểu tiến trình lấy năng lượng tâm lý và dùng nó để sáng tạo hình tướng, quyền năng sáng tạo của con lại bị giảm thấp hơn nữa và giờ đây con phải tích lũy dồi dào chỉ bằng cách làm việc với chất liệu vật lý. Trong cả hai trường hợp, con phải lấy năng lượng từ một nguồn cung cấp hữu hạn, thường có nghĩa là con phải cạnh tranh với người khác để lấy năng lượng đó. Con phải lấy những gì con cần bằng sức mạnh và điều này chắc chắn giam hãm con trong cỗ máy chạy kéo con vào chuỗi hành động và phản ứng, dùng sức mạnh và bị lực phản công chống lại.

Sự vât lộn này sẽ tiếp tục cho tới khi con thiết lập lại sự kết nối với Hiện diện TA LÀ của con và kết nối này là cốt lõi của tâm thức Ki-tô. Khi con khắc phục ý niệm tách biệt và thiết lập lại ý niệm hợp nhất với nguồn cội của con, cuộc đời con không còn là một cuộc vật lộn nữa. Uy lực của ánh sáng Thượng đế giờ đây có thể tuôn chảy xuyên qua tâm con mà không bị cản trở và như thế Cha con có thể làm việc cho đến bây giờ và con cũng làm việc (John 5:17). Như Giê-su đã nói: “Với Thượng đế mọi chuyện đều làm được” (Matthew 9:16), và do đó mọi cảm giác vật lộn đều bỏ lại đằng sau con. Lúc ấy con có thể nói cùng với Giê-su: “Vì ách của ta dễ chịu và gánh nặng của ta nhẹ nhàng” (Matthew 11:30).

Con hãy nhớ là ngay cả khi con đã nối kết với Hiện diện TA LÀ của con, thì con vẫn không thể đứng yên, con không thể sáng tạo một hình tướng và chờ đợi nó hiện hữu vô hạn định. Mục đích cửa đời sống, định nghĩa đích thực của đời sống là thăng vượt liên tục. Con phải liên tục cập nhật và cải thiện các hình tư tưởng trong tâm con. Khi con làm thế, khi con chứng tỏ sự trung tín trong một số việc nhỏ, Thượng đế sẽ cho con cai quản nhiều ánh sáng hơn, sẽ cho phép con sáng tạo nhiều dồi dào hơn nữa và những hình tướng đẹp hơn và toàn hảo hơn nữa.

Khi con sinh hoạt ở tầng tâm thức Ki-tô, hay đúng hơn bởi vì con sinh hoạt ở tầng tâm thức Ki-tô, con không ở trong trạng thái đứng yên. Con liên tục tăng trưởng, liên tục thăng vượt. Con toàn hảo giống như Cha con trên trời toàn hảo (Matthew 5:48) vì con liên tục trở nên hơn nữa giống như Thượng đế liên tục trở nên hơn nữa qua con.

15.12. Con sinh thể tinh khôi mà Thượng đế đã sinh tạo

Vì Thượng đế đã cho con quyền tự quyết và trí tưởng tượng vô hạn, chuyện có thể xảy ra là con dùng trí tưởng tượng của mình để hình dung những hình tướng không thẳng hàng với quy luật của Thượng đế. Chuyện có thể xảy ra là con xây dựng một ý niệm bản ngã không phản ánh thiết kế nguyên thủy cho dòng sống của con. Thay vì xem mình là con trai hay con gái của Thượng đế, con có thể bắt đầu xem mình là một sinh thể tách biệt khỏi Thượng đế, thậm chí là một sinh thể bị Thượng đế bỏ rơi hay bị đuổi ra khỏi thiên đàng. Thậm chí con có thể xây dựng hình ảnh con chống đối Thượng đế và con ghét mọi thứ mà Thượng đế tượng trưng, bao gồm luôn cả những quy luật của Thượng đế mà con xem là một giới hạn cho tự do sáng tạo của mình.

Khi con dùng uy lực ý chí để chấp nhận một tự nhận biết giới hạn như thế là thực, thậm chí coi nó là thực tại khả dĩ duy nhất, con có thể dần dần đưa mình vào một trạng thái tâm thức trong đó con không còn có thể quy định những hình tư tưởng dựa trên tâm thức Ki-tô. Tất cả những hình tư tưởng được giữ trong tâm con được quy định bởi tâm thức phản Ki-tô, tâm thức tách biệt khỏi Thượng đế và tách biệt khỏi tổng thể. Điều này khiến cho hình tư tưởng của con càng ngày càng tập trung vào mình, càng ngày càng ích kỷ. Lúc ấy con mất đi nhận biết về tổng thể và con mất đi sự quan tâm hành động của mình ảnh hưởng người khác ra sao. Điều này có thể trở thành một vòng xoáy đi xuống dần dần kéo con xuống thấp hơn tiềm năng sáng tạo thật của con, tiềm năng thiêng liêng thật của con.

Quả thực không có giới hạn nhất định nào cho việc một sinh thể tự nhận biết có thể đi xuống thấp tới đâu dưới tầng mức tâm thức Ki-tô. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết và trí tưởng tượng không giới hạn. Chỉ có một giới hạn duy nhất là Thượng đế không cho con được thử nghiệm với tâm thức phản Ki-tô mãi mãi. Ngay khi con ăn vào trái của hiểu biết về tốt và xấu, con mất đi sự sống vĩnh cửu của tâm thức Ki-tô. Lúc đó con phải chịu những định luật thấp hơn của sinh diệt mà định luật thứ nhì của nhiệt động học chỉ là một phần. Khi con xuống thấp hơn tầng tâm thức Ki-tô, con không còn ở trong dòng chảy miên viễn của Dòng sông sự Sống. Con chịu sự khống chế của định luật thời gian và không gian và những luật này sẽ giới hạn con ở một nơi nhất định trong không gian và một nơi nhất định trong thời gian.

Không gian và thời gian, theo định nghĩa là những khái niệm giới hạn, con không thể ở mọi nơi trong không gian và con không thể hiện hữu mãi mãi trong thời gian. Ý niệm bản ngã giới hạn, là hậu quả của việc con tham gia vào tâm phản Ki-tô, không thể hiện hữu đời đời. Sẽ tới một ngày con phải chọn tùng phục ai, con phải chọn muốn trở về tâm thức Ki-tô và đời sống vĩnh hằng của tâm thức Ki-tô hay con muốn tiếp tục giới hạn ý niệm bản sắc của mình theo tâm thức phản Ki-tô. Ý niệm bản sắc này chắc chắn phải chết. Đây chính là ngày phán xét được nói tới trong Kinh thánh (Matthew 10:15). Nếu con từ chối tăng trưởng về hướng tâm thức Ki-tô, nếu con từ chối thăng vượt ý niệm bản ngã giới hạn của con thì cơ hội để con thử nghiệm với tâm thức phản Ki-tô sẽ chấm dứt trong cái mà Kinh thánh gọi là cái chết thứ nhì (Revelation 2:11).

Thiết kế nguyên thủy của dòng sống của con không bao giờ có thể mất được. Thiết kế này được bảo tồn muôn thuở trong tâm Ki-tô, Tâm Ki-tô Hoàn vũ. Tiềm năng con được cứu rỗi, được chuộc lại, được trở về trạng thái trước kia của con, được trở về với Hồng ân, được trở về thiên đàng, không bao giờ có thể bị mất. Dù con đã làm gì chăng nữa trong thế gian này, dù con đã đi xuống dưới tầng mức tâm thức Ki-tô bao xa chăng nữa, con vẫn có tiềm năng quay đầu lại và bắt đầu hành trình đi lên sẽ đưa con về với tâm thức Ki-tô. Một chức năng của tâm thức Ki-tô là giữ cái mà ta có thể gọi là niệm tinh khôi. Đây là hình ảnh được giữ trong tâm của đấng Sáng tạo thuở ban đầu khi ngài sinh tạo dòng sống của con. Đây là khái niệm quy định cá thể của con, những món quà cá biệt mà đấng Sáng tạo của con ban cho con khi lần đầu tiên ngài hình thành con. Những đặc tính này ở đây, niêm trong tâm thức Ki-tô. Nếu con sẵn lòng thăng vượt ý niệm bản ngã giới hạn mà con đang có, thì con có thể khám phá niệm tinh khôi này. Con có thể khôi phục lại ý niệm bản ngã, ý niệm bản sắc của con bằng cách một lần nữa hợp nhất với niệm tinh khôi. Con là cái con nghĩ con là, cho nên nếu con có thể hình dung và chấp nhận niệm tinh khôi, con sẽ là sinh thể tinh khôi mà Thượng đế đã sinh tạo.

Hành tinh trái đất lúc ban đầu được tạo ra trong một trạng thái toàn hảo cao hơn những gì được biểu hiện hiện nay. Con người đã đem hành tinh này xuống thấp hơn nhiều trạng thái toàn hảo nguyên thủy, tuy thế thiết kế nguyên thủy vẫn hiện hữu trong niệm tinh khôi trong tâm thức Ki-tô. Chuyện rất có thể xảy ra là một lượng người tới hạn có thể nâng cao tâm thức họ tới tầng mức Ki-tô và do đó họ phục vụ như những cánh cửa mở để đem niệm tinh khôi đó vào hiển thị vật lý trở lại. Hoàn cảnh hiện nay trên trái đất không gì khác hơn cuộn phim chiếu lên màn ảnh cuộc sống qua tâm thức tập thể của nhân loại. Hầu hết con người trên hành tinh này hiện nay tin vào ảo tưởng là không có hình ảnh nào khác khả thi hay thiết thực. Nếu có một số nhỏ con người từ chối không tin vào ảo tưởng đó và đặt viễn quan của họ về trái đất thẳng hàng với niệm tinh khôi, thì Ánh sáng Mẫu-Vật sẽ hân hoan trình chiếu niệm tinh khôi này thay vì khái niệm hiện thời chịu ảnh hưởng quá lớn của tâm phản Ki-tô.

Nếu con cảm thấy những giáo lý thày trao truyền trong khóa học này khuấy động điều gì đó sâu trong trái tim của con, thì rất có thể là con đã xuống đầu thai trong lúc này vì con muốn trở thành một trong những sinh thể Ki-tô có thể giúp nâng trái đất khỏi những hạn chế hiện nay của nó và đem nó vào thời đại hoàng kim trong đó tất cả mọi người cùng chia sẻ cuộc sống dồi dào. Thày sẽ nói thêm về ý tưởng này trong các chương kế tiếp [xem Quyển Hai và Quyển Ba], nhưng bước kế tiếp là chúng ta cần hiểu nhiều hơn làm thế nào những sinh thể tự nhận biết đã đi xuống một ý niệm bản ngã hạn chế dựa trên tâm thức phản Ki-tô. Khi con hiểu con đã đánh mất Hồng ân của tâm Ki-tô như thế nào, thì con cũng sẽ khám phá chìa khóa để lấy lại trạng thái Hồng ân này.

13 | Thức tỉnh khỏi ảo tưởng tập thể

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 10/4/2005.

13.1. Con có thể đồng-sáng tạo sự dồi dào với tâm thức Ki-tô

Thày muốn gom lại một số ý tưởng thày đã cho con trong các chìa khóa trước hầu thày có thể đưa ra một bức tranh mạch lạc hơn về những gì còn cần làm để biểu hiện cuộc sống dồi dào. Thày đã giải thích ý nghĩa thật của câu nói Đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc, là con đã được thiết kế để là người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Con được thiết kế để nhận liên tục đời sống dồi dào từ bên Trên. Con sẽ nhận cuộc sống dồi dào này dưới dạng một dòng chảy năng lượng tâm linh liên tục, chảy từ Hiện diện TA LÀ của con vào tâm ý thức của con. Sau đó con có thể điều khiển dòng chảy này để biểu hiện cuộc sống dồi dào trên thế gian này. Khi làm vậy, con làm tròn vai trò người đồng-sáng tạo với Thượng đế và con nhân lên năng lượng và khả năng sáng tạo mà Thượng đế ban cho con. Lúc ấy con có thể cai quản, trước tiên là chính mình và sau đó cai quản vũ trụ vật chất qua đó con giúp biểu hiện vương quốc Thượng đế trên trái đất.

Lý do vì sao hiện nay con không biểu hiện đời sống dồi dào là vì con đã quên vai trò nguyên thủy của con. Con đã mất ý niệm bản sắc thật của con là một đồng-sáng tạo với Thượng đế. Thay vào đó, con đã chấp nhận một bản sắc giả, một bản sắc giả hiệu như một người phàm sinh diệt và tách biệt khỏi Thượng đế. Thậm chí con có thể tin là không có Thượng đế, không có cõi tâm linh, không có Hiện diện TA LÀ và con hoàn toàn đơn độc trong một thế giới thù nghịch và quanh mình đầy những người tìm cách lấy của con những gì mà con tin là chính đáng thuộc về mình.

Hầu hết những người đang xung đột đều bị mắc kẹt trong một trạng thái tâm thức tập trung vào mình hay ích kỷ. Con người quá tập trung vào mình đến độ họ không còn nhận thức để nhìn bức tranh rộng lớn hơn. Họ không còn nhận thức để quan tâm đến hậu quả hành động của họ trên người khác hay thậm chí họ không còn nhận biết cao hơn là họ là một thành phần của Thân thể Thượng đế trên trái đất và mọi việc họ làm đều ảnh hưởng tổng thể. Họ cũng quá ư tập trung vào cuộc sống trong vũ trụ vật chất nên chẳng còn sức chú ý để xét tới cõi tâm linh và biết được họ có thể nhận được dồi dào trực tiếp từ bên Trên thay vì phải lấy bằng sức mạnh từ thế giới này.

Nếu con muốn biểu hiện cuộc sống dồi dào và khắc phục cảm giác đấu tranh đang làm nhiều người mắc kẹt trong xung đột triền miên để giành giật một số tài nguyên giới hạn, con phải vượt thăng trạng thái tâm thức ích kỷ và duy vật này. Con phải vươn lên trên trạng thái đó và giành lại bản sắc thật của con là con trai hay con gái của Thượng đế, xứng đáng là người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Con hoàn toàn đủ khả năng đồng-sáng tạo cuộc sống dồi dào ngay đây trên trái đất này. Trạng thái tâm thức cao này là tâm thức dựa trên sự hợp nhất với nguồn cội của con thay vì tách biệt khỏi Thượng đế. Đây là sự hợp nhất mà Giê-su mô tả khi thày nói: “Ta và Cha ta là một” (John 10:30). Ý của Giê-su là: “Ta và Hiện diện TA LÀ của ta là một.” Tâm thức mà Giê-su chứng minh là ý niệm bản sắc dựa trên thực tại của con người thật của con thay vì dựa trên hình ảnh con người giả của con. Dù chúng ta có thể gọi trạng thái tâm thức này bằng nhiều tên, thày muốn gọi nó là quả vị Ki-tô cá nhân hay tâm thức Ki-tô. Vai trò của Giê-su khi xuống trái đất là để chứng minh trạng thái tâm thức này.

13.2. Tâm thức Ki-tô là tiếp cận sự sống dựa trên dồi dào và tình thương

Trước khi chúng ta tiếp tục xem xét thật chính xác cách biểu hiện tâm thức Ki-tô, thày muốn mô tả chi tiết hơn ý nghĩa của tâm thức Ki-tô. Vũ trụ vật chất được tạo ra từ năng lượng tinh tế hơn của cõi tâm linh mà tần số đã được hạ độ rung và đã khoác vào một hình tướng. Thước đo chính xác về sự dồi dào mà con người sẵn có trên trái đất là lượng năng lượng tâm linh đã được hạ độ rung và hiện nay rung động trong quang phổ của tần số vật chất. Một số năng lượng đã được hạ xuống quang phổ tần số của chất vật lý và một số năng lượng vẫn hiện hữu như năng lượng tâm lý. Một số năng lượng được biểu hiện thành dồi dào vật chất trong khi một số vẫn còn là tiềm năng dồi dào có thể được biểu hiện thành dồi dào vật chất qua uy lực của tâm con người.

Chìa khóa tối hậu để gia tăng dồi dào trên trái đất để tất cả đều có thể chia sẻ cuộc sống dồi dào, là đem thêm nhiều năng lượng tâm linh vào quang phổ tần số vật chất. Chỉ có người đạt được tâm thức Ki-tô mới có khả năng đem năng lượng từ cõi tâm linh vào cõi vật chất. Chỉ có người có tâm thức Ki-tô mới có thể là cánh cửa mở để ánh sáng Thượng đế tuôn chảy vào thế giới này và đó là lý do tại sao Giê-su có thể nói về mình: “Ta là con đường, sự thật và sự sống” (John 14:6), “Ta là cánh cửa” (John 10:9) và: “Chừng nào ta còn có mặt trên thế gian này, ta là ánh sáng của thế gian” (John 9:5). Bất cứ ai đạt được tâm thức Ki-tô có thể nói y như vậy. Mọi người đều có tiềm năng đạt được tâm thức Ki-tô.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét những cách biểu hiện dồi dào mở ra cho những người không đạt được tâm thức Ki-tô. Nếu con người tin vào triết lý duy vật không có Thượng đế hay họ tin cái nhìn chính thống thờ phượng Giê-su như một trường hợp ngoại lệ thay vì là tấm gương, họ không có chọn lựa gia tăng tổng số năng lượng hiện có trong cõi vật chất. Họ chỉ có thể gia tăng dồi dào bằng cách lấy đi từ số lượng chất liệu vật lý và năng lượng tâm lý hiện có trong hệ thống năng lượng của trái đất.

Chúng ta có thể lập ra một thang đo minh họa những ai gần tâm thức Ki-tô hay đã đi xuống thấp hơn tâm thức Ki-tô bao xa. Chúng ta hãy bắt đầu với người tiền sử sống trong hang động và trạng thái tâm thức mà y đại diện. Với người sống trong hang động, chúng ta thấy một sinh thể hoàn toàn đồng hóa với thân vật lý và đồng hóa với bản năng thấp của thân này. Người tiền sử sống trong hang động hầu như không xứng đáng với nhãn hiệu “con người” bởi vì y cư xử giống một con thú thông minh hơn là con người. Người tiền sử sống trong hang động không có mức nhận biết cao đủ để mường tượng là y có thể thay đổi môi trường. Do đó y sống như một con thú và thích nghi với hoàn cảnh, kiếm sống rất khó khăn bằng cách lấy những gì y cần từ Mẹ Thiên nhiên. Y dùng sức mạnh để lấy mọi thứ để kiếm sống, như giết thú vật hay thu thập thức ăn sẵn có.

Khi y xung đột với những người tiền sử sống trong hang động khác, thì y chỉ có phản ứng duy nhất là bảo vệ bằng bạo lực của cải mà y cho là thuộc về mình. Không có thương thuyết, không có luật pháp hay thỏa thuận giữa những bộ lạc khác nhau hay những dân tộc khác nhau để phân chia đất đai và né tránh đụng độ. Ngay khi bị khiêu khích, bản năng thú tính của y bùng lên và y phản ứng với hội chứng đánh hay chạy điển hình của loài thú. Nếu không chạy được, y sẽ quay lại và đánh. Mức mà ngày nay các nhà khoa học coi là mức khởi đầu của chuỗi tiến hóa của nhân loại tiêu biểu cho mức thấp tuyệt đối của tâm thức Ki-tô. Người tiền sử sống trong hang động không phải là mức khởi đầu của nhân loại. Nó là điểm thấp mà con người rơi xuống khi họ lạm dụng khả năng sáng tạo của họ. Người tiền sử sống trong hang động tiêu biểu cho trạng thái tâm thức thấp nhất theo nghĩa khả năng sáng tạo của con người, mà thế giới hiện đại biết được.

Từ giai đoạn người tiền sử sống trong hang động, con người đi trên một tiến trình tiến lên dần dần, họ gia tăng nhận biết cách dùng khả năng sáng tạo của họ để thay đổi hoàn cảnh và thậm chí tác động lên năng lượng. Một bước nhảy vọt lớn xảy ra khi con người học cách dùng lửa, gìn giữ lửa và kiểm soát lửa để làm dụng cụ. Một bước nhảy vọt khác xảy ra khi con người học cách xây nhà của chính mình thay vì dựa vào các hang động tự nhiên. Thêm một bước nhảy vọt khác xảy ra khi con người học được canh nông và do đó họ có thể dùng đất đai để sản xuất nhiều thức ăn hơn so với thức ăn đến từ săn bắn. Sự tăng trưởng về văn minh được chứng kiến trong 2,000 năm qua cũng tượng trưng cho sự tăng trưởng về nhận biết cách vũ trụ vận hành. Con người càng ngày càng có khả năng thay đổi môi trường thay vì thụ động thích nghi với môi trường. Phần lớn khả năng này tập trung vào việc học hỏi cách dùng chất liệu vật lý và học quy luật thiên nhiên và do đó họ tập trung vào sự thu hoạch dồi dào từ nguồn cung cấp có sẵn trong quang phổ tần số của vật chất vật lý.

Trong thế kỷ qua, con thấy con người gia tăng nhận biết về các dạng năng lượng tinh tế hơn, kể cả hiểu biết khoa học rằng vật chất là một dạng năng lượng. Con cũng thấy con người gia tăng hiểu biết về khía cạnh tâm linh của đời sống, đưa tới nhận biết mở rộng hơn về sự kiện tâm có một ảnh hưởng lớn trên mọi khía cạnh cuộc sống, như khoa tâm lý tự giúp mình đã chứng minh. Con người ngày nay đã bước vào giai đoạn không còn giới hạn sự biểu hiện dồi dào chỉ từ chất liệu vật lý mà thôi. Con người bắt đầu biểu hiện dồi dào bằng cách dùng uy lực của tâm dù hiểu biết chính thức vẫn còn sơ khai. Nhiều người vẫn còn tập trung vào việc dùng tâm để khám phá những luật lệ sâu hơn của vũ trụ cho phép họ sử dụng vật chất tốt hơn. Càng ngày càng có thêm người tìm cách dò tìm tiềm năng tâm làm chủ vật chất qua đó họ có thể hoán chuyển năng lượng tâm lý thành chất liệu vật lý bằng cách hạ độ rung của nó và khoác vào hình tướng vật lý.

Khi nói tới sự gia tăng tâm thức con người, một khía cạnh là sự gia tăng nhận biết, gia tăng hiểu biết thế giới vận hành ra sao. Khi con gia tăng nhận biết, con biết cách dùng quy luật thiên nhiên giỏi hơn để có lợi cho con. Lúc đó con có thể bắt đầu tích cực thay đổi môi trường để nó thỏa mãn nhu cầu của con mà con không cần bỏ ra nhiều công sức. Như con thấy ngày nay trong xã hội loài người, sự gia tăng nhận biết này không phải là không có cạm bẫy. Nó không nhất thiết đem tới đời sống dồi dào hay trạng thái hạnh phúc và tâm an bình thường trực. Cách sử dụng thiếu phân biện nhận biết mở rộng hơn của nhân loại có thể gây vấn đề có tiềm năng đe dọa sự sống còn dài hạn của loài người. Gia tăng nhận biết không đồng nghĩa với tâm thức Ki-tô. Gia tăng nhận biết là một phần của việc đạt tới tâm thức Ki-tô nhưng nó không phải là tâm thức Ki-tô trọn vẹn.

Gia tăng nhận biết về cách dùng quy luật thiên nhiên mà không kèm theo gia tăng hợp nhất với Thượng đế và mọi sự sống có thể kéo con ra xa khỏi tâm thức Ki-tô. Gia tăng nhận biết về thế giới vật chất không tự động tạo ra tâm thức Ki-tô. Nó có thể cung cấp nền tảng để một người tiến lên tâm thức Ki-tô nhưng không bảo đảm điều này sẽ xảy ra. Sự gia tăng nhận biết về khả năng sáng tạo của con người có thể là cái bẫy nếu nó không được cân bằng bởi tình thương trong trái tim. Sự gia tăng nhận biết xảy ra trong trí, nhưng trí không cho con người khả năng yêu thương lẫn nhau và sống hòa bình với nhau. Con người đơn giản giỏi hơn trong việc lấy mọi thứ bằng sức mạnh trong khi chìa khóa thật để có dồi dào là vượt lên trên sức mạnh và biết rằng đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc. Con có thể đạt mọi chuyện con cần qua tình thương thay vì sức mạnh.

Điều này dẫn chúng ta tới khía cạnh kia của tâm thức Ki-tô, chìa khóa thật của tâm thức Ki-tô, là xoay chuyển từ cách tiếp cận sự sống dựa trên thiếu thốn và sợ hãi sang cách tiếp cận dựa trên dồi dào và tình thương. Người tiền sử sống trong hang động tiêu biểu cho một điểm thấp trong dòng tiến hóa trên cả hai phương diện, nhận biết của trí về thế giới và khả năng yêu thương của con tim vượt lên trên tự ngã. Kể từ thời đó, con người đã gia tăng cả hai khả năng hiểu thế giới của trí và khả năng yêu thương của con tim. Đáng tiếc là con tim đã không mở rộng nhanh như trí. Ngày nay chúng ta thấy những người có khả năng sáng tạo công nghệ mới nhưng không có khả năng dùng nó một cách minh triết, kể cả khả năng chọn lựa không phải lúc nào cũng làm cái mà kỹ thuật có thể làm được.

13.3. Tình thương toàn hảo của Thượng đế sẽ xua tan mọi sợ hãi

Mọi xung đột của con người phát sinh từ tâm thức thiếu thốn. Trong trạng thái tâm này, cảm xúc chủ yếu là sợ hãi. Nó có thể là nỗi sợ không có đủ cho mọi người cho nên nếu tôi không lấy vật nào đó thì người khác sẽ lấy. Hoặc nếu tôi không bảo vệ những gì tôi có thì người khác sẽ lấy đi của tôi.

Trong tâm thức này, con sống trong một thế giới mà chung quanh đầy đe dọa. Khi con lúc nào cũng sợ mất mát thì bắt buộc con sẽ trở nên ích kỷ và nó ngăn chặn khả năng nghĩ tới hậu quả dài hạn của hành động của mình, nghĩ tới người khác hay nghĩ tới tổng thể. Giờ đây, chúng ta thấy tâm thức Ki-tô có hai đặc tính:

  • Một sự gia tăng nhận biết về khả năng sáng tạo của con. Điều này bao gồm sự nhận biết lớn hơn về quy luật thiên nhiên hướng dẫn sự trải bày của vũ trụ vật chất và những quy luật lớn hơn của Thượng đế cung cấp khung sườn trong đó các quy luật thiên nhiên vận hành.
  • Một sự gia tăng nhận biết con không phải là một cá nhân tách biệt khỏi tổng thể của tạo vật của Thượng đế hay tách biệt khỏi nguồn cội của con. Không người nào là một ốc đảo và để có thể thật sự hạnh phúc, con cần hiểu ra con chỉ cảm thấy hoàn toàn thỏa nguyện khi con thấy mình là một với Thượng đế và với Thân thể Thượng đế trên trái đất.

Khi con xem mình là một cá nhân cô lập, tự động con rơi xuống tâm thức sợ hãi, tách biệt và thiếu thốn. Nếu con gia tăng nhận biết của trí về quy luật thiên nhiên mà không khắc phục nỗi sợ của con, con sẽ không thể chuyển nhận biết của con thành cuộc sống dồi dào hơn. Con sẽ vẫn tiếp tục bị sợ hãi kìm siết và nhận biết của con đơn giản cho con thêm phương tiện mạnh mẽ hơn để lấy dồi dào từ người khác. Gia tăng nhận biết của con không gia tăng dồi dào trên thế giới, nó chỉ gia tăng căng thẳng và bạo lực trên thế giới.

Con chỉ có thể thăng vượt nỗi sợ làm con suy hoại này bằng cách nhận ra con là một thành phần của một tổng thể rộng lớn hơn, con là một cá thể hóa của Thượng đế. Chỉ khi nào con hoàn toàn nhận ra và chấp nhận con là một phần của tạo vật của Thượng đế thì con mới tin Thượng đế hoan hỷ cho con vương quốc và con không cần phải sống trong thiếu thốn hay lấy mọi thứ bằng sức mạnh. Khi con có được ý niệm bản sắc này, cảm nhận con là một với mọi sự sống và con là một với đấng Sáng tạo của con, con tự động trải nghiệm tình thương toàn hảo, tình thương vô điều kiện mà Thượng đế có đối với con là một nối dài của ngài. Đây là tình thương toàn hảo sẽ xua tan mọi sợ hãi ra khỏi bản thể của con. Khi con khắc phục sợ hãi, con sẽ tiếp cận cuộc sống dựa trên tình thương. Con có thể tuân theo mệnh lệnh của Giê-su thương yêu Thượng đế với tất cả con tim, tâm hồn và tâm của con và thương yêu người hàng xóm như chính mình (Mathhew 22:37).

Chìa khóa để trải nghiệm tình thương này là gì? À, phải chăng lời của Giê-su có hai nghĩa? Có thể nào chúng ta hiểu lời đó như sau: “Hãy thương yêu người hàng xóm của con như chính mình” không có nghĩa là con đơn giản thương yêu người hàng xóm giống như con thương yêu chính mình. Chúng ta có thể thấy chăng là nó có thể mang ý nghĩa thâm sâu hơn, nghĩa là con yêu thương người hàng xóm như chính con bởi vì con nhận ra người hàng xóm là con. Con nhận ra con và người hàng xóm đều là thành phần của cùng Thân thể Thượng đế và cả hai chúng con đều đến từ cùng một nguồn gốc. Con nhận ra cùng với Giê-su: “Hễ các người làm điều gì cho người thấp hèn nhất trong anh em của ta, thì các người đã làm điều đó cho chính ta.” (Matthew 25:40).

Để có thể thương yêu Thượng đế trọn vẹn với tất cả trái tim, tâm và hồn của con, con cần nhận ra Thượng đế không tách biệt khỏi con, Thượng đế là một phần của con vì con là một phần của Thượng đế. Con là một cá thể hóa của Thượng đế, do đó con yêu Thượng đế như chính con vì con nhận ra Thượng đế là cái ta thật của con, bản sắc thật của con. Điều này dẫn đến trạng thái hợp nhất với Thượng đế trong đó con không còn nghĩ cái ta vỏ ngoài, cái ý niệm bản sắc dựa trên tách biệt khỏi Thượng đế, là người hành động. Thay vào đó, con nhận ra cái ta cao, Hiện diện TA LÀ bên trong con là người hành động, là nguyên nhân đầu tiên, là nguồn cội của mọi tặng vật tốt lành và toàn hảo.

Những ý tưởng này quả thực là mắt xích thiếu sót và chúng có thể giúp con bước ra khỏi tâm thức ích kỷ và tiến lên tâm thức Ki-tô. Đây là mắt xích thiếu sót có thể giúp con vươn lên từ tầng con thú thông minh lên tầng sinh thể tâm linh thật sự, một người đồng-sáng tạo thật với Thượng đế. Bước nhảy vọt này cũng lớn lao như bước nhảy vọt từ khỉ lên người mà khoa học không tìm ra mắt xích thiếu sót vì mắt xích đó là một sự nhảy vọt tâm thức.

13.4. Cần gia tăng nhận biết cùng với gia tăng tình thương

Bây giờ chúng ta hãy trở lại ý tưởng con người có thể đi xuống mức thấp hơn rất nhiều tâm thức Ki-tô. Khi con xuống tới mức thấp nhất, con quả thực sống như một con thú, thích nghi với một môi trường nào đó và lấy bằng sức mạnh bất cứ sự dồi dào nào sẵn có trong môi trường. Tâm thức con hoàn toàn tập trung vào mình, vào sự sống còn và mong muốn của mình. Tâm thức con hoàn toàn tập trung vào vũ trụ vật chất, có nghĩa là con chỉ thấy vật chất mà mắt nhìn thấy và các điều kiện khác trong thiên nhiên có thể thỏa mãn các ước muốn của con. Con không có khả năng mường tượng là có điều gì đó mắt không thấy, có điều gì đó ở một cõi cao hơn, có thể thỏa mãn mong muốn của con. Con không thể mường tượng con có thể có điều con muốn từ một uy lực cao hơn sức mạnh vật lý.

Khi con gia tăng nhận biết, con học được là đằng sau các hiện tượng mà giác quan con quan sát có một bộ nguyên tắc chỉ đạo hay quy luật thiên nhiên. Khi con bắt đầu biết các quy luật này, con có thể dùng chúng để thỏa mãn các mong muốn của con mà chỉ bỏ ít sức hơn. Thậm chí con có thể tới điểm thỏa mãn các nhu cầu của con mà không dùng sức mạnh, không lấy từ người khác hay dùng sức mạnh để lấy từ Mẹ Thiên nhiên. Một số nền văn hóa đã chứng minh họ có thể sống hòa hợp toàn hảo với môi trường của họ, luôn luôn dùng tài nguyên tái tạo được và vì vậy họ có thể duy trì một nền văn hóa cả ngàn năm mà không cưỡng hiếp môi trường và không tiêu hủy khả năng hỗ trợ họ của môi trường.

Sống hòa hợp như vậy với thiên nhiên đòi hỏi con người có nhận biết về tổng thể nhưng nhận biết này không thể đến từ trí mà chỉ có thể đến từ con tim. Những gì con thấy hiện nay trong xã hội Tây phương là sự gia tăng nhận biết về các quy luật thiên nhiên đi kèm theo nhiều khía cạnh đen tối. Rất có thể con người có thể dùng quy luật thiên nhiên để đạt được lợi thế tạm thời nhưng lại có những hậu quả lâu dài có tính cách hủy hoại chính họ hay các thế hệ mai sau. Công nghệ hiện đại đã tạo ra ô nhiễm có hậu quả lâu dài cho môi sinh và ngay cả cho gen của con người. Chỉ mới vài thập niên trước con người mới ý thức là một số hóa chất dùng để trừ những sâu trùng phiền nhiễu nhà nông cần thời gian dài để phân hủy và do đó những hóa chất này đi vào chuỗi thực phẩm, kết cuộc chúng đi vào thân thể con người đem lại nhiều hậu quả tiêu cực. Ngay cả ngày nay, con thấy con người ý thức nhiều hơn là ô nhiễm do công nghệ hiện đại gây ra có thể có những hậu quả trên khí hậu toàn cầu, khả dĩ gây ra những điều kiện khí hậu tàn khốc.

Công nghệ dựa trên sự hiểu biết thiên nhiên mà không kèm theo sự phát triển của con tim quả thực có thể cho con người một lợi thế tạm thời nhưng trong dài hạn, nó giảm thiểu lượng giàu có vật chất của hành tinh này. Loại công nghệ này là công nghệ dựa trên sức mạnh. Con người đã học được cách dùng quy luật thiên nhiên nhưng họ hành động với một trạng thái tâm thiếu thốn và sợ hãi, khiến họ muốn dùng sức mạnh để chiếm lấy thiên đường (Matthew 11:12). Vì họ dùng sáng tạo của họ một cách thiếu quân bình, Ánh sáng Mẫu-vật tạo ra môt lực đối nghịch sẽ rốt cuộc lấy đi sự an toàn mà họ cố xây dựng bằng sức mạnh.

Đây là bằng chứng rõ ràng là khi con người gia tăng nhận biết mà không cân bằng với gia tăng khả năng thương yêu cái gì lớn hơn tự ngã, thì họ sẽ không thăng vượt được trạng thái tâm thức dựa trên sợ hãi dẫn tới việc dùng sức mạnh. Con sẽ gia tăng quyền năng dùng sức mạnh và Mẹ Thiên nhiên sẽ phản ánh lại hành động của con qua dạng phản ứng ngược lại. Hành động mất quân bình của con càng mạnh bao nhiêu, phản ứng của Mẹ Thiên nhiên càng mạnh bấy nhiêu dưới dạng tai ương thiên nhiên. Đây đúng là những gì con đang thấy: tai ương là hậu quả của việc con người lạm dụng công nghệ. Bây giờ con thấy là nếu gia tăng nhận biết không kèm theo gia tăng tình thương và cảm nhận mình là một với mọi sự sống, thì nhân loại không tiến gần hơn việc biểu lộ tâm thức Ki-tô. Con người gia tăng quyền năng phá hoại và do đó con người gia tăng phản ứng của Mẹ Thiên nhiên, của chính Ánh sáng Mẫu-Vật.

13.5. Con sáng tạo phù hợp với quy luật Thượng đế

Tuy việc sử dụng công nghệ thiếu quân bình có thể tàn phá cõi vật lý, nhưng sự tăng trưởng nhận biết thiếu quân bình còn có hậu quả tàn khốc hơn nhiều. Ở giai đoạn tiến hóa thấp nhất của tâm thức nhân loại, còn có những người chỉ ý thức sự hiện hữu của cõi vật lý, nghĩa là họ thấy chỉ có chất liệu vật lý là tài nguyên thỏa mãn mong muốn của họ. Nếu họ không phát hiện được một vật qua giác quan thì vật đó chẳng có giá trị gì và thậm chí còn không hiện hữu. Những người này chỉ có thể có được sự dồi dào từ năng lượng đã được biểu hiện sẵn như chất liệu vật lý, như vậy lẽ tất nhiên tiềm năng tích tụ dồi dào của họ bị giới hạn. Họ phải lấy cái gì đã biểu hiện sẵn là chất liệu vật lý và như vậy họ tự đặt họ trong vị thế ganh đua với tất cả mọi người khác cùng trình độ nhận biết với họ.

Khi con vươn lên cao hơn tầng tâm thức thấp này, con ý thức rằng có nhiều sự dồi dào hơn so với những gì con mắt thấy được. Nhiều người biết đến tầm quan trọng của năng lượng vô hình. Nhiều người nhìn ra giá trị của hiểu biết cao hơn về việc tạo dồi dào từ những chất bị xem là vô giá trị. Hầu hết không có hiểu biết rõ ràng, có ý thức về năng lượng tâm lý, họ còn không có hiểu biết cơ bản mà thày đã cho con trong các chương trước. Một số đã học cách tác động lên năng lượng tâm lý một cách vô thức qua uy lực của tâm họ. Nhiều người trong số họ chỉ có hiểu biết hoàn toàn trí năng về sự kiện vật chất được làm từ năng lượng và tâm của họ có uy lực tác động lên năng lượng. Những người này quả thực không phát triển con tim, họ giản dị có nhận biết trí năng rộng lớn hơn về vũ trụ vật chất và những năng lượng thuộc vũ trụ này. Họ biết vũ trụ vật chất là nhiều hơn chất liệu vật lý và chìa khóa để tích tụ lượng dồi dào to lớn hơn là học cách tác động lên năng lượng tâm lý qua tâm.

Đáng tiếc thay, con người có thể gia tăng nhận biết về khả năng của trí mà không gia tăng nhận biết về tổng thể bằng con tim. Con người có thể học cách tác động lên năng lượng tâm lý mà không gia tăng tình thương Thượng đế hay tình thương người anh em của mình. Họ có thể học cách tác động lên năng lượng trong khi họ vẫn còn hoàn toàn vị kỷ và ích kỷ. Một lần nữa, chúng ta hãy xét hai yếu tố cần thiết để biểu hiện tâm thức Ki-tô:

  • Một là sự gia tăng nhận biết về khả năng sáng tạo của con. Nó bắt đầu với sự gia tăng hiểu biết về các quy luật thiên nhiên qua đó con có thể tích tụ dồi dào bằng cách sử dụng giỏi hơn chất liệu vật lý. Bước kế tiếp là học cách dùng tâm để sử dụng năng lượng tâm lý như là nền tảng để phát sinh dồi dào vật chất.
  • Hai là sự gia tăng nhận biết mình là một phần của tổng thể rộng lớn hơn và mình thương yêu tổng thể đó như chính mình. Như thế con có thể dùng khả năng sáng tạo của con phù hợp với quy luật của Thượng đế để con vừa gia tăng dồi dào cá nhân vừa gia tăng tổng lượng dồi dào. Con không lấy từ người khác nhưng con thêm vào tổng lượng dồi dào có mặt trên trái đất. Cuối cùng là con có khả năng đem năng lượng tâm linh vào quang phổ tần số vật lý và đấy là nguồn gốc tối hậu của sự dồi dào.

Chỉ khi tiến hóa của tâm thức mang cả hai yếu tố, thì con mới có thể tiến hóa vượt lên trên ích kỷ và không rơi vào cạm bẫy dùng khả năng sáng tạo lớn lao hơn của con một cách ích kỷ. Có một số người trên trái đất đã đạt được một trình độ cao trong khả năng tác động lên năng lượng tâm lý. Họ đã đạt được khả năng khuynh loát người khác. Tư tưởng và tình cảm của con là những dạng năng lượng. Nếu một người đã thiện nghệ trong việc khuynh loát năng lượng lý trí và tình cảm, một người như thế có thể ảnh hưởng suy nghĩ và cảm xúc của con. Người đó có thể kiểm soát con qua trí thể và cảm thể của con. Nếu con muốn một ví dụ hiển nhiên của một người có khả năng đó, con hãy xem xét vì sao Adolph Hitler đã có thể khuynh loát một phần lớn dân chúng Đức để họ trở thành những rô-bốt vô tâm phục vụ cho mưu đồ quyền lực và kiểm soát của ông.

Trong thế giới ngày hôm nay có nhiều người có khả năng này và một số đã học cách dùng khả năng này đằng sau hậu trường để đại chúng không nhận diện ra họ. Một số trong những người này thậm chí còn dùng khả năng này để nổi danh. Đây là những người đã học được cách dùng năng lượng tâm lý đã được đem vào quang phổ tần số vật chất nhưng độ rung chưa hạ xuống quang phổ tần số chất liệu vật lý. Năng lượng này vẫn hiện hữu như một tiềm năng có thể khoác vào hình tướng vật lý nhưng hình tướng thực thụ chưa được xác định. Khi một người đã học cách tác động lên năng lượng, người đó trở nên thiện nghệ trong việc điều khiển năng lượng biểu hiện thành hình tướng. Điều này cho phép một người như vậy tích tụ của cải vật chất lớn lao. Một phần, họ làm được bằng cách khuynh loát người khác làm công việc thật sự đem lại giàu có nhưng giàu có được tập trung trong tay của người giật giây đằng sau hậu trường.

Đấy là những người đã đạt một khả năng dùng tư tưởng làm chủ vật chất, dùng tâm làm chủ vật chất, cao nhưng họ vẫn chưa đạt được mức làm chủ con tim tương xứng. Họ không thấy họ là một với Thượng đế hay là một với các người khác. Họ thấy họ tách biệt khỏi Thượng đế, thường khi là chống lại Thượng đế. Họ nghĩ họ có thể làm bất cứ gì họ muốn mà không phải chịu hậu quả và một số trong nhóm người này thậm chí tin rằng họ nhiều uy quyền đến độ họ có thể khuynh loát quy luật của Thượng đế để không gặt những gì họ gieo. Một số thậm chí có mưu đồ công khai nổi loạn chống lại quy luật của Thượng đế và tạo ra một thế giới trong đó Thượng đế không có mặt. Họ tìm cách dùng uy lực tâm của họ để kiểm soát tất cả những người khác trên hành tinh này hầu chứng minh thế giới này là một bầu cõi nơi Thượng đế không hiện hữu và nơi không cần tới một đấng Sáng tạo thông minh. Đây là một minh chứng rõ rệt về điều mà thày đã nói với con trước đây là khi con người không có kim chỉ nam dẫn đường tuyệt đối qua sự hiểu biết các quy luật của Thượng đế, các quy luật lệ đã được ghi sâu vào tâm họ, thì họ nghĩ họ có thể trở thành luật lệ cho chính họ. Họ dùng tâm tương đối và nhị nguyên để thiết lập luật lệ của chính họ về cái gì là tốt và xấu và trong sự mù quáng và ngạo mạn, họ nghĩ luật lệ tương đối của chính họ đã thay thế quy luật tuyệt đối của Thượng đế.

Con người có thể học cách dùng uy lực của tâm để tác động lên năng lượng tâm lý mà không mở rộng con tim để cho phép mình sử dụng năng lượng đem lợi lạc cho tổng thể. Con có thể tác động trên năng lượng để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn ích kỷ của con mà không xét đến hậu quả trên Thân thể Thượng đế trên trái đất và hậu quả trên Mẹ Thiên nhiên. Đây là loại người mà Giê-su nói tới: “Nếu vì vậy mà ánh sáng của ngươi tối, sự tối tăm này sẽ lớn biết là dường bao,” (Matthew 6:23) và: “Vương quốc của Thượng đế bị cưỡng ép và kẻ hung bạo muốn dùng bạo lực để chiếm lấy thiên đường” (Matthew 11:12). Nếu con đã học cách dùng năng lượng tâm lý với mục đích ích kỷ thì con biến năng lượng này thành bóng tối. Lượng bóng tối sẽ nhiều bằng lượng ánh sáng mà con tha hóa qua việc con dùng sức mạnh để lấy từ Thượng đế cái mà Thượng đế cho con vô điều kiện nếu con sẵn lòng vượt thăng ý niệm tách biệt với Thượng đế của con.

13.6. Điều tốt nhất cho con cũng tốt nhất cho tổng thể

Sự gia tăng nhận biết các khả năng sáng tạo của con là một phần trong việc đạt tới tâm thức Ki-tô. Nếu nhận biết này giới hạn trong trí mà không được quân bình bởi sự phát triển của con tim thì có khả năng con người tha hóa khả năng sáng tạo của họ và dùng chúng cho những mục đích ích kỷ. Khi con đạt được tâm thức Ki-tô quân bình, khi sự gia tăng nhận biết sáng tạo của con được quân bình bởi tình yêu trong tim con, con sẽ chỉ dùng khả năng sáng tạo của con phù hợp với các quy luật của Thượng đế. Con sẽ không tìm cách thỏa mãn những ước muốn vị kỷ, ích kỷ vì con nhận ra con không phải là một cá nhân tách biệt. Con là một thành phần của Thượng đế và như vậy con là một thành phần của Thân thể Thượng đế. Điều gì tốt nhất cho con cũng tốt nhất cho tổng thể. Khi con khắc phục tâm thức sợ hãi tập trung vào tự ngã, con sẽ nhận ra không có mâu thuẫn giữa mong muốn cá nhân chân thực của con và điều gì tốt cho tổng thể Thân thể của Thượng đế trên trái đất. Con là một thành phần của tổng thể, do đó chỉ khi con khuếch trương tổng thể con mới thực sự được thỏa mãn.

Quả thực con có thể thỏa mãn các mong muốn cá nhân của con bằng một cách sẽ gia tăng tổng lượng dồi dào trên thế giới và như vậy con cũng khuếch trương tổng thể. Khi con không gia tăng tình yêu trong tim con, tình yêu này cho con cảm nhận mình là một với tổng thể, con có thể bị mắc kẹt trong tâm mình. Lúc ấy con tin vào ý tưởng dối trá cho rằng con có quyền dùng uy lực tâm của con mà không đếm xỉa tới tổng thể. Khi con có tâm thức Ki-tô trọn vẹn, con cũng có nhận biết trọn vẹn mình là một nối dài của Thượng đế. Con có sự quân bình toàn hảo giữa mong muốn cá nhân và điều gì tốt cho tất cả mọi người khác. Con cũng biết cách thỏa mãn mong muốn cá nhân của con trong sự hài hòa với các quy luật Thượng đế, những quy luật được thiết kế để bảo đảm điều tốt nhất cho tổng thể. Sự quân bình này đạt được nhờ tâm Ki-tô vậy thì tâm nào đã cho phép con tác động lên năng lượng Thượng đế để sinh tạo hình tướng không thẳng hàng với quy luật Thượng đế? Chẳng phải nó là tâm phản Ki-tô? Chẳng phải chính tâm phản Ki-tô là tư duy cho phép một người tác động lên năng lượng nhưng không cho người đó tình yêu của con tim để dùng năng lượng phù hợp với quy luật Thượng đế?

Một số những thày giả trong lãnh vực phồn thịnh đã tìm ra cách tác động lên năng lượng tâm lý, qua đó dùng nó để khuynh loát người khác hay ngay cả tác động lên chất liệu vật lý hầu thu hút dồi dào về họ. Nếu những người này không gia tăng nhận biết của con tim, họ quả thực đang thu hút dồi dào qua tâm phản Ki-tô. Họ đang dùng uy lực của tâm họ để tác động lên năng lượng và cách này hoàn toàn không hài hòa với các quy luật Thượng đế, trong đó quy luật quan trọng nhất là Luật Tình thương đem lại sự hài hòa giữa cá nhân và tổng thể.

Con cần xem xét chủ đề này dù rằng thày ý thức là một số người cảm thấy khó chịu với chủ đề này vì nó có thể tạo sợ hãi. Không cần phải sợ các lực phản Ki-tô khi con biết cách chúng vận hành. Con chỉ sợ cái mà con không biết bởi vì nếu con không hiểu cách các lực đó đang tìm cách khuynh loát con thì làm sao con bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng của chúng?  Khi con nhìn thấu suốt tư duy phản Ki-tô, con có thể tránh không cho những người kẹt trong tư duy này khuynh loát con hay cám dỗ con. Con có thể quở trách ác ma giống như Giê-su khi thày bị cám dỗ sau khi thày rời sa mạc (Matthew 4:1). Chỉ bằng cách quở trách tư duy phản Ki-tô đã thấm đẫm gần như mọi khía cạnh của đời sống trên hành tinh này, con mới có thể giải thoát mình khỏi tư duy này.

Làm sao con có thể hy vọng đạt được tâm thức Ki-tô nếu con không giải thoát mình khỏi tư duy phản Ki-tô? Điều này giản dị không làm được. Như Giê-su đã nói, con không thể phục vụ hai chủ (Matthew 6:24). Con không thể phục vụ Thượng đế và Ma môn, con không thể phục vụ Thượng đế qua tâm thức Ki-tô lúc nào cũng tìm cách đem lại sự tốt lành nhất cho tất cả, và đồng thời phục vụ Ma môn, nghĩa là tâm thức ích kỷ, xuyên qua tâm phản Ki-tô.

Ngày hôm nay con phải chọn con sẽ phục vụ ai (Joshua 24:15), hoặc con phục vụ tâm thức của sự sống chính là tâm thức Ki-tô, hay con muốn phục vụ tâm thức chết là tâm thức phản Ki-tô. Thày nói, như Moses đã nói: “Con hãy chọn sự sống. Hãy chọn tâm thức Ki-tô là cánh cửa dẫn tới đời sống bất tử, đời sống vĩnh cửu của sự hợp nhất với cội nguồn của con và với mọi sự sống.” (Deuteronomy 30:19).

Trong suốt đời còn lại, con có thể tiếp tục gia tăng nhận biết của con về năng lượng tâm lý và cách tác động lên năng lượng này để tạo dồi dào vật chất cho cá nhân mình. Chừng nào con còn mắc kẹt trong tâm thức phản Ki-tô, con bị mắc kẹt trong tâm thức nhị nguyên. Mọi hành xử của con sẽ không phù hợp với quy luật Thượng đế. Cái gì không phù hợp với quy luật Thượng đế tạo ra một xung lực mất quân bình, có nghĩa là chính Ánh sáng Mẫu-vật sẽ tạo ra một xung lực đối chọi hầu duy trì quân bình trong vũ trụ.

Quả thực con có thể dùng tâm thức phản Ki-tô để tạm thời tích tụ dồi dào vật chất hay uy quyền trên trái đất này. Vũ trụ vật chất được thiết kế với sự trì hoãn, có nghĩa là một sinh thể tự nhận biết có thể lạm dụng uy lực sáng tạo của mình và tạo ra những hình tướng không phù hợp với quy luật Thượng đế. Vì yếu tố trì hoãn có sẵn trong vũ trụ vật chất, những hình tướng thiếu quân bình như vậy sẽ không tự hủy hoại ngay tức khắc. Chúng có thể hiện hữu trong một thời gian và do đó con có thể dùng tâm phản Ki-tô để tạo ra dồi dào vật chất có thể kéo dài suốt quãng đời còn lại của con. Kinh thánh nói đúng khi nói rằng con gieo gì thì gặt nấy (Galatians 6:7). Kinh thánh cũng nói đúng khi nói rằng vẫn còn sự sống sau khi thân vật lý chết (Matthew 16:28). Điều này có nghĩa là nếu con không gặt hái điều con gieo khi xác thân vật lý còn sống thì chắc chắn dòng sống của con sẽ gặt hái điều con gieo trong tương lai.

13.7. Con phải tích cực đứng thẳng hàng với Hiện diện TA LÀ

Nếu con đã lớn lên trong một nền văn hóa Cơ đốc truyền thống, thì con đã bị lập trình để tin rằng con chỉ có một kiếp sống duy nhất ở đây trên trái đất. Ý tưởng hư giả này đã đi vào đạo Cơ đốc qua ảnh hưởng của những người mắc kẹt trong tâm thức phản Ki-tô. Tâm thức phản Ki-tô nhìn cá nhân tách biệt khỏi tổng thể cho nên tâm phản Ki-tô là nguồn gốc của mọi ích kỷ. Một người càng bị mắc kẹt trong tâm thức phản Ki-tô thì người đó càng ích kỷ và ví dụ tối hậu là tâm thức của người tiền sử sống trong hang động. Khi con chỉ chú trọng tới mình, con không thể nhìn quá những mong muốn ngắn hạn của con, do đó con không thể chấp nhận ý tưởng là hành động của con có những hậu quả mà con không tránh được. Một người cực kỳ vị kỷ không thể nào chấp nhận sự thật là họ sẽ chắc chắn gặt hái trong một kiếp tương lai những gì họ gieo trong kiếp này. Đó là lý do tại sao chân lý về tái sinh bị loại bỏ khỏi Cơ đốc giáo chính thống như Giê-su đã giảng chi tiết trong sách của thày [The Mystical Teachings of Jesus, Những Giáo lý Thần bí của Giê-su].

Ngay cả Cơ đốc giáo chính thống cũng dạy là linh hồn vẫn còn sống sau khi xác thân vật lý chết đi. Cơ đốc giáo chính mạch không thể giải thích sự kiện có những em bé sinh ra với tật nguyền trong khi có những em khác hoàn toàn lành mạnh. Nếu theo giáo lý chính thống thì không có lời giải thích hợp lý nào cho sự kiện mà ta có thể quan sát này. Điều này đã khiến nhiều tín đồ Cơ đốc suy luận phải có một Thượng đế bất công trừng phạt trẻ thơ vô tội mà có vẻ chẳng có lý do gì cả. Sự thật là Thượng đế không hề trừng phạt bất cứ ai. Thượng đế giản dị đã thiết lập một vũ trụ vận hành như một tấm gương phản ánh lại cho con những gì con gửi ra ngoài. Khi con dùng khả năng sáng tạo của con không phù hợp với quy luật Thượng đế, con tạo một hành động mất quân bình. Hầu duy trì quân bình trong vũ trụ, tấm gương vũ trụ sẽ tạo ra một phản ứng ngược lại. Phản ứng này sẽ không hủy bỏ ngay lập tức hành động của con. Có một yếu tố trì hoãn có sẵn trong vũ trụ và lý do là giúp con có thêm cơ hội để học hỏi.

Nếu không có sự trì hoãn, nhiều hành động của con sẽ tạo một phản ứng trả về sẽ giết con chết tức khắc. Vì có trì hoãn, con có thể làm lỗi mà không hủy hoại mình ngay tức khắc và nếu bị hủy hoại thì con mất đi cơ hội học hỏi. Con được cho thời gian giữa lúc con làm lỗi và dòng xung lực quay ngược về con từ vũ trụ. Con có thể tăng trưởng nhận biết để khi phản ứng trở về với con, con đã vượt thăng tâm thức đã tạo ra hành động nguyên thủy. Nếu con đã vượt lên trên tâm thức này, Thượng đế có chọn lựa để qua bên hay giảm thiểu phản ứng của vũ trụ để con tiếp tục có cơ hội tăng triển trong kiếp sống hiện thời của con mà không bị gián đoạn bởi hành vi từ một kiếp trước. Điều này hoàn toàn có lý khi con nhận ra là ước muốn duy nhất của Thượng đế là con tăng trưởng qua sự thăng vượt không ngừng trạng thái tâm thức của con, ý niệm bản sắc của con. Thượng đế không phải là Thượng đế giận dữ và trừng phạt mà biết bao nhiêu tôn giáo đã mô tả.

Những hoàn cảnh mà con kinh nghiệm trong kiếp sống này không phải là sự trừng phạt của Thượng đế và cũng không phải là kết quả của trò chơi may rủi. Chúng là hậu quả của những nguyên nhân mà con đã khởi động trong một kiếp trước qua những chọn lựa của con trong những kiếp đó. Hoàn cảnh hiện nay của con không do Thượng đế tạo ra; nó do chính tự ngã của con tạo ra và như thế con đang gặt những gì con đã gieo trong quá khứ. Nếu con không nhận ra điều con trải nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của những nguyên nhân con đã khởi động trong quá khứ, làm sao con khắc phục được cảm giác con là nạn nhân của những lực ngoài tầm kiểm soát của con? Con được sinh ra để là người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Con được sinh ra để trải nghiệm dồi dào trong cuộc sống, con không thể thụ động ngồi chờ Thượng đế đặt dồi dào vào lòng con. Con phải đảm nhận một vai trò tích cực và đứng thẳng hàng với các quy luật Thượng đế, với Hiện diện TA LÀ của con, để con có thể thành cánh cửa mở cho ánh sáng Hiện diện TA LÀ của con tuôn chảy xuống thế giới này và biểu hiện sự dồi dào.

Hầu hết người trên thế giới ngày nay, dù được nuôi dạy trong một tôn giáo chính thống hay khoa học duy vật, đã bị lập trình để tin rằng họ là nạn nhân của những lực vượt quá tầm kiểm soát của họ. Hoặc họ là nạn nhân của một Thượng đế giận dữ và phán xét hay nạn nhân của luật thiên nhiên ngoài tầm kiểm soát của họ. Ngày nào con còn trong trạng thái tâm thức này và tin rằng con là nạn nhân bất lực của những lực ngoài tầm kiểm soát của con, thì làm sao con có thể thành một người đồng-sáng tạo và biểu hiện dồi dào trong đời sống qua những nỗ lực của con? Tất cả những gì con làm được là theo phương cách thụ động và hy vọng một phép lạ sẽ biểu hiện sự dồi dào trong cuộc đời của con.

Chính tư duy này đã khiến nhiều người rơi vào tròng của những thày giả hứa hẹn một kế hoạch làm giàu nhanh chóng. Khi con nghĩ chọn lựa duy nhất của con để đem lại dồi dào là tìm con đường tắt đem lại dồi dào qua một phép lạ kỳ diệu, thì con dễ bị lung lay bởi những lời hứa hẹn trống rỗng của những người tự nhận là họ đã tìm ra ngõ tắt như thế. Con sẽ là con mồi dễ bắt cho những kẻ tự nhận là họ có thể dạy con cách dùng tâm để thu hút dồi dào. Họ sẽ không cho con biết những hậu quả dài hạn hay nói cho con là hệ thống của họ sử dụng tâm phản Ki-tô.

13.8. Chỉ có hợp nhất với Thượng đế mới đem lại dồi dào vô tận của Thượng đế.

Mục đích của khóa học này là cống hiến cho con một con đường chân chính và khoa học dẫn tới dồi dào bền vững. Mục tiêu của thày không phải là chỉ con đường tắt dẫn tới dồi dào tạm bợ. Mục đích của thày là chỉ con đường chân chính dẫn tới đời sống dồi dào có thể duy trì mãi mãi nếu con tiếp tục ở trong tâm thức Ki-tô. Đó là lý do tại sao thày cần phơi bày sự dối trá không những của các thày giả mà còn của toàn bộ tư duy phản Ki-tô đang ngăn cản con làm tròn vai trò đúng đắn của con. Vai trò đúng đắn của con là người đồng-sáng tạo có ý thức có thể với lên cõi tâm linh và đem xuống nhiều năng lượng tâm linh hơn vào quang phổ tần số vật chất. Đây là cách duy nhất để gia tăng lượng dồi dào sẵn có trên trái đất và đơn giản là chuyện này không làm được qua tâm phản Ki-tô. Những người với tư duy phản Ki-tô không thể với lên cõi tâm linh. Khi con bị mắc kẹt trong tâm thức tách biệt khiến con chối bỏ sự hợp nhất của con với Thượng đế, thì làm sao con thiết lập được sự nối kết của con với Hiện diện TA LÀ của con và trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng của Thượng đế? Điều này không thể làm được cho nên tâm phản Ki-tô không bao giờ có thể với lên cao hơn quang phổ tần số vật chất. Đời đời kiếp kiếp nó bị kết án phải lấy dồi dào từ thế gian này cho nên nó phải lấy bằng sức mạnh.

Ta có thể nói Thượng đế đã thiết lập một cơ chế an toàn khác trong thiết kế vũ trụ của ngài. Uy lực sáng tạo tối hậu là đem năng lượng tâm linh vào quang phổ tần số vật chất. Điều này đơn giản không thể làm được bởi cái tâm bị mắc kẹt trong ích kỷ và có khuynh hướng dùng năng lượng tâm linh cho những mục đích vị kỷ. Tâm đó có thể tác động trên năng lượng tâm lý nhưng không thể tiếp cận năng lượng tâm linh. Chỉ có tâm đã khắc phục được ích kỷ qua cảm nhận hợp nhất với Thượng đế và với Thân thể Thượng đế mới tiếp cận được dồi dào vô tận của Thượng đế.

Ngay cả những người đã đạt được một trình độ cao trong việc làm chủ năng lượng tâm lý vẫn chưa đạt được khả năng với lên cõi tâm linh và tải xuống nhiều năng lượng Thượng đế hơn. Họ thiện xảo trong việc tích tụ dồi dào bằng cách thu hút nguồn năng lượng tâm lý, là năng lượng cao hơn và dồi dào hơn chất liệu vật lý nhưng thấp hơn năng lượng tâm linh. Những người như vậy có thể biểu hiện nhiều dồi dào hơn là nếu họ chỉ làm việc ở tầng chất liệu vật lý. Con đừng lầm tưởng nghĩ rằng họ có sự điều ngự tâm linh chân chính hay họ có tâm thức Ki-tô. Dù những thành đạt của họ có vẻ đáng nể phục nhìn từ góc độ vỏ ngoài, nhưng chúng chẳng là gì cả dưới ánh sáng của sự thật Thượng đế. Đó là lý do vì sao Giê-su cảnh giác chúng ta đừng theo những tiên tri giả (Matthew 7:15) sẽ tới dưới danh hiệu Giê-su, một số trong họ có thể phô trương những dấu hiệu và điều kỳ lạ nhưng dưới bề ngoài đó họ là loài sói hung dữ vì trong tim họ không có tình thương.

Những người như vậy chẳng làm chút gì để gia tăng tổng lượng dồi dào trên thế giới này. Họ đơn giản học được cách tác động lên năng lượng tâm lý đã có sẵn trong quang phổ tần số vật chất. Họ chỉ làm được chuyện này qua sức mạnh, có nghĩa là hoặc họ lấy năng lượng tâm lý từ người khác hoặc họ dùng năng lượng tâm lý để khuynh loát người khác làm công việc vật lý và sau đó cướp hoa trái lao động của những người này cho giới thượng lưu quyền lực. Đó là lý do tại sao sự tranh giành quyền lực thật sự trên trái đất là tranh giành năng lượng, kể cả năng lượng tâm lý.

Một lần nữa, con có hai cách để biểu hiện sự dồi dào. Con thực sự có thể theo những thày giả và dùng tư duy phản Ki-tô tạo ra dồi dào vật lý tạm bợ cho chính mình. Con có thể tích lũy của cải đồ sộ trong kiếp sống này qua cách đó. Con yêu dấu, thày giản dị nói sự thật cho con ở đây, thày hoàn toàn trung thực với con. Một số những thày giả ngoài kia đã quả thực nói sự thật khi họ nói họ đã khám phá một hệ thống để con có thể biểu hiện dồi dào bằng uy lực của tâm. Ta có thể nói họ không phải là thày giả theo nghĩa thấp là họ đưa ra một hứa hẹn giả. Họ nói với con rằng họ có một hệ thống có thể giúp con biểu hiện giàu có và lời tuyên bố đó là thật. Họ không cho con biết hậu quả lâu dài của cách làm này. Họ không nói với con là nếu con làm theo hệ thống của họ, con sẽ buộc mình vào tâm thức phản Ki-tô và con không thể tránh gặt những gì con đã gieo trong kiếp này hoặc trong một kiếp tương lai.

Thày ở đây để nói với con là có một chọn lựa khác là con có thể biểu hiện dồi dào mà không mắc kẹt trong tâm thức phản Ki-tô. Đây là chìa khóa chân chính, không phải là chìa khóa cho sự dồi dào vật lý tạm bợ mà là chìa khóa cho đời sống dồi dào trường tồn, cho đời sống vĩnh cửu. Đây là chìa khóa dẫn con bước ra ngoài cái chết, vượt lên trên tâm thức chết để đi vào đời sống trường cửu của tâm thức Ki-tô. Khi con đạt được tâm thức hợp nhất này, chính là vương quốc Thượng đế, mọi thứ khác quả thực sẽ được cộng thêm cho con (Matthew 6:33).

Con yêu dấu, thày giả định là nếu con đang học khóa học này, con đã biết trong tim mình rằng con không hề muốn học cách tác động lên năng lượng tâm lý qua tâm thức phản Ki-tô. Con biết rất rõ con muốn về nhà nơi vương quốc đấng Cha và do đó con không tìm đường tắt. Thày tới con với tình thương lớn lao và thày chìa tay ra để thày có thể dẫn con và cho con một sự hiểu biết rộng lớn hơn về cách khắc phục tâm thức phản Ki-tô và biểu hiện tâm thức Ki-tô. Trong các chương tới, thày sẽ giải thích làm cách nào con đi theo tiếng gọi của Paul: “Hãy để cho tâm đó ngự trong con mà tâm đó cũng chính đã là tâm Giê-su Ki-tô” (Philippians 2:5).

11| Bài học bí mật đằng sau sự đấu tranh của con người

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 9/4/2005.

11.1. Hoàn cảnh bên ngoài phản ánh hoàn cảnh bên trong của con

Con tim yêu dấu của Mẹ, thày xin con bước lui lại và nhìn lịch sử những tương tác giữa con người trên trái đất. Thày xin con xem xét con người đã cư xử với nhau như thế nào xuyên suốt lịch sử được biết đến. Thày xin con tìm một chữ để mô tả tương tác giữa con người với nhau. Thày chắc chắn con có thể nghĩ ra nhiều từ có tính mô tả cao nhưng thày nghĩ con sẽ đồng ý với thày rằng một chữ mô tả đúng hơn hết cách con người tương tác với nhau là từ “đấu tranh”.

Một đặc tính của tương tác giữa con người là sự đấu tranh giữa các cá nhân và đấu tranh giữa các nhóm người, thậm chí đấu tranh giữa loài người và Mẹ Thiên nhiên. Con người có khuynh hướng xem mình, ngay cả đồng hóa mình như những người chống lại người khác hay thậm chí chống lại hành tinh nơi họ đang sống, hành tinh mà sự sống còn của họ tùy thuộc vào. Con có sự đấu tranh để kiểm soát đất đai, kiểm soát của cải vật chất và kiểm soát những người khác. Bây giờ thày xin con xét đến nguyên nhân chính của các đấu tranh này, của đấu tranh giành quyền lực liên tục đã tạo ra đau khổ khôn tả qua dòng lịch sử được biết đến, và thậm chí nhiều đau khổ hơn nữa trong phần lịch sử mà hiện nay khoa học gia chưa biết tới.

Lý do duy nhất đằng sau sự đấu tranh giữa con người là niềm tin không có đủ cho mọi người. Không có đủ đất đai, không có đủ tài nguyên, không có đủ thức ăn, không có đủ năng lượng. Từ đó đưa tới cảm nhận nếu con muốn có nhiều hơn thì con phải lấy từ người khác, con phải dùng sức mạnh để cưỡng đoạt. Trước đây thày có cho con hình ảnh là nếu mỗi người đều có cây đèn thần và có thể hoàn thành mọi ước muốn của mình từ ông thần trong đèn thì sẽ không có xung đột trên trái đất. Nếu tất cả mọi người có thể thành tựu ước muốn của họ mà không cần phải lấy từ người khác, sự tranh giành quyền lực sẽ chấm dứt. Ngay cả cảm nhận phải vật sẽ tan biến và biến mất như hạt sương ban mai tan theo ánh bình minh.

Ôi con yêu dấu, con thấy chăng tầm quan trọng vô cùng của khái niệm này? Con xét xem bao nhiều khổ đau gây ra bởi tranh giành quyền lực? Con xét xem hệ quả sẽ lớn lao chừng nào nếu có ít nhất một số lượng tới hạn con người được trợ giúp để khắc phục cảm nhận phải đấu tranh, khắc phục cảm nhận thiếu thốn đưa tới đấu tranh và do đó chấp nhận họ có thể có đời sống dồi dào mà không cần lấy từ người khác hay không cần cưỡng đoạt bằng sức mạnh từ Mẹ Thiên nhiên.

Thượng đế đã xây dựng một cơ chế an toàn trong chính Ánh sáng Mẫu-Vật. Cơ chế an toàn này là lực co lại tìm cách trả mọi hình tướng trở về trạng thái vô hình tướng, tìm cách trả Ánh sáng Mẫu-Vật trở về trạng thái cơ bản của nó. Bây giờ thày sẽ giải thích thật rõ ràng cho con chuyện gì xảy ra khi con người tìm cách lấy bằng sức mạnh. Nguyên lý này được mô tả bởi hầu hết mọi tôn giáo. Trong Kinh thánh con tìm thấy khái niệm gieo gì gặt nấy (Galatians 6:7). Con tìm thấy lời dạy của Giê-su: hãy làm cho người khác điều gì con muốn họ làm cho con (Matthew 7:12). Con sẽ tìm thấy khái niệm tương tự trong mọi tôn giáo và các ý này mô tả nguyên lý quan trọng nhất về cách vận hành của vũ trụ vật chất. Để mô tả điều này ngắn gọn nhất, ta có thể nói Thượng đế đã sinh tạo một vũ trụ vận hành giống như một tấm gương. Bất cứ điều gì con gửi ra dòng không gian-thời gian liên tục sẽ được tấm gương hoàn vũ gởi trả về con.

Vũ trụ được tạo ra từ Ánh sáng Mẫu-Vật và như thày đã nói, Ánh sáng Mẫu-Vật có tiềm năng khoác lấy bất kỳ hình tướng nào nhưng nó không thể tự nó tạo ra hình tướng. Ánh sáng Mẫu-Vật ngoan ngoãn khoác lên hình tướng khi một tâm có tự nhận biết tác động lên nó. Ánh sáng Mẫu-Vật sẽ khoác lên bất cứ hình tướng nào được giữ như một hình tư tưởng trong tâm có tự nhận biết này. Bất cứ gì con giữ trong tâm con quy định hình ảnh mà con phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật, và như thế hình tư tưởng này sẽ quy định hình tướng mà Ánh sáng Mẫu-Vật khoác vào trong quang phổ tần số vật chất. Nếu con giữ hình tư tưởng cuộc sống là một cuộc đấu tranh, chắc chắn vũ trụ sẽ phản chiếu lại cho con những hoàn cảnh phản ánh niềm tin cuộc sống là đấu tranh. Chính cảm nhận đấu tranh tạo nên đấu tranh.

Luật Tự quyết không hiện hữu một mình. Thượng đế không sinh tạo một vũ trụ trong đó con có thể làm bất cứ gì mình muốn. Luật Tự Quyết hiện hữu cặp đôi với điều mà khoa học gọi là luật tác động và phản ứng. Luật này quy định là dù con có quyền phóng chiếu bất kỳ hình ảnh nào lên Ánh sáng Mẫu-Vật, con sẽ phải trải nghiệm hình tướng trong đó con đã giam cầm Ánh sáng Mẫu-Vật. Khi con sáng tạo điều gì thì con sẽ bắt buộc phải trải nghiệm chính tạo vật của con dưới dạng hoàn cảnh vật lý. Điều này không những công bằng mà còn là cách duy nhất con học cách sử dụng khả năng sáng tạo của con một cách tốt đẹp hơn.

Con thử tưởng tượng một vũ trụ trong đó con có thể làm bất kỳ gì mình muốn mà không bao giờ gặt hái hậu quả hành động của con. Làm sao con có thể học được gì từ việc này? Con xét xem các trẻ lớn lên với cha mẹ bảo vệ các em khỏi hậu quả của những chọn lựa của em. Các em này nhanh chóng trở nên hư hỏng vì được nuông chiều và nghĩ em có thể làm mọi chuyện mà vẫn trốn tránh được hậu quả. Các em đó càng ngày càng phá phách hơn vì em muốn cha mẹ đặt giới hạn cho những cư xử của em. Ý muốn này phát xuất từ động lực muốn học bài học trong đời sống vì con người biết nếu không có hậu quả thì không học được.

Con cũng có ý muốn mạnh mẽ muốn học bài học của đời mình. Dù tâm vỏ ngoài của con có thể chống lại quy luật gieo gì gặt nấy của Thượng đế, con người bên trong con biết ơn sự kiện Luật Nhân và Quả quy định con sẽ trải nghiệm điều con sáng tạo. Con người bên trong của con biết đây là cách học hỏi nhanh chóng cách dùng uy lực sáng tạo của mình để tạo ra trải nghiệm sống tốt nhất cho mình.

Thày hy vọng giúp con thấy dù ngay bây giờ hoàn cảnh sống của con khó khăn đến đâu chăng nữa, có một bài học ẩn giấu đằng sau. Bài học là con đã tạo ra những hoàn cảnh này trong quá khứ bằng cách tạo ra một hình tư tưởng và phóng chiếu nó lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Điều này có nghĩa là con không mãi mãi bị mắc kẹt vào hoàn cảnh vượt quá tầm kiểm soát của con. Bất cứ lúc nào con cũng có thể chọn thay đổi hình tư tưởng trong tâm con và phóng chiếu một hình ảnh tốt hơn lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Khi con học về các chu kỳ của năng lượng Thượng đế chảy xuyên qua các tầng của vũ trụ vật chất mà thày sẽ dạy con sắp tới, con sẽ thấy rằng chỉ là vấn đề thời gian để hoàn cảnh bên ngoài bắt đầu phản ánh những hình ảnh mới mà con giữ trong tâm con.

Cốt lõi của giáo lý của thày là nếu hiện nay con cảm thấy bị mắc kẹt trong hoàn cảnh không mong muốn, con không thật sự bị kẹt. Cảm nhận bị mắc kẹt, cảm nhận phải vật lộn chỉ hiện hữu trong tâm con người mà thôi. Khi con hiểu rộng hơn vũ trụ vận hành ra sao và hiểu rộng hơn về chính uy lực sáng tạo của con, con sẽ thấy là Thượng đế đã trao cho con quyền năng thay đổi tuyệt đối mọi hoàn cảnh, mọi giới hạn. Con có thể vượt lên trên giới hạn và biểu hiện cuộc sống dồi dào ngay đây trong thế giới này. Dù con có thể nghĩ con bị mắc kẹt trong những hoàn cảnh vượt quá tầm kiểm soát của con, con không bao giờ thực sự bị kẹt. Con luôn luôn có thể làm một cái gì để cải thiện hoàn cảnh của con. Dù hoàn cảnh bên ngoài là gì chăng nữa, con luôn có chọn lựa làm chủ hoàn cảnh bên trong của con, làm chủ cách con đáp ứng lại hoàn cảnh bên ngoài. Khi con nhận ra hoàn cảnh bên ngoài của con không gì khác sự phản ánh hoàn cảnh bên trong của con trong quá khứ, con biết là bằng cách thay đổi hình tư tưởng trong tâm con, chắc chắn con sẽ thay đổi điều mà tấm gương vũ trụ sẽ phản chiếu lại con.

11.2. Đằng sau nhu cầu an toàn là nhu cầu được trọn vẹn

Cuộc đấu tranh của kiếp người đã kéo dài không biết bao thiên niên kỷ. Đấu tranh giành của cải vật chất, giành quyền lực hay kiểm soát, sinh ra từ cảm nhận không có đủ dồi dào trong thế giới vật lý này. Dồi dào vật chất mà ta thấy trong thế giới này không phải là một lượng cố định. Dồi dào vật chất giống như mỏm của tảng băng đá và thày chắc chắn con biết là tảng băng đá chỉ có mười phần trăm của khối lượng của nó lồi trên mặt nước. Đa phần tảng băng đá không trông thấy được và giống như vậy vật chất mà giác quan vật lý của con thấy được chỉ là một phần nhỏ của một tổng thể rộng lớn hơn. Mọi vật chất thực sự được tạo ra từ năng lượng rung động do đó dồi dào vật chất chỉ là một phần trông thấy được trong tổng lượng dồi dào trong thế giới này. Tổng lượng dồi dào trong quang phổ tần số vật chất không giới hạn trong vật chất mà con có thể thấy bằng giác quan của con. Tổng lượng dồi dào có mặt cho con người dùng tùy thuộc vào lượng năng lượng đã được đem vào hệ thống năng lượng của hành tinh trái đất.

Vật chất được tạo ra từ năng lượng và năng lượng vật lý thật ra được tạo ra từ năng lượng tâm linh vô hình đã được giam trong một hình tướng đặc thù. Vật chất là năng lượng đã bị hạ độ rung cho tới khi nó rung động trong phạm vi một quang phổ tần số nào đó. Thân vật lý của con có thể tác động trên vật chất. Vật chất đơn giản là một biểu hiện, một nối dài của những năng lượng tinh tế hơn mà giác quan vật lý của con không phát hiện được nhưng tâm của con có thể gán cho hình tướng.

Con hãy có một tầm nhìn mới về đấu tranh giành giật quyền lực của con người. Con người không chỉ ganh đua để giành giật giàu có vật chất hay của cải vật chất. Đa số những đấu tranh giữa con người không liên quan tới vật chất, nó liên quan tới cái gì đó không phải là vật chất, cái gì không phát hiện được bằng giác quan vật lý hay tiêu hóa được bởi thân thể nhưng vẫn có giá trị với con người. Cái đó là gì, chất phi vật chất đó mà con người giành giật nhau? Có phải chăng nó là những năng lượng tinh tế hơn mà giác quan không phát hiện được nhưng vẫn là một thành phần của hệ thống năng lượng của trái đất? Các năng lượng này rất cần thiết để con người cảm thấy được nuôi dưỡng, dồi dào, đầy đủ và an toàn. Con chắc có nghe câu ngạn ngữ nói rằng con người không chỉ sống bằng bánh mì, và phải chăng đây là bằng chứng con người có nhiều nhu cầu phi vật chất không thể được thỏa mãn bởi sở hữu vật chất? 

Trong nhiều trường hợp, đấu tranh giành quyền lực của con người nhằm đem lại cho họ một cảm giác nào đó. Rất nhiều người tìm cách tích lũy tiền bạc, nhưng khi con nhìn vào thế giới và những người giàu nhất, con sẽ thấy nhiều người trong số đó đã tích lũy những lượng tiền bạc khổng lồ đến độ họ không thể tiêu dùng hết cho tới cuối đời của họ. Bất cứ ai cũng có nhu cầu hữu hạn về mặt sở hữu vật chất. Con chỉ có thể mua một lượng tối đa đồ vật mà thôi, con chỉ có thể làm một số sinh hoạt tối đa nào thôi, con chỉ có thể ăn một lượng tối đa nào thôi. Sẽ tới điểm mà một người đã tích lũy đủ tiền để chu toàn tất cả những nhu cầu vật chất của y trong hết quãng đời còn lại. Con thấy rất nhiều người không thể ngừng chạy theo đồng tiền để vui hưởng số tiền họ đã có trong quãng đời còn lại. Họ bị thúc đẩy tiếp tục tích lũy thêm tiền và thêm tiền, cho dù nỗ lực tích lũy thêm tiền và bảo vệ tiền ngăn cản họ vui hưởng cuộc sống của họ. Những người này tìm gì, họ vật lộn để đạt gì? Họ vật lộn để đạt một cảm giác và cảm giác này quan trọng hơn nhiều tiền bạc hay bất cứ vui thú nào tiền có thể mua được. Họ đang vật lộn để đạt một cảm giác an toàn hay một cảm giác uy quyền, kiểm soát hay cao trội.

Trong một thời gian dài, thày rất sốt sắng tìm hiểu tâm lý con người. Là một chân sư thăng thiên, thày có khả năng nhìn vượt lên trên mọi dáng vẻ bên ngoài thường làm rối trí con người và khiến họ không thể hiểu được những gì xảy ra nơi các tầng vô thức của tâm. Cặp mắt của một sinh thể thăng thiên có thể đi xuyên thấu tất cả những màn khói che khuất lừa gạt con người. Thày thấy là đằng sau nhu cầu an toàn vỏ ngoài là một nhu cầu sâu hơn. Nhu cầu này chúng ta có thể gọi là nhu cầu được trọn vẹn.

Đây là một nhu cầu có sẵn trong chính thiết kiết của bản thể con và nó là một cơ chế an toàn khác do Thượng đế thiết kế. Mục đích của nó là ngăn ngừa không cho quyền tự quyết khiến những người đồng-sáng tạo bị lạc trong tâm thức tách biệt. Thượng đế không muốn con bị mắc kẹt trong vòng xoáy vô tận phải gặt hái hậu quả của những chọn lựa quá khứ của mình, bị các hậu quả này quy định những chọn lựa hiện tại của con, tạo thêm những hậu quả mới mà con không tránh được. Khi Thượng đế thiết kế dòng sống của con, nó được thiết kế để luôn tìm cầu sự trọn vẹn, y như Ánh sáng Mẫu-Vật được thiết kế để luôn đi tìm sự cân bằng của trạng trái nền của nó. Thượng đế không sinh tạo sự thiếu thốn hay khổ đau trên trái đất: các thứ này do tâm thức tập thể của nhân loại tạo ra sau khi con người đánh mất sự nối kết trực tiếp với cái ta tâm linh của họ, Hiện diện TA LÀ của họ. Khi nối kết này bị mất, dòng sống trải nghiệm một cảm nhận không trọn vẹn, một cảm nhận cô đơn, thậm chí một cảm nhận bị bỏ rơi. Điều này khiến dòng sống dấy lên ý muốn tái thiết lập lại sự trọn vẹn trước kia, sự đầy đủ trước kia của nó.

Con người quả thật không có ham muốn tích lũy nhiều hơn một lượng của cải vật chất nào đó. Con người không ham muốn trải nghiệm nhiều hơn một lượng thú vui thân xác nào đó. Một dòng sống có ý muốn trải nghiệm cuộc sống trong vũ trụ vật chất. Nó có thể thực hiện những mong muốn đó qua một số trải nghiệm hữu hạn hay một số sở hữu hữu hạn. Điều tạo ra khao khát không bao giờ thỏa mãn được, khao khát có thêm sở hữu, có thêm thú vui, có thêm quyền lực hay bất cứ gì khác mà con người mong muốn, thực sự là ước muốn sâu thẳm được trọn vẹn. Vì những người đồng-sáng tạo không thấy được bản chất thật của ý muốn đó và mục đích của ý muốn đó, họ tìm cách thỏa mãn ý muốn đó bằng những vật mà họ thấy được, những sinh hoạt họ trải nghiệm được. Vì các dòng sống đã quên cội nguồn tâm linh của họ và quên mục đích xuống trái đất của họ, họ không hiểu mong muốn thật của họ là gì. Vì những người đồng-sáng tạo không thấy được họ đã rơi xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn trong đó họ đã đánh mất sự trọn vẹn trước kia của họ, sự thánh thiện trước kia của họ như là những sinh thể tâm linh, như là con trai và con gái của Thượng đế, họ không hiểu ra là mong muốn thật của bản thể họ là tìm lại sự trọn vẹn. Vì họ không thấy cái ta tâm linh của họ, họ không hiểu là khao khát mà họ cảm thấy là khao khát được trọn vẹn, khao khát này chỉ thỏa mãn được khi họ tái thiết lập sự nối kết với cái ta tâm linh của họ. Thay vì đi tìm vương quốc Thượng đế và sự công chính của Ngài qua đó tất cả những thứ kia sẽ được bồi thêm cho họ (Matthew 6:33), họ tìm cách thỏa mãn những mong muốn của họ bằng những vật họ có thể thấy trong thế gian này. Họ tìm cách xây dựng an toàn bên ngoài thay vì trọn vẹn bên trong

Nhiều người tìm cách thiết lập lại sự trọn vẹn bên trong bằng cách tích lũy của cải vật chất, qua đó họ xây dựng một cảm giác an toàn vật chất. Một số người đi tìm an toàn bằng cách có quyền lực trên người khác vì họ nghĩ rằng điều đó giúp họ cảm thấy trọn vẹn. Đằng sau mọi động lực muốn có của cải hay trải nghiệm bên ngoài là động lực tích lũy năng lượng. Khi dòng sống có sự kết nối đúng đắn với Hiện diện TA LÀ, nó cảm thấy một dòng chảy năng lượng tâm linh liên tục tuôn chảy vào mọi tầng của bản thể nó trực tiếp từ Hiện diện TA LÀ. Đây là một dòng chảy tâm linh khiến dòng sống cảm thấy trọn vẹn và cảm thấy mình là một với Dòng sông sự Sống là tạo vật của Thượng đế. Dòng sống cảm thấy nó là một thành phần của cái Tất cả của Thượng đế thay vì đơn độc và không trọn vẹn. Dù người đồng-sáng tạo không ý thức chuyện gì đang xảy ra, nó có một động lực bên trong muốn có được năng lượng. Nó biết chìa khóa để thiết lập lại cảm giác trọn vẹn là năng lượng. Vì nó không hiểu cội nguồn thật và bản sắc thật của nó, một lần nữa nó nghĩ là nó phải lấy năng lượng từ thế gian và dùng năng lượng thế gian để tái thiết lập trạng thái trọn vẹn.

Năng lượng trong thế gian có tần số thấp hơn năng lượng trong cõi tâm linh. Dù con tích lũy bao nhiêu năng lượng vật chất chăng nữa, dòng sống của con sẽ không cảm thấy trọn vẹn. Cố gắng thiết lập lại trạng thái trọn vẹn bên trong bằng cách tích lũy của cải vật chất hay năng lượng vật chất là chuyện không khả thi, giống như tìm cách lắp đầy một lỗ đen không đáy. Đơn giản là điều này không thể làm được và như vậy dòng sống cố tìm cầu một điều không khả thi cho đến khi nó nâng cao hiểu biết và ngừng làm điều không khả thi. Điều duy nhất có thể tái lập cảm giác trọn vẹn là tái thiết lập nối kết trực tiếp, có ý thức với Hiện diện TA LÀ. Lúc đó, con sẽ cảm thấy năng lượng tâm linh có tần số cao tuôn chảy từ Hiện diện TA LÀ xuyên qua mọi tầng của bản thể con. Con biết là con ở trong dòng chảy của Dòng sông sự Sống, và chỉ khi con ở trong dòng chảy này thì con mới cảm thấy trọn vẹn và đầy đủ trong chính mình. Con biết là con không cần gì từ bên ngoài con vì con có Dòng sông sự Sống tuôn chảy bên trong bản thể của con.

11.3. Con phải trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng của Thượng đế

Hãy để thày trở lại hình ảnh cây đèn thần. Nếu con có một cây đèn thần và nếu tất cả điều con cần làm là chà cây đèn và ông thần sẽ nhảy ra và hoàn thành mọi ước muốn của con, con có cảm nhận là cuộc sống trên trái đất là một sự vật lộn nữa chăng? Con có còn mất sức cạnh tranh với người khác để có được một lượng của cải vật chất hữu hạn chăng?  Con có còn mất sức tìm cách lấy của người khác nếu con có thể lấy được từ một nguồn cung cấp vô tận ở bên trong con? Phải chăng là con sẽ muốn chà cái đèn và ra lệnh cho ông thần hoàn thành các mong muốn của con bằng cách cho con năng lượng cần thiết, ngay cả năng lượng đã khoác vào hình dạng của vật chất vật lý?

Mọi điều thày đã giảng cho con cho tới điểm này có mục đích chỉ cho con thấy là quả thực con có một cây đèn thần. Thay vì tìm cách giải quyết đời sống của con bằng cách đổ mồ hôi trên trán (Genesis 3:19), bằng cách dùng sức mạnh để lấy từ người khác hay lấy từ Mẹ thiên nhiên, con có chọn lựa khác là đi vào bên trong và thiết lập lại nối kết với Hiện diện TA LÀ. Bằng cách trước hết đi tìm vương quốc Thượng đế, vương quốc mà Giê-su nói là nó ở bên trong con, con sẽ có thể nhận được từ nguồn dồi dào vô tận của Thượng đế thay vì nguồn dồi dào hạn chế từ thế gian này. Hiện diện TA LÀ của con là một nối dài của đấng Sáng tạo của con và Hiện diện TA LÀ nhận được năng lượng vô tận của đấng Sáng tạo sẵn có vô điều kiện trong cõi tâm linh. Hiện diện TA LÀ của con sẽ cho con tất cả năng lượng tâm linh cần có để hoàn thành tất cả mong muốn thực của con trong thế giới vật chất này. Hiện diện TA LÀ còn cho con ngay cả năng lượng tâm linh mà tâm con có thể nhận được trong một dạng có thể trở thành vật chất.

Để nhận được năng lượng này, con phải thiết lập lại ống dẫn và mở rộng nó để cái ta vỏ ngoài của con, tâm ý thức của con trở thành cánh cửa mở qua đó ánh sáng của Thượng đế, Mặt trời của Hiện diện TA LÀ của con, có thể tỏa sáng xuống thế gian này và xua tan bóng tối đang khiến con cảm thấy thiếu thốn, trống rỗng, không trọn vẹn, thậm chí không có giá trị. Con yêu dấu, nếu con có thể hoàn toàn thấm nhập và chấp nhận lời dạy này, con có tiềm năng hoàn toàn xoay chuyển cuộc đời mình và đặt mình vào hướng đi có thểsẽ dẫn con tới thành tựu tối hậu mà con tìm cầu, là cảm giác trọn vẹn ở bên trong. Con có cảm giác này khi con biết điều Giê-su diễn tả khi thày nói: “Ta và Cha ta là một” (John 10:30).

11.4. Cho và nhận vô điều kiện

Chắc là con đã nhận ra điều mà con người tìm cầu không phải là của cải vật chất mà là một cảm giác nội tại. Có thể con thấy cảm giác này là hạnh phúc, được toại nguyện hay ngay cả tâm an bình. Điều mà con thật sự tìm cầu là sự trọn vẹn và cái trọn vẹn này con có được bất cứ lúc nào. Hầu tìm thấy và thiết lập cảm giác trọn vẹn, con phải quay hướng chú ý của con về bên trong. Thày biết rất rõ con lớn lên trong một xã hội đã lập trình để con tin rằng nếu con có một nhu cầu hay một ước muốn thì con phải đi tìm cái gì đó ở bên ngoài con để thỏa mãn nó. Con đã lớn lên trong một nền văn hóa tiêu thụ lập trình con đi tìm một sản phẩm hay một dịch vụ để thỏa mãn ước muốn của mình. Bản chất của nền văn hóa tiêu thụ này là có người muốn bán con điều gì đó. Đằng sau đó là ý muốn sâu hơn muốn kiểm soát con qua những nhu cầu của con. Bản chất của văn hóa này thực sự là muốn cổ xúy niềm tin thế giới này là một thế giới thiếu thốn và con không có đủ ở bên trong mình để cảm thấy trọn vẹn và mãn nguyện. Con cần trao đổi điều gì đó với người khác và qua nhu cầu đó, người khác hay định chế khác có thể ảnh hưởng con, ngay cả kiểm soát con. Khi Giê-su nói vương quốc Thượng đế ở bên trong con thì ông hoàng thế gian và tay sai của y quyết định giết Giê-su. Họ không muốn Giê-su tiếp tục giảng dạy bí mật duy nhất mà các lực thế gian không muốn con biết. Bí mật này là sự thật muôn đời là chìa khóa thật để thỏa mãn mọi ước muốn của con, chìa khóa thật để trải nghiệm cuộc sống dồi dào của Thượng đế, là ngừng đi tìm dồi dào bên ngoài con. Để tìm thấy dồi dào, tìm thấy trọn vẹn, con phải đi vào bên trong con, con phải đi vào vương quốc Thượng đế bên trong con và qua đó con khám phá chìa khóa thật cho con cuộc sống dồi dào, đó là Hiện diện TA LÀ của con và ánh sáng tâm linh chiếu rọi qua Mặt trời bản thể của con.

Khi con nhận chân chân lý này, con trở nên tự đầy đủ trong tâm linh và do đó con không cần bất cứ gì khác từ bất cứ nguồn nào bên ngoài con. Con không còn cần bất cứ gì từ bất cứ người nào hay bất cứ định chế, tổ chức hay cơ sở thương mại nào của con người. Con thật sự độc lập theo nghĩa tâm linh. Ở đây thày không nói là con sẽ không cần hay không muốn tương tác với người khác. Thày nói là tương tác của con với người khác sẽ có một mục tiêu và mục đích hoàn toàn mới. Thay vì tương tác với người khác dựa trên cảm giác thiếu thốn, giờ đây con sẽ tương tác với người khác dựa trên cảm nhận dồi dào nội tại. Thay vì tìm cách lấy từ người khác bằng sức mạnh, con sẽ tìm cách cho người khác. Điều này không có nghĩa là con sẽ không bao giờ nhận bất cứ gì từ người khác vì con sẽ thường xuyên cho phép Thượng đế thỏa mãn những nhu cầu của con xuyên qua người khác. Khi làm vậy, con không đến từ trạng thái thiếu thốn khiến con cảm thấy thiếu hụt hay cảm thấy người khác nợ mình cái gì đó. Con sẽ không lo sợ người khác không hợp tác và con không muốn dùng sức mạnh để bắt người khác cho con cái mà con cần để cảm thấy trọn vẹn.

Con đã hiểu nguyên lý là đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc và Ngài cho con vô điều kiện nếu con sẵn sàng nhận nó vô điều kiện, nghĩa là con nhận mà không sợ hãi hay không mong chờ hay dính mắc dựa trên sợ hãi, và sau đó con chia sẻ vô điều kiện những gì con nhận vô điều kiện (Matthew 10:8). Khi một nhóm người ở trong trạng thái tâm thức này, họ sẽ cho lẫn nhau và khi làm vậy họ nhân lên khả năng của họ vượt lên trên bất cứ gì mà từng cá nhân riêng rẽ có thể đạt được. Điều này sẽ càng mang thêm dồi dào của Thượng đế vào xã hội của họ qua đó cuộc sống trở thành vòng xoáy đi lên cứ tiếp tục tăng thêm dồi dào cho tất cả.

Ôi con yêu dấu, đây là tiềm năng thật sự của xã hội con người, nghĩa là con người tập hợp với nhau để nhân lên khả năng của mỗi cá nhân và góp chung khả năng của mọi người để tổng thể trở nên nhiều hơn tổng số của các thành phần. Khi con người cho và nhận trong tinh thần vị tha, thì họ thiết lập lại sự nối kết đúng đắn với Thượng đế. Thượng đế quả thực sẽ nhân lên khả năng của họ, sẽ thật sự làm cho họ trở thành người cai quản nhiều thứ và luôn cả mang thêm dồi dào vào thế gian này. Một xã hội có thể bước vào vòng xoáy đi lên đem lại một thời đại hoàng kim của hòa bình, thịnh vượng và dồi dào cho tất cả mọi thành phần của xã hội đó. Điều này đã từng được biểu hiện trong một số nền văn minh quá khứ và một số nền văn minh đã có thể duy trì một thời đại hoàng kim như thế trong một thời gian rất dài cho tới khi con người rốt cuộc bắt đầu đi xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn.

11.5. Con chọn đi vào vương quốc Thượng đế bên trong con

Hãy để thày giải thích cho con chọn lựa con cần lấy, chọn lựa con sẽ chọn mục tiêu gì cho phần còn lại của cuộc đời con. Tất cả vật chất có sẵn cho con người dùng trên trái đất được tạo ra từ năng lượng tinh tế hơn. Vật chất đơn giản chỉ là mỏm của tảng đá băng của tổng số năng lượng có thể có được trong quang phổ tần số vật chất. Hầu hết năng lượng này chưa được dùng như năng lượng vật lý giống như sức nóng hay điện lực. Nó có mặt như năng lượng tâm lý có nghĩa là năng lượng lý trí và năng lượng tình cảm. Tổng lượng của dồi dào vật chất mà con người có thể sử dụng trong thế giới này không chỉ tùy thuộc vào chất vật lý mà tùy tuộc vào tổng số năng lượng có mặt trong quang phổ của tần số vật chất mà một số nhà khoa học gọi là dòng không gian-thời gian liên tục.

Ngay cả vật chất vật lý cũng là năng lượng bị giam vào một khuôn đúc. Nó là biểu hiện của Ánh sáng Mẫu-Vật, bị giam vào một hình tướng vì một tâm có tự nhận biết đã áp đặt một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Trước khi Ánh sáng Mẫu-Vật bị hạ độ rung xuống và trở thành vật chất vật lý, trước tiên nó được hạ độ rung xuống quang phổ tần số của cái mà thày gọi là năng lượng tâm lý. Trước đó, Ánh sáng Mẫu-Vật rung động với tần số cao hơn của cõi tâm linh.

Sự dồi dào mà con người dùng được trong thế giới vật chất có tỉ lệ thuận với tổng số năng lượng có mặt trong toàn bộ hệ thống năng lượng của trái đất. Tổng số này bao gồm những tần số cao hơn tần số của vật chất vật lý nhưng vẫn chưa cao bằng tần số trong cõi tâm linh. Năng lượng này có thể biểu hiện dưới dạng vật chất vật lý hay năng lượng vật lý như điện lực hay ánh sáng mặt trời, hay nó có thể được biểu hiện như năng lượng tâm lý mà giác quan không phát hiện được nhưng có thể cảm nhận được dưới dạng năng lượng tình cảm và lý trí, cảm xúc và tư tưởng. Các nhà khoa học đã nói với con rằng mọi thứ đều là năng lượng có nghĩa là không gì hiện hữu mà không phải là năng lượng. Con biết rõ là con có cảm xúc và tư tưởng. Cả cảm xúc lẫn tư tưởng của con phải là những dạng năng lượng đúng theo định nghĩa của khoa học. Dù con không thể phát hiện một cách vật lý năng lượng tâm lý, con biết nó hiện hữu vì con trải nghiệm nó như một thực tại trong cảm xúc và tư tưởng của con. Con có thể đi vào tim mình và có cái biết nội tại rằng để có được dồi dào, chỉ dùng thân vật lý của con mà thôi không đủ. Con cũng cần dùng tâm của con để thu lượm năng lượng tâm lý, học cách chuyển năng lượng này thành vật chất mà con mong muốn. Điều này dẫn chúng ta tới điểm mấu chốt là điểm thày giảng cho con chọn lựa mà con đối mặt. Con có hai chọn lựa. Hầu biểu hiện nhiều dồi dào hơn trong cuộc sống của con, con có thể dùng phương cách mà hầu hết người trên hành tinh này chọn. Con có thể tìm cách tích lũy một lượng chất liệu vật chất và năng lượng tâm lý lớn hơn từ kho năng lượng đã có sẵn trong quang phổ tần số vật chất. Con có thể tìm cách tích lũy bằng cách lấy dồi dào từ một kho năng lượng và vật chất hữu hạn.

Hậu quả của cách tiếp cận này là con phải dùng sức mạnh để tích lũy năng lượng và của cải vật chất. Trong nhiều trường hợp con phải tích lũy bằng cách lấy từ người khác hay từ Mẹ Thiên nhiên và cả hai có thể không chịu cho con mà không chống trả. Điều này sẽ tạo ra đấu tranh giữa con và người khác hay giữa con và thiên nhiên. Con sẽ phải giải quyết mưu sinh của con bằng mồ hôi nước mắt của mình. Con sẽ phải dùng sức mạnh để tích lũy của cải và con sẽ phải dùng sức mạnh liên tục để bảo vệ của cải khỏi các lực khác tìm cách lấy của con.

Nếu ai ai cũng tìm cách tích lũy dồi dào từ cùng một kho hữu hạn, nếu ai ai cũng tìm cách lấy được phần to hơn từ cùng một ổ bánh, thì con sẽ phải đấu tranh liên tục để đạt được và duy trì sự dồi dào của mình. Cơ chế an toàn có sẵn trong Ánh sáng Mẫu-vật sẽ tìm cách đem mọi năng lượng trở về trạng thái nền của nó, và điều này cũng sẽ tạo ra một lực tìm cách lấy đi những gì con đã lấy bằng sức mạnh. Khi con tìm cách lấy bằng sức mạnh, con đặt mình trong vị thế xung đột với tất cả mọi người khác đang dùng cùng phương cách và xung đột với chính Mẹ Thiên nhiên.

Thày chắc chắn con thấy được giới hạn của phương cách này. Thày chắc chắn con có thể thấy được trong tim con là cho dù con thành công trong việc tích lũy của cải vật chất đồ sộ, trạng thái dồi dào này sẽ không vĩnh viễn và do đó nó không là dồi dào thật sự. Con không thật sự có dồi dào với phương cách này.

Phương cách thứ nhì là con hoàn toàn trong lọc tâm con khỏi cảm giác thiếu thốn khiến con tin rằng cách duy nhất để tích lũy dồi dào là bằng sức mạnh và đấu tranh. Con có thể chọn đi theo gương của Giê-su và các thày tâm linh khác là đi vào vương quốc Thượng đế bên trong con, đạt được trạng thái hợp nhất với Hiện diện TA LÀ của con, với đấng Cha tâm linh của con và sau đó cho phép ánh sáng Thượng đế tuôn chảy vào bản thể của con và vào thế gian, biểu hiện sự dồi dào của Thượng đế trong đời mình.

11.6. Con ở đây để gia tăng tổng lượng ánh sáng trong thế giới vật chất

Nếu con theo phương cách thứ nhì, thì con không tranh đua để tích lũy giàu có đến từ một lượng hữu hạn. Con không tranh đua để lấy một phần to hơn của cùng chiếc bánh. Con mở đường kết nối với sự dồi dào vô tận của Thượng đế và con cho Thượng đế niềm vui ban cho con vương quốc của ngài bằng cách gia tăng cái bánh. Cõi tâm linh không có giới hạn và do đó lượng năng lượng tâm linh mà Hiện diện TA LÀ của con có thể cho tuôn chảy qua bản thể của con cũng không có giới hạn. Giới hạn duy nhất là con có thể nhận được bao nhiêu năng lượng tâm linh qua tâm vỏ ngoài của con.

Khái niệm này là nguồn gốc của huyền thoại chiếc Chén Thánh. Chiếc Chén Thánh là một chiếc chén nhưng thật ra chiếc Chén Thánh là biểu tượng cho chiếc chén có thể chứa dồi dào của Thượng đế dưới dạng ánh sáng tâm linh. Ý nghĩa thật của huyền thoại này là tâm con, bản thể con được sinh ra để trở thành chiếc chén có khả năng chứa ánh sáng tâm linh đến từ Hiện diện TA LÀ của con. Thượng đế sẽ không cho phép ngọc trai của ngài được quăng trước bầy heo (Matthew 7:6). Thượng đế sẽ không cho phép sự dồi dào của ngài bị chôn dưới đất (Matthew 25:18) hay bị rơi xuống đất khô cằn (Matthew 13:5). Thượng đế sẽ không cho con dồi dào cho tới khi con chứng minh con đã trung tín trong một số chuyện (Matthew 25:21), cho tới khi con chứng minh bản thể thấp của con đã trở thành một chén thánh sẽ dùng đúng đắn dồi dào này để con có thể là người quản lý minh triết những gì Thượng đế đã ban cho con.

Con có hai chọn lựa. Con có thể tìm cách biểu hiện cuộc sống dồi dào bằng cách lấy từ lượng năng lượng hữu hạn đang có trong quang phổ tần số vật chất. Hay con có thể tìm cách nhận dồi dào trực tiếp từ lượng vô hạn có trong cõi tâm linh. Nếu con lấy chọn lựa đầu, thì con sẽ không làm gì cả để gia tăng lượng dồi dào đang có trên trái đất. Con chỉ có thể tích lũy dồi dào cho riêng mình bằng cách lấy vật chất hay năng lượng tâm lý từ người khác. Nếu con lấy chọn lựa thứ nhì, thì không những con nhận dồi dào cho bản thân, con cũng đem thêm dồi dào vào thế gian và qua đó con gia tăng tổng số năng lượng mà mọi người có thể dùng. Khi con theo đuổi dồi dào cho riêng mình, thì con cũng gia tăng dồi dào cho toàn thể, và đây đúng thực là ý nghĩa của nhân lên tiền ta lăng của con, là nhân lên tổng lượng dồi dào trong thế giới.

Điều con đang làm thật sự là gia tăng tổng lượng ánh sáng trong thế giới vật chất và qua đó con đóng góp công sức cá nhân vào việc biến thế giới này thành vương quốc Thượng đế. Đây là lý do thực sự của sự hiện hữu của con. Con được thiết kế để phục vụ như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế bằng cách đem ánh sáng tâm linh vào quang phổ tần số vật chất, dùng ánh sáng để xô đuổi bóng tối bằng cách tạo ra những hình tướng đẹp và quân bình toàn hảo, là biểu hiện các quy luật và sự toàn hảo của Thượng đế. Khi con làm tròn vai trò được quy định này thì Thượng đế sẽ biến con thành người cai quản nhiều việc vì con đã trung tín trong một số việc nhỏ, với một lượng ánh sáng tâm linh hữu hạn. Khi con làm tròn vai trò này, con sẽ nghe những lời nói về Giê-su: “Đây là người con trai hay người con gái yêu dấu của Ta, đẹp lòng ta mọi đằng” (Matthew 3:17).

11.7.  Niềm vui trở thành người đồng-sáng tạo với Thượng đế

Con hãy để thày cho con một chân lý sẽ giúp con dừng lại và chọn dễ dàng hơn giữa hai chọn lựa – nếu con chưa chọn. Thày có nhắc đến một số trong số đông đảo các đạo sư trong thế gian tuyên bố là họ có thể dạy con cách tích lũy nhanh chóng và dễ dàng tất cả tiền bạc mà con mong muốn. Thày có đề cập tới một số những vị này như đạo sư giả và thày sẽ giải thích tại sao họ là thày giả.

Tâm của con, có nghĩa là tâm có ý thức và tâm tiềm thức của con, có khả năng bẩm sinh áp đặt một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật, và qua đó khiến ánh sáng đó khoác vào hình tướng do hình ảnh quy định. Qua uy lực của tư tưởng, con áp đặt một hình tư tưởng lên ánh sáng đã được hạ xuống quang phổ tần số vật chất. Qua uy lực của cảm xúc, con khiến năng lượng đó chuyển động và con định hướng nó, và điều này khiến năng lượng đó hạ xuống quang phổ tần số vật chất vật lý để nó thể hiện như một thực tại trong đời sống của con.

Giê-su đã đạt được một trình độ làm chủ vật chất rất cao. Giê-su có khả năng chữa lành cho người bệnh, thậm chí thay đổi cấu trúc phân tử và nguyên tử của thân thể một người và làm cho tế bào bệnh được chữa lành tức khắc và được trọn vẹn trở lại. Giê-su có khả năng biến nước thành rượu và nhân lên các ổ bánh và số lượng cá. Đây là một khả năng có sẵn trong tâm con. Hầu hết con người trên trái đất rất xa trình độ làm chủ vật chất mà Giê-su đã chứng minh. Mọi người trên trái đất đều có khả năng làm chủ vật chất này, và đó là lý do tại sao Giê-su nói những ai tin thày sẽ làm được những việc thày đã làm (John 14:12).

Có hai cách để đạt tới sự làm chủ vật chất này. Có con đường thấp và con đường cao. Sự làm chủ vật chất mà Giê-su chứng minh rõ ràng là con đường cao vì Giê-su nhận ra là chính thày, tự bản thân mình không làm được gì cả nhưng chính đấng Cha, Hiện diện TA LÀ ở trong thày đã làm việc. Khi con nhận ra Hiện diện TA LÀ của con là nguồn gốc thật, là người làm việc thật trong cuộc sống của con, con đứng thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế và thẳng hàng với ý định sáng tạo của Thượng đế. Thiết kế của Thượng đế cho vũ trụ này là tạo ra một môi trường trong đó tất cả các người đồng-sáng tạo với Thượng đế, tất cả những sinh thể tự nhận biết, có thể sống hòa hợp với nhau và hòa hợp với tổng thể. Khi con dùng uy lực sáng tạo của con đến mức tối đa, con đem nhiều dồi dào hơn vào thế giới này và do đó con khuếch trương cái tất cả mà không lấy từ ai khác.

Con có thể dùng uy lực có sẵn trong tâm con để khuynh loát năng lượng của Thượng đế và tích lũy dồi dào cho mình mà không gia tăng tổng số dồi dào trong thế giới này. Lúc ấy con dùng uy lực của tâm con để thu hút về mình nhiều năng lượng và dồi dào vật lý hơn từ kho năng lượng đã có mặt trong hệ thống năng lượng của trái đất. Khi làm vậy, con phải lấy từ những thành phần khác của cuộc sống và con tước đi năng lượng từ những người này và từ tổng thể của cuộc sống.

Một số người khá đông trên hành tinh này đã đạt được khả năng rất cao trong việc thu hút năng lượng và giàu có vật chất về cho họ bằng cách tước đoạt bằng sức mạnh, bằng cách lấy từ số lượng dồi dào hữu hạn có mặt trong thế giới vật chất. Họ làm thế mà không hề quan tâm tới ảnh hưởng của hành động của họ trên những người khác hay trên trái đất Mẹ. Những dòng sống này đã hoàn toàn từ bỏ mọi quan tâm tới tổng thể hay ý định sáng tạo của Thượng đế. Họ xem mình tách biệt khỏi Thượng đế và đứng ra ngoài Thân thể Thượng đế. Họ tin rằng họ thuộc thành phần thượng lưu quyền lực có quyền làm bất cứ gì họ muốn, không cần biết hành động của họ ảnh hưởng các thành phần khác của cuộc sống ra sao. Họ tin rằng họ có quyền biến người khác thành nô lệ hay nông nô oằn lưng làm việc trên trái đất để sản xuất sự giàu có cho giới thượng lưu quyền lực. Nếu con nhìn vào lịch sử, con sẽ thấy trong mọi nền văn hóa và nền văn minh mà con người biết tới, sự hiện hữu của giới thượng lưu này và sự thành công của họ trong việc kiểm soát đại chúng và bắt đại chúng làm việc để đem lại cho giới thượng lưu này số lượng giàu có vật chất, quyền lực, hưởng thụ, đặc quyền và năng lượng quá đáng.

Thày có hai mục đích khi nói điều này với con. Nếu con muốn biểu hiện cuộc sống dồi dào của Thượng đế, con phải giải thoát mình khỏi tư duy của giới thượng lưu quyền lực này. Con phải tách ra khỏi họ và trở thành một nhóm người đứng tách ra và được chọn lựa, và thày sẽ giải thích cặn kỹ hơn điểm nay trong các bài sau. Bây giờ, mục đích quan trọng nhất của lời dạy của thày là khiến con nhận biết là giới thượng lưu này, giới thượng lưu quyền lực này, đã đạt được khả năng thu hút năng lượng tâm lý và sự giàu có vật chất cho chính họ. Họ làm chuyện này bằng cách dùng uy lực có sẵn trong tâm con người để lấy năng lượng từ những thành phần khác của cuộc sống. Không cần phải nói, đây là một sự vi phạm các quy luật của Thượng đế và do đó nó là một sự lạm dụng những uy lực sáng tạo của con người. Điều quan trọng là con hiểu rằng con thực sự có thể lạm dụng uy lực sáng tạo của mình. Con cần hiểu điều này vì chỉ khi hiểu rồi con mới tránh bị gạt bởi các lời hứa hẹn của những người tự phong cho mình là đạo sư dạy phát đạt và hứa hẹn rằng nếu con theo họ, con có thể tích lũy giàu có bằng đường tắt.

Đoạn trước thày có nói là những chương trình làm giàu nhanh chóng giản dị không thành công và đó là sự thật. Có những người đã khám phá những cách khuynh loát năng lượng tâm lý và vật chất qua uy lực của tâm, qua đó họ có thể tích lũy một lượng giàu có đồ sộ, thông thường bằng cách ảnh hưởng người khác. Hầu hết những người này dùng khả năng này để tiếp tục tích lũy giàu có, nhưng một số trong số họ đã đặt mình vào vị trí làm thày, tuyên bố rằng họ có thể dạy con cách tích lũy giàu có giống như cách họ đã làm. Con yêu dấu, con thấy chăng cái vi tế ở đây? Những người này đem chính họ và những người giàu nhất và thành công nhất trên thế giới làm bằng chứng là hệ thống của họ sẽ đưa tới thành công. Một số trong các hệ thống đó hiệu quả, nhưng hầu hết sẽ cần một thời gian dài để học cách khuynh loát năng lượng và do đó không phải là một cách làm giàu nhanh chóng. Quả thực con có thể tích lũy giàu có bằng cách dùng uy lực có sẵn trong tâm con. Nếu con chỉ đo lường thành công dựa trên số lượng giàu có một người đã tích lũy được, con sẽ dễ bị kẹt trong ý nghĩ là con phải theo gương những người giàu có nhất trên trái đất. Con có thể dễ dàng tin những lời hứa hẹn của những ông thày dạy thành công này và họ sẽ dạy con cách lấy được dồi dào bằng sức mạnh.

Con có thể học cách dùng uy lực của tâm để tích lũy giàu có qua sức mạnh, tích lũy dồi dào bằng cách lấy từ người khác, bằng cách khuynh loát hệ thống. Thày sẽ luôn luôn tôn trọng Luật Tự quyết. Nếu con thật sự có nhu cầu trải nghiệm mình cảm thấy thế nào khi lấy dồi dào bằng sức mạnh và qua đó bị kẹt trong vòng xoáy vô tận tìm cầu tích lũy thêm và bảo vệ của cải thì thày là ai mà cản không cho con có trải nghiệm đó. Thày muốn bảo đảm chắc chắn là thày đã giải thích cho con hậu quả của việc tích lũy giàu có theo cách này. Thày đã nói với con là Luật Tự quyết có đầu bên kia là Luật Nhân và Quả. Khi con tìm cách tích lũy giàu có bằng sức mạnh, quả thực con sẽ kích hoạt những nguyên nhân sẽ quay trở về con như những hậu quả và chúng sẽ tìm cách lấy đi những gì con đã tìm cách sở hữu bằng sức mạnh.

Ánh sáng Mẫu-Vật có một cơ chế sẵn có để phân hủy mọi hình tướng bằng cách trở về trạng thái nền của nó. Con có thể dùng uy lực của tâm con để ép Ánh sáng Mẫu-Vật khoác lên một hình tướng. Khi làm thế, con tạo ra sự mất quân bằng trong Ánh sáng Mẫu-Vật vì con tạo ra một hình tướng không dựa trên nguyên lý mà Thượng đế đã dùng. Khi tạo ra mất quân bằng, Luật Nhân và Quả, luật hành động và phản ứng sẽ tự động tạo ra một lực đối chọi mạnh bằng lực đã tạo ra nó. Với mỗi hành động của con để lấy giàu có bằng sức mạnh, vũ trụ sẽ phát sinh một phản ứng tìm cách lấy đi giàu có của con. Mục đích là trái đất trở về sự quân bình và Ánh sáng Mẫu-Vật có thể trở về trạng thái nền của nó. Khi dùng sức mạnh, con có thể duy trì hình tướng mất quân bình của con trong một thời gian, nhưng điều này đòi hỏi con phải đấu tranh liên tục về phía con, một sự đấu tranh sẽ lấy đi sự chú ý và năng lượng của con cho những sinh hoạt khác. Với một số người, sự đấu tranh này ngăn họ thụ hưởng sự giàu có của họ, hay nó có thể nuốt trọn cuộc đời họ. Lẽ tất nhiên đấu tranh này ngăn cản không cho họ tăng triển tâm linh.

Nếu con muốn trải nghiệm cảm giác đấu tranh này, thì Thượng đế đã cho con quyền sáng tạo trải nghiệm này trong cuộc sống của con. Con có thể tiếp tục trải nghiệm đấu tranh trong một thời gian rất dài. Thày hy vọng là khóa học này sẽ cho con cảm hứng để nhận ra con quả thực không muốn bị kẹt trên cỗ máy chạy bộ của hành động và phản ứng này, rằng con quả thực không muốn bị nuốt trọn bởi đấu tranh quyền lực nhân phàm liên tục này. Thày hy vọng con sẽ thấy con được niềm vui lớn hơn rất nhiều khi con trầm mình trong Dòng sông sự Sống, thiết lập lại nối kết của con với Hiện diện TA LÀ của con và cho phép ánh sáng mặt trời của Hiện diện của con sáng tỏa qua bản thể của con. Niềm vui sẽ lớn hơn rất nhiều khi con tham gia vào kế hoạch nguyên thủy của Thượng đế về vũ trụ này, khi con trở thành người đồng-sáng tạo với Thượng đế và qua đó cho phép uy lực của Thượng đế bên trong con biểu hiện cuộc sống dồi dào trường tồn. Niềm vui sẽ lớn hơn nhiều khi nhận đời sống dồi dào trực tiếp từ Trên cao thay vì lấy dồi dào từ những thành phần khác của cuộc sống bằng sức mạnh. Niềm vui sẽ lớn hơn nhiều khi tìm cầu dồi dào theo đường dọc thay vì theo đường ngang.

Thày hy vọng thày đã tạo cảm hứng cho con đi sâu vào trong tim và xem xét hai chọn lựa mà thày đã đưa ra cho con. Con muốn chăng bỏ hết phần còn lại của cuộc đời mình vào một cuộc đấu tranh để có một lượng dồi dào hữu hạn? Hay con muốn chuyển hướng cuộc đời mình để con có thể là một thành phần của Dòng sông sự Sống đem lại nhiều dồi dào hơn vào thế giới này? Nếu con chọn chọn lựa đầu, thày không làm được gì thêm cho con và khóa học không dạy con được điều gì có giá trị. Nếu con chọn chọn lựa thứ nhì, thày sẽ dạy con cách thiết lập lại và mở rộng nối kết của con với Hiện diện TA LÀ của con. Thày sẽ chỉ con cách để mở cửa xả nước lũ cho phép Dòng sông sự Sống tuôn chảy qua bản thể con và biểu hiện dồi dào thật sự, dồi dào mà các lực của thế gian không thể lấy đi. Khi con đã chọn lựa chấp nhận dồi dào từ trên Cao thì con hãy theo thày bước tới chương kế tiếp.

 

9 | Mang ánh sáng tâm linh vào thế giới vật chất

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 8/4/2005.

9.1. Vũ khúc hoàn vũ

Con tim yêu dấu của Mẹ, giờ đây chúng ta tới một bước ngoặt trong loạt bài giảng này. Thày đã cho con một số ý có vẻ bí truyền và hơi rời rạc. Mỗi ý và ngay cả từ ngữ chính xác trong mỗi ý có mục đích kích hoạt ký ức nội tâm trong con hầu từng bước một giúp con nhớ lại và chấp nhận con thực sự là ai và tại sao con ở đây trên trái đất này. Trong chương này, thày sẽ giải thích cho con chính mục tiêu của sáng tạo và chính mục đích của sự hiện hữu của con, ngay cả mục đích đặc trưng đã khiến con đến hành tinh này. Nó sẽ cho con lựa chọn giữa con đường cao thị hiện sự dồi dào của Thượng đế hay con đường thấp thu thập dồi dào của trái đất. Đây là sự khác biệt giữa tìm cách dùng sức mạnh giành sự dồi dào hay cho phép Thượng đế cho con sự dồi dào vô điều kiện.

Thày đã giải thích là Thượng đế có hai khía cạnh. Một khía cạnh là đấng Sáng tạo và khía cạnh kia là Bản thể Thuần khiết của Thượng đế trong đó không có phân biệt. Nếu con chịu đi vào tim mình và nghiệm lời của thày, con sẽ nhận ra Bản thể Thuần khiết của Thượng đế là cái Tất cả. Bản thể Thuần khiết của Thượng đế viên mãn và tự đủ. Ở trong Bản thể Thuần Khiết của Thượng đế không có chỗ cho một hình tướng tách biệt khỏi cái Tất cả. Trong Bản thể Thuần khiết của Thượng đế không thể tạo ra bất cứ hình tướng riêng biệt nào, bất cứ vật gì tách biệt khỏi cái Tất cả. Trước khi có thể sáng tạo bất kỳ hình tướng nào, cần phải có một không gian nhỏ hơn cái Tất cả của Thượng đế để trong không gian “trống không” này, các hình tướng riêng biệt có thể được tạo ra, những hình tướng tách biệt khỏi cái Tất cả. Hãy so sánh với ánh sáng của mặt trời cực kỳ mạnh đến độ chỉ có ánh sáng tinh khiết và trắng có thể hiện hữu. Chỉ ở khoảng cách nào đó từ mặt trời mới có chỗ cho ánh sáng có màu và sắc độ khác nhau.

Bây giờ thày cho con một hình ảnh về tiến trình sáng tạo, nhưng thày muốn con hiểu là hình ảnh thày cho con thích nghi với trạng thái tâm thức hiện thời của con, với tâm có khuynh hướng nghĩ theo đường thẳng. Thày cho con một hình ảnh đường thẳng nhưng thày muốn con giữ trong tâm là thực tại của Thượng đế không đường thẳng. Con cẩn thận đừng lấy hình ảnh thày cho con và biến nó thành hình tượng khô chết để tưởng rằng đây là hình ảnh hoàn chỉnh về Thượng đế và về công trình sáng tạo của Thượng đế.

Thày không cho con hình ảnh này để giam tâm con trong một tầm nhìn đặc thù về Thượng đế. Thày cho con hình ảnh này để giải phóng tâm con khỏi tầm nhìn hạn chế về Thượng đế mà hầu hết con người có trên thế gian này. Thày cho con hình ảnh này với hy vọng là rốt cuộc con có thể vượt lên trên mọi nhu cầu có một hình ảnh đường thẳng về Thượng đế và từ đó trải nghiệm trực tiếp tâm thức và Bản thể quả cầu và trùm khắp của Thượng đế.

Trong cái Tất cả của Thượng đế không có hình tướng khác biệt. Khái niệm thời gian và không gian cũng không có ý nghĩa trong cái Tất cả. Để bắt đầu tiến trình sáng tạo một thế giới hình tướng, đấng Sáng tạo rút mình lại và tạo ra cái mà một số giáo lý tâm linh gọi là “trống không”.  Khi đấng Sáng tạo rút mình lại, ngài rút mình thành một điểm duy nhất. Các khoa học gia gọi nó là điểm dị biệt (singularity) và hiện nay họ cho rằng sự sáng tạo vũ trụ bắt đầu khi mọi vật chất tụ vào một điểm dị biệt. Con hãy tưởng tượng cái Tất cả của Thượng đế trong đó không có không gian, không có hình tướng riêng biệt. Bây giờ đấng Sáng tạo rút mình vào một điểm duy nhất và chung quanh điểm duy nhất này ngài tạo ra một khoảng trống không ít hơn cái Tất cả.

Khoảng trống không này giống như một không gian trống rỗng vĩ đại có dạng một trái trứng. Một số người đã thấy bằng trực giác hình ảnh thần bí về sáng tạo của Thượng đế giống như trái trứng hoàn vũ. Thày không muốn con nhìn sự sáng tạo giống như trái trứng mà chung quanh không có gì hết. Thày muốn con thấy là sự sáng tạo bắt đầu như một khoảng trống không có dạng trái trứng và bao bọc chung quanh khoảng trống không này là cái Tất cả. Khoảng trống không chính là không gian trống rỗng, nghĩa là nó không có bất kỳ hình tướng nào và không có cái Tất cả của Thượng đế. Có thể nói nó không có gì trong đó – không có cái Tất cả của Thượng đế hay bất kỳ hình tướng khác biệt nào. Có thể nói nó là bóng tối vì trong nó không có chất liệu gì cả.

Nơi trung tâm của cái trống không nguyên thủy này có sự tập trung cao độ của một phần của cái Tất cả của Thượng đế đã được lấy ra để tạo cái trống không. Đây là trụ điểm của khía cạnh thứ nhì của Thượng đế, là cá nhân đấng Sáng tạo. Đấng Sáng tạo có động lực muốn trở nên hơn nữa cho nên ngài lấp đầy cái trống không cho tới khi cái trống không một lần nữa trở thành cái Tất cả của Thượng đế. Đây là vũ khúc hoàn vũ mà một số người gọi là hơi thở vào và hơi thở ra của Thượng đế.

Thượng đế hít vào, tập trung mình vào điểm dị biệt và sáng tạo cái trống không. Sau đó Thượng đế thở ra cho tới khi hơi thở ra hoàn vũ một lần nữa lấp đầy cái trống không. Trong tiến trình tham gia vào vũ khúc hoàn vũ, lấp đầy cái trống không, đấng Sáng tạo tăng triển tự nhận biết. Tăng triển tự nhận biết là toàn bộ mục tiêu của sự sáng tạo. Tăng triển tự nhận biết không chỉ áp dụng cho Sinh thể Nguyên thủy là đấng Sáng tạo, và thày sẽ giải thích tại sao trong phần sau.

9.2. Mệnh lệnh nhân lên và cai quản

Đấng Sáng tạo hiện hữu như một điểm duy nhất, như điểm dị biệt ngay giữa cái trống không – cái trống không nhỏ hơn cái Tất cả và do đó có thể lấp đầy với hình tướng do đấng Sáng tạo tạo tác. Hành động sáng tạo tiên khởi là đấng Sáng tạo cần tạo ra một chất liệu có thể nhào nặn thành bất cứ hình tướng nào. Thượng đế nói: “Ánh sáng hãy có mặt,” và Ánh sáng đã có mặt. Như Sáng thế ký (Genesis) ghi lại (Genesis 1:4), Thượng đế tách ánh sáng khỏi bóng tối nghĩa là Thượng đế tách ánh sáng có thể mang vào hình tướng khỏi bóng tối lấp đầy phần của cái trống không nơi chưa có hình tướng, chưa có ánh sáng. Mục đích chung của nỗ lực Thượng đế là khuếch trương ánh sáng cho tới khi nó lấp đầy toàn thể cái trống không và tiêu hủy bóng tối, bóng tối không phải là xấu ác nhưng đơn giản là sự vắng mặt của ánh sáng.

Hành động sáng tạo này không xảy ra trong khoảnh khắc vì dù rằng đấng Sáng tạo có uy lực Toàn năng, đấng Sáng tạo không dùng uy lực của ngài để lấp đầy khoảng trống không trong khoảnh khắc. Đấng Sáng tạo không lấp đầy khoảng trống không chỉ vì mục đích lấp đầy. Ngài lấp nó đầy dần dần để tạo cơ hội cho những sinh thể tự nhận biết do đấng Sáng tạo sinh tạo ra như những nối dài của chính ngài, có thể phục vụ như người đồng-sáng tạo và giúp lấp đầy khoảng trống không. Khi làm vậy, họ cũng tăng triển tự nhận biết và nhận biết rõ hơn họ là ai, họ từ đâu tới và họ có tiềm năng đi tới đâu. Đây là mục tiêu thật của sáng tạo, sự tăng triển tự nhận biết khiến cho ngay cả Bản thể Tinh khiết của Thượng đế cũng trở nên hơn nữa bởi vì Thượng đế trở nên hơn nữa qua tự nhận biết của mỗi đấng Sáng tạo và những người đồng-sáng tạo của ngài.

Khi đấng Sáng tạo của con bắt đầu công việc sáng tạo đưa tới sự hiện hữu của con và sự hiện hữu của vũ trụ vật chất nơi con sống, Thượng đế bắt đầu tạo ra một bầu cõi được đặt tách ra khỏi khoảng trống không. Trong bầu cõi này có một lượng Ánh sáng của Thượng đế. Ánh sáng này được đặt tách riêng khỏi khoảng trống không và nó là căn bản từ đó tạo ra hình tướng. Đấng Sáng tạo của con quả thực sinh tạo một số hình tướng trong bầu cõi ánh sáng này, nhưng đấng Sáng tạo không lấp đầy bầu cõi này hoàn toàn với ánh sáng. Đấng Sáng tạo của con sinh tạo những nối dài của chính ngài như là những sinh thể tự nhận biết và gửi họ xuống bầu cõi thứ nhất với mệnh lệnh nhân lên và cai quản. Nhân lên khả năng sáng tạo của con, nhân lên ánh sáng của con, nhân lên tự nhận biết của con và sau đó cai quản bầu cõi nơi con sống. Lấp đầy bầu cõi này với ánh sáng cho tới khi nó thật sự trở thành vương quốc ánh sáng, vương quốc của Thượng đế. Khi ta nói một bầu cõi là vương quốc Thượng đế thì nghĩa là gì? Có nghĩa là mọi thứ đều tỏa chiếu ánh sáng và con có thể thấy Ánh sáng Mẹ thuần khiết đằng sau mọi biểu hiện. Con thấy Thượng đế Sáng tạo là nguyên nhân đầu tiên đằng sau mọi hình dạng và do đó con không bao giờ đánh mất nhận biết về Thượng đế.

Khi bầu cõi đầu tiên được lấp đầy với ánh sáng tới một cường độ tới hạn, thì động lực muốn trở nên hơn nữa của Thượng đế đòi hỏi một bầu cõi khác được tạo ra. Bầu cõi thứ nhì này bao gồm một phần lớn hơn của khoảng trống không, nhưng giống như bầu cõi đầu tiên nó không được hoàn toàn lấp đầy bởi ánh sáng. Một số sinh thể có tự nhận biết được gửi từ bầu cõi thứ nhất xuống bầu cõi thứ nhì với mệnh lệnh nhân lên và cai quản. Một số sinh thể được gửi xuống bầu cõi thứ nhì quả thật được sinh tạo trực tiếp như những nối dài của đấng Sáng tạo, nhưng hầu hết được sinh tạo như những nối dài của những sinh thể tự nhận biết đã từng phục vụ như những sinh thể đồng-sáng tạo ở bầu cõi thứ nhất và đã lấp đầy bầu cõi này với ánh sáng. Như vậy những sinh thể mới là nối dài của những sinh thể ở bầu cõi thứ nhất và những sinh thể ở bầu cõi thứ nhất là nối dài của đấng Sáng tạo.

Tiến trình cơ bản sáng tạo này đã tiếp diễn qua nhiều bầu cõi, nhiều chu kỳ. Thế giới nơi con đang sống, vũ trụ vật chất, là nối dài mới nhất của tiến trình sáng tạo. Quả thật nó là nối dài của toàn bộ tiến trình trong đó Thượng đế sáng tạo một bầu cõi mới, chiếm một phần lớn hơn của khoảng trống không và do đó tách phần đó ra khỏi bóng tối bằng cách lấp nó đầy với một lượng ánh sáng. Vũ trụ vật chất nơi con sống không tách biệt khỏi Thượng đế và phần còn lại của tạo vật của Thượng đế như giác quan của con, khoa học và thậm chí nhiều tôn giáo nói với con. Vũ trụ vật chất không tách biệt khỏi Thượng đế hay cõi tâm linh bởi một rào cản không xuyên thủng được. Vũ trụ là một nối dài của cõi tâm linh, nó là một nối dài của Thượng đế. Dù thày đã cho con một hình ảnh đường thẳng, thực tại của Thượng đế không hoàn toàn đường thẳng như vậy. Trong căn phòng nơi con đang ngồi có nhiều sóng radio khác nhau thâm nhập không khí. Các sóng này có tần số khác nhau và đó là lý do tại sao chúng có thể cùng hiện hữu trong cùng một không gian mà không hủy bỏ lẫn nhau. Các bầu cõi do Thượng đế sáng tạo cũng vậy. chúng cùng hiện hữu trong cùng không gian hoàn vũ, trong cùng khoảng trống không, chúng đơn giản có tần số khác nhau.

Ngay lúc này, thày không đang ngồi trên thiên đàng xa xôi từ trên cao nói xuống dưới tới con. Quả thật thày ngay ở đây với con. Khi thày truyền đọc những lời nói này qua một người sứ giả, thày hòa nhập Bản thể của thày với tâm thức người sứ giả, thậm chí với luôn cả thân thể của ông. Vì thày đã thăng vượt vũ trụ vật chất, thăng vượt thời gian và không gian, thày không bị giới hạn trong không gian hay thời gian. Nếu con sẵn lòng, thày có thể bảo đảm với con là khi con đọc những giòng chữ này, sự chú ý của con tạo ra chiếc cầu đi vào tim thày. Nếu con sẵn sàng để thày đi vào bản thể con, thày có thể bước qua cầu và hòa nhập Bản thể thày với chính bản thể con. Thày có thể nắm bàn tay con và chỉ cho con thực tại sâu xa đằng sau các câu nói của thày, thực tại không thể diễn tả bằng từ ngữ bởi vì từ ngữ quá đường thẳng.

Con không tách biệt khỏi đấng Sáng tạo của con. Ngay khi con đang ngồi đây đọc khóa học này, đấng Sáng tạo ở ngay đây với con. Đấng Sáng tạo có mặt khắp nơi trong tạo vật của ngài và do đó con không bao giờ có thể tách biệt khỏi đấng Sáng tạo của con. Con chỉ có thể tách biệt khỏi đấng Sáng tạo trong chính tâm con vì tâm tạo ra cảm nhận tách biệt. Cảm nhận tách biệt này chỉ là một ảo tưởng, một ảo giác được phóng chiếu lên màn ảnh cuộc sống bởi một thành phần của tâm thức con, một thành phần mà thày sẽ phơi bày trong phần sau của bài này.

9.3. Con ở đây để đồng-sáng tạo với Thượng đế

Bây giờ con để thày trở về hình ảnh mà thày đang vẽ ra về tiến trình sáng tạo. Mục đích của thày khi nói với con là con không tách biệt khỏi đấng Sáng tạo của con, không tách biệt khỏi các anh chị đã đi trước con và đã thăng thiên lên thiên đàng, là để con nhận ra khi Thượng đế sinh tạo những sinh thể tự nhận biết đầu tiên, những sinh thể này được sinh tạo từ tâm thức và Bản thể của Thượng đế. Các sinh thể đầu tiên mà chúng ta có thể gọi là Alpha và Omega (Revelation 1:8), cái bắt đầu và cái chấm dứt, sau đó sinh tạo những sinh thể khác, những sinh thể khác lại sinh tạo những sinh thể khác, và tiếp tục như thế trong nhiều lớp sáng tạo, nhiều bầu cõi sáng tạo tương hài hoà với nhau.

Mỗi sinh thể được tạo ra, đã được sinh tạo từ Sinh thể lớn hơn của cha mẹ họ, và các cha mẹ này được sinh tạo từ Sinh thể lớn hơn của cha mẹ họ. Nếu con cứ đi ngược về thuở ban đầu, con thấy tất cả mọi sinh thể có tự nhận biết đều được sinh tạo từ Bản thể của chính đấng Sáng tạo. Con không phải là một sinh thể tách rời xuất hiện bất thình lình từ hư không. Sự thực con là nối dài, một cá thể hóa của một Sinh thể lớn hơn đang hiện hữu ngay bây giờ trên cõi tâm linh. Sinh thể lớn hơn này là một phần trong một đẳng cấp các sinh thể tâm linh tạo thành cái mà chúng ta có thể gọi là “Chuỗi Sinh thể” đi ngược về tới chính đấng Sáng tạo.

Con quả thực là một phần của Chuỗi Sinh thể này, con là một nối dài của đấng Sáng tạo, một cá thể hóa của đấng Sáng tạo qua đó Thượng đế có thể đi vào bầu cõi này của tạo vật của ngài. Thượng đế có thể hoàn tất việc làm sáng tạo của ngài từ bên trong chính tạo vật và cùng lúc ngài trải nghiệm bầu cõi này từ bên trong. Thày biết con có thể cần một thời gian để hoàn toàn chấp nhận và hiểu điều này, nhưng nếu con mời thày vào trong tim con, thày sẽ giúp con chấp nhận nguồn gốc thật và bản sắc thật của con dễ dàng hơn. Khi con chấp nhận bản sắc này, tầm nhìn của con về cuộc đời sẽ xoay chuyển lớn lao. Con sẽ nhận ra cuộc sống không vô nghĩa, cuộc sống không trống rỗng. Quả thực cuộc sống có một mục đích lớn hơn và con là thành phần của một kế hoạch vĩ đại nhằm xây dựng vương quốc Thượng đế ngay đây trên trái đất, qua đó sẽ biến hành tinh này thành một thế giới đẹp đến độ nó sẽ hoàn thành những giấc mơ sâu thẳm nhất, những khát khao sâu thẳm nhất của con. Có thể con đã quên những khát khao này, nhưng thày không nghĩ con quên sự kiện là khi con thấy những giới hạn, đau đớn và thống khổ trên trái đất, cái gì đó bên trong con kêu lên và nói: “Điều này không đúng, mọi chuyện đáng lẽ không được như thế này.” Điều này cho con thấy sâu trong con có ký ức là cuộc sống này hơn nữa và có một lý do cho sự hiện hữu của con, có một lý do cho sự có mặt của con trên trái đất.

Điều này quan trọng vì giờ đây con thấy cuộc đời đáng sống, cuộc đời có một mục đích lớn hơn và con cũng thấy có một mục đích lớn hơn của việc tạo sự dồi dào. Con không ở đây chỉ để đơn giản hoàn thành những mong muốn tạm thời, nhân phàm và xác thịt tập trung vào thân vật lý của con và ý niệm bản sắc dựa trên thân thể. Con hơn thân vật lý, con hơn ý niệm bản sắc thấp này. Con có một ý niệm bản sắc lớn hơn, một thành phần lớn hơn của bản thể con, và con ở đây để biểu hiện trọn vẹn bản sắc lớn hơn này, cá thể thiêng liêng này. Con ở đây để phục vụ như một người đồng-sáng tạo với Thượng đế, để đem vào thế giới này ánh sáng của Thượng đế, sự toàn hảo của Thượng đế, sự hài hòa của Thượng đế và các đức tính của Thượng đế. Con ở đây để là ánh sáng của thế gian (Matthew 5:14) và biến thế gian này thành vương quốc ánh sáng, ánh sáng tiêu hủy bóng tối đang che phủ mặt đất và tạo ra đủ loại thống khổ, đau đớn và thiếu thốn mà con đơn giản biết không thể là thiết kế của Thượng đế hay là ý muốn của Thượng đế.

9.4. Con mở rộng nối kết với Hiện diện TA LÀ

Bây giờ chúng ta hãy xem xét cụ thể hơn tại sao con đang ở trên trái đất. Khi Thượng đế sinh tạo một bầu cõi mới, Thượng đế rải vào đó một lượng ánh sáng. Thượng đế hay đúng hơn các đại diện của Thượng đế quả thực có sinh tạo một số hình tướng. Hành tinh trái đất được sinh tạo bởi bảy đại diện của Thượng đế đã tạo ra hành tinh này như một môi trường có khả năng nuôi dưỡng sự sống trong trạng thái dồi dào và quân bình. Thiết kế của Thượng đế không bao giờ nhằm giữ trái đất trong trạng thái này. Động lực đằng sau mọi sự sáng tạo là động lực trở nên hơn nữa, và Thượng đế gửi xuống thế giới này một số sinh thể tự nhận biết với mệnh lệnh nhân lên và cai quản. Nhân lên và cai quản nghĩa là gì? Nghĩa rốt ráo là nhân lên sự tự nhận biết của con để con nhận biết là mình có khả năng phục vụ như người đồng-sáng tạo với Thượng đế.

Con ý thức là tâm thức của con, tâm của con, có khả năng là cánh cửa mở để đem xuống trái đất thêm ánh sáng của Thượng đế, thêm ánh sáng tâm linh có tần số cao, đi vào các rung động thấp của vũ trụ vật chất. Khi ánh sáng được đem vào thế giới, nó tiêu hủy bóng tối và do đó thế giới này sáng hơn và rực rỡ hơn và bắt đầu biểu hiện tất cả sự toàn hảo mà ta tìm thấy trong cõi tâm linh. Khi các người đồng-sáng tạo nhân lên khả năng sáng tạo của họ, họ giỏi hơn trong việc điều khiển ánh sáng Thượng đế đi xuyên qua tâm họ, qua đó họ dùng tâm của họ để áp đặt một hình ảnh toàn hảo, quân bình và hài hòa lên ánh sáng. Chính tiến trình áp đặt một hình tư tưởng lên Ánh sáng Mẫu-vật đã tạo nên hình tướng.

Như một người đồng-sáng tạo, con có hai mục đích. Mục đích đầu của con là mở rộng sự nối kết với Hiện diện TA LÀ của con đang cư ngụ vĩnh viễn trên cõi cao hơn. Khi con mở rộng nối kết này, nhiều ánh sáng hơn có thể chảy vào tâm thức của con. Con đem lại nhiều ánh sáng hơn cho thế giới, gia tăng tổng lượng ánh sáng có thể dùng vào việc sáng tạo hình tướng. Điều này gia tăng tiềm năng biểu hiện sự dồi dào của Thượng đế trên trái đất.

Chìa khóa thực để gia tăng lượng dồi dào trên trái đất là gia tăng lượng ánh sáng có trong cõi này. Khi con đã kéo ánh sáng của Thượng đế xuống từ Hiện diện TA LÀ của con, qua sự tự nhận biết tập trung trong cõi này, con có thể điều khiển ánh sáng đó và dùng nó để sáng tạo những hình tướng biểu hiện nhiều hơn sự dồi dào của Thượng đế. Sự dồi dào được thể hiện như một thực tại vật lý mà ngay cả giác quan vật lý thô thiển của thân thể cũng có thể thấy được. Điều thày vừa nói với con là chìa khóa cốt yếu của dồi dào. Nó thực là viên đá đặt nền chính mà người xây cất đã bác bỏ (Matthew 21:42), mà hầu hết không chú ý tới. Hầu hết các vị thày tuyên bố họ có thể giúp con người gia tăng sự dồi dào thế gian cũng đã không chú ý tới nó. Tại sao điều mà thày vừa nói với con quan trọng đến thế? Hãy cho phép thày bỏ ra một chút thời giờ để giải thích vì chỉ riêng điểm này có thể đem lại thành công hay thất bại cho nỗ lực muốn đạt cuộc sống dồi dào của con. Nếu con không hiểu điểm mà thày đang truyền tải, con sẽ không bao giờ đạt được dồi dào tâm linh thật sự. Con có thể hay không thể đạt được dồi dào vật chất nhưng dồi dào vật chất này sẽ không bao giờ thỏa mãn khao khát nội tâm của bản thể con.

Điểm quan trọng nhất về sự dồi dào là mọi vật trong thế giới vật chất này, mọi vật trên hành tinh trái đất này đều được tạo ra từ ánh sáng Thượng đế. Chúng được tạo ra từ ánh sáng tâm linh mà tần số được hạ xuống cho tới khi ánh sáng rung động trong quang phổ tần số tạo nên vũ trụ vật chất. Sau khi tần số được hạ thấp thì ánh sáng có thể dùng vào việc sáng tạo hình tướng trong vũ trụ này. Con là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế và tự nhận biết của con tập trung trong quang phổ tần số này. Khi con đồng-sáng tạo, con dùng tâm mình để áp đặt một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-vật. Trước khi con có thể làm chuyện này, cần có một lượng ánh sáng đã được hạ xuống cõi này để nó rung động trong quang phổ tần số vật chất.

Tâm con có hai khả năng khi làm việc với ánh sáng Thượng đế. Tâm con có khả năng hạ thấp độ rung của ánh sáng tâm linh xuống quang phổ tần số vật chất. Một khi ánh sáng đã được hạ thấp độ rung, tâm con có thể áp đặt một hình ảnh lên ánh sáng để tạo ra một hình tướng. Dù rằng hai khả năng này được thiết kế để làm việc chung với nhau, con có thể tách chúng trong tâm con. Ví dụ là nhiều người đã quên khả năng đem ánh sáng tâm linh xuống thế giới này nhưng vẫn dùng tâm họ để áp đặt hình tư tưởng lên ánh sáng dùng được trong quang phổ tần số vật chất. Trước khi một hình tướng có thể được sáng tạo, một sinh thể tự nhận biết phải với lên cõi tâm linh, nối kết với cái ta tâm linh của y và trở thành cánh cửa mở đem ánh sáng tâm linh đi vào quang phổ tần số của vũ trụ vật chất. Khi hành tinh trái đất được tạo ra, một lượng ánh sáng được đem vào quang phổ tần số vật chất bởi các Elohim. Sau khi các người đồng-sáng tạo bắt đầu hiện thân trên hành tinh này, các Sinh thể tâm linh không đem thêm ánh sáng vào nữa. Bây giờ việc đem thêm ánh sáng vào quang phổ vật chất tùy thuộc vào những cư dân trái đất. Tổng lượng dồi dào có thể tạo ra được trên trái đất tùy thuộc trực tiếp vào tổng lượng ánh sáng dùng được trong năng trường của hành tinh này. Hầu hết con người đã quên mất khả năng đem ánh sáng vào thế giới này và họ đã tạo ra những hình tướng mất quân bình với ánh sáng dùng được. Lực co lại của Mẹ quả thực đã giảm thiểu lượng ánh sáng thấp hơn mức ánh sáng dùng được khi hành tinh được tạo ra. Hiện nay trên trái đất, lượng ánh sáng ít hơn so với lúc các Elohim sáng tạo hành tinh này.

9.5. Con người có khả năng tạo sự dồi dào

Thày xin con cố gắng đi vào trong tim mình và cho phép thày cho con sự hiểu biết không thể diễn đạt bằng lời nhưng có thể được kích hoạt bởi những lời mà thày gửi tới con. Con được nuôi dạy với lập trình tin rằng chỉ có một số lượng dồi dào nào đó trên thế gian. Con bị lập trình tin rằng con sống trong một thế giới quy định bởi thiếu thốn và giới hạn. Ví dụ, con được bảo là hành tinh trái đất chỉ có một lượng tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và như vậy chuyện có thể xảy ra là nhân loại tiêu dùng hết các tài nguyên này và sẽ không còn gì nữa. Nhiều nguồn thông tin  thực sự đã tìm cách khiến con tin là kịch bản này không thể tránh được và do đó con phải chấp nhận một số giới hạn trong cuộc sống của con và thậm chí cho tổng thể nhân loại. Khái niệm này không đúng một cách vô điều kiện mà cũng không hoàn toàn sai. Thày biết chắc con được bảo là hành tinh này chỉ có một lượng dầu hỏa nhất định. Khi nhân loại dùng hết dầu hỏa thì sẽ không còn gì nữa và con sẽ không thể chạy xe hơi hay đi máy bay. Một số đã cố gắng tạo ra hình ảnh một ngày tận thế gần kề khi nhân loại đã tiêu dùng hết tài nguyên trên hành tinh và toàn thể hành tinh trở nên một bãi sa mạc khô cằn không có khả năng nuôi dưỡng sự sống. Con yêu dấu, kịch bản tận thế này quả thực có thể xảy ra nhưng nó không phải là điều sẽ chắc chắn xảy ra như một số người quan niệm.

Con biết rõ con người vẫn khám phá những mỏ dầu mới. Con cũng biết là có một thời không có dầu hỏa trên hành tinh này. Dầu hỏa được tạo ra vì chất hữu cơ chết đi và qua chuyển động của trái đất nó bị lấp vùi và bị sức ép biến thành dầu. Kim cương được tạo ra khi chất than bình thường bị sức ép khổng lồ của vỏ trái đất. Vì hành tinh này có một lượng than rất lớn thì quả thực có khả năng là một lượng kim cương khổng lồ có thể được tạo ra. Thày biết một số người sẽ nói cần hàng triệu năm để tạo ra dầu và do đó nhân loại sẽ hết dầu trước khi các tiến trình tự nhiên có thể thay thế nguồn cung cấp dầu hiện nay. Điều này chắc hẳn đúng nhưng thày nhắc nhở con là dầu đã có mặt cả ngàn năm qua và thậm chí đã có người biết tới nó. Nhưng 500 năm trước đây người ta xem dầu hỏa là một tài nguyên thiên nhiên không quan trọng bởi vì lúc đó nhân loại chưa có hiểu biết dùng dầu như thế nào. Con người chưa sáng chế động cơ đốt hay bất cứ các thiết bị cơ khí khác dùng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất hàng hóa hay cho phép con người du lịch. Quan điểm hành tinh chỉ có một lượng tài nguyên giới hạn hay một lượng dồi dào giới hạn giản dị không đúng. Chỉ vài thế kỷ trước đây, dầu hỏa là một chất được coi như vô giá trị và nó chỉ trở nên có giá trị khi con người gia tăng kiến thức, nhận biết, hiểu biết và do đó thiết lập được công nghệ dùng dầu hỏa và biến nó từ một chất vô giá trị thành một tài nguyên có giá trị.

Kiến thức và hiểu biết này từ đâu tới? Con có thật sự tin là nó tới từ hư không? Hay con có thể mở tâm ra với ý tưởng là đã có một số người với lên cao hơn vũ trụ vật chất, thiết lập nối kết với cái ta tâm linh của họ và qua nối kết này họ đã có thể đem xuống những ý tưởng và hiểu biết đưa tới những phát minh mới và công nghệ mới? Chắc chắn là có một số tài nguyên trên hành tinh chỉ có số lượng giới hạn. Chắc chắn là con người có thể hết dầu hỏa và do đó mất khả năng dùng công nghệ dựa trên việc đốt dầu. Trước khi dầu hỏa trở thành một tài nguyên, nhân loại có những công nghệ thô thiển hơn dùng tài nguyên khác như gỗ và than được biến thành hơi nước. Con biết rõ là đã có công nghệ phân tách nguyên tử và chuyển đổi uranium thành nguồn tài nguyên mạnh hơn dầu. Dù thày không coi năng lượng hạt nhân là một công nghệ không có vấn đề, rất có thể có những chất liệu trên trái đất mà ngày nay xem là vô giá trị nhưng với kiến thức và hiểu biết đúng, chúng có thể trở thành nền tảng cho những công nghệ mới mạnh hơn rất nhiều công nghệ dựa trên nhiên liệu hóa thạch.

Điều rất có thể xảy ra là nhân loại có thể gia tăng lượng dồi dào hiện có trên trái đất. Qua sự nhân lên khả năng sáng tạo, qua việc nhân lên hiểu biết về các quy luật của Thượng đế, các quy luật mà Thượng đế đã dùng để thiết kế vũ trụ này, con người có thể thăng vượt mức nhận biết hiện nay của họ và thật sự trở nên những người đồng-sáng tạo với Thượng đế có thể tạo ra sự dồi dào từ cái mà ngày nay có vẻ là vô giá trị. Con xét xem trước kia cát là chất vô giá trị nay biến thành silicon và trở thành nền tảng của toàn bộ kỹ nghệ máy tính đã đem lại dồi dào khổng lồ trong nhiều khía cạnh cuộc sống. Con xét xem con người đang nghiên cứu cách dùng hydrogen, một chất có nhiều nhất trong vũ trụ, để dùng làm nhiên liệu cho công nghệ. Thày khuyến khích con xem xét những ý tưởng này và nhận ra kịch bản được các nhà tiên tri tận thế cổ xúy là hành tinh này sẽ trở thành một bãi sa mạc khô cằn chỉ có thể xảy ra nếu nhân loại ngưng mọi cố gắng tăng triển khả năng sáng tạo của mình. Nếu con người ngừng nhân lên khả năng của họ, uy lực sáng tạo của họ, thì quả thực xã hội con người sẽ rốt cuộc tiêu thụ hết tài nguyên hiện dùng được theo hiểu biết hiện nay của con người về các quy luật thiên nhiên. Lúc đó hành tinh này sẽ một ngày kia trở thành một bãi sa mạc không có khả năng nuôi dưỡng sự sống. Chuyện này chỉ xảy ra nếu con người chọn khóa lại khả năng sáng tạo của mình, nếu họ từ chối không nhân lên khả năng của họ và thay vào đó chôn chúng xuống dưới đất – như là một biểu tượng cho mức tâm thức hiện tại của họ.

9.6. Đem ánh sáng tâm linh vào quang phổ tần số vật chất

Mọi thứ con thấy chung quanh con, thậm chí vật chất vật lý có vẻ chẳng dính dáng gì tới thế giới tâm linh, đều làm ra từ ánh sáng tâm linh. Ngay cả các nhà khoa học của con cũng nhìn nhận vật chất rắn đặc được làm bằng năng lượng rung động. Năng lượng rung động này giản dị là ánh sáng Thượng đế, ánh sáng tâm linh đã bị hạ độ rung. Lượng tài nguyên và dồi dào thấy được trong hành tinh trái đất hiện nay không được quy định một cách độc đoán mà nó cũng không phải là một lượng cố định được quy định khi trái đất được tạo ra. Lượng tài nguyên và dồi dào trên trái đất có tỷ lệ thuận với lượng ánh sáng tâm linh đã được các sinh thể tự nhận biết đem vào quang phổ tần số vật chất trên hành tinh trái đất. Vật chất không đến từ hư không. Nó là sản phẩm của Ánh sáng Mẹ được hạ độ rung cho tới khi nó đạt tới quang phổ tần số của vật chất. Ngược lại với những gì con được dạy và tin, lượng vật chất không cố định. Các đồng-sáng tạo của Thượng đế có thể thật sự đem thêm ánh sáng vào quang phổ tần số vật chất và tăng trưởng lượng tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh này.

Dồi dào không phải là một lượng cố định. Con người hoàn toàn có khả năng đem lại nhiều dồi dào hơn bằng cách sử dụng hữu hiệu hơn các tài nguyên thiên nhiên hiện đang có trên hành tinh này. Con người còn có thể đem nhiều ánh sáng tâm linh hơn vào cõi vật chất và do đó tăng trưởng lượng tài nguyên và dồi dào trên trái đất. Điều này mở ra những tầm nhìn hoàn toàn mới cho khả năng đạt tới đời sống dồi dào. Con có, ngay trong con, ngay trong tâm thức con, khả năng với lên cõi tâm linh, để kết nối với Hiện diện TA LÀ của con, và đem ánh sáng tâm linh vào thế giới vật chất. Khi con làm thế, con sẽ gia tăng lượng dồi dào biểu hiện trong cuộc sống của con và con làm vậy mà không lấy dồi dào từ một thành phần nào khác của cuộc sống.

Con hãy bỏ thì giờ bước lùi lại và thực sự xem xét những gì thày đang nói. Điều thày đang nói ở đây là con có thể theo ba phương cách khác nhau để đạt được nhiều dồi dào hơn trong cuộc sống:

  • Phương cách thấp nhất và thô sơ nhất là suy luận rằng chỉ có một lượng cố định dồi dào có thể dùng được trong thế gian này. Bởi vì tất cả mọi người không giàu có, hiển nhiên là lượng dồi dào trên trái đất không đủ cho mọi người. Nếu con muốn giàu, con phải lấy dồi dào từ người khác cho nên họ phải nghèo đi. Suốt dòng lịch sử mà con người biết được, một thành phần thượng lưu quyền lực nhỏ đã tin cái nhìn về lượng dồi dào cố định này. Họ đã dùng phương tiện hung hãn để đưa họ lên vị thế thượng lưu quyền lực nắm độc quyền của cải và kiểm soát tài nguyên. Họ làm điều này bằng cách biến đa số dân chúng thành tôi mọi cho họ, phục vụ họ như những con ong thợ vắt sữa các tài nguyên khan hiếm của hành tinh và tập trung các tài nguyên này cho giới thượng lưu quyền lực sử dụng. Đây là một phương cách đạt dồi dào cực kỳ thô thiển. Đây là một phương cách hoàn toàn dựa vào sức mạnh, dựa vào nhu cầu đấu tranh với người khác để giành một nguồn cung cấp dồi dào cố định và không đủ. Đây là một phương cách dựa trên triết lý thiếu thốn, triết lý đưa tới nhu cầu chiếm đoạt dồi dào bằng sức mạnh và qua đó không thể tránh việc tước đoạt dồi dào của người khác để tập trung của cải trong tay một thiểu số được chọn lựa. Phương cách này cần sử dụng sức mạnh liên tục vì giới thượng lưu không thể nào gìn giữ của cải của họ mà không liên tục bảo vệ của cải này, không những chống lại người khác mà thậm chí cũng chống lại những lực thiên nhiên tìm cách lấy đi những gì họ sở hữu. Phương cách đạt dồi dào này là một trận chiến leo dốc núi, một sự vật lộn không ngừng.
  • Một phương cách đạt dồi dào cao hơn nhiều là suy luận chúng ta có thể tạo ra nhiều dồi dào hơn bằng cách gia tăng hiểu biết của chúng ta về quy luật thiên nhiên. Qua sáng kiến và công nghệ mới, con có thể tạo ra giàu có bằng cách biến những chất vô giá trị thành tài nguyên có giá trị, hay bằng cách chuyển kiến thức thành công nghệ hữu dụng. Đây là một phương cách đạt dồi dào cao hơn rất nhiều, tuy thế nó vẫn chưa giải quyết vấn đề là hiện nay chỉ có một số năng lượng nào đó mà con người có thể dùng được trên trái đất. Điều này mang một yếu tố hạn chế và hiện nay con có thể thấy được điều này trong xã hội. Nhiều người biết ngày dùng nhiên liệu hóa thạch để chạy công nghệ của nhân loại sắp tận. Họ biết đã có những trận chiến xảy ra vì dầu hỏa và có thể có nhiều thêm những trận chiến khốc liệt khác để tranh giành dầu hỏa hay tài nguyên khác. Dù nhiều người nhìn ra nhu cầu  đem lại công nghệ mới, công nghệ đó chưa xuất hiện. Điều này cho con thấy là phương cách tạo dồi dào bằng cách dùng những tài nguyên sẵn có mang một số giới hạn. Giới hạn là vì chìa khóa thật để đem lại nhiều dồi dào hơn là đem thêm năng lượng tâm linh vào quang phổ tần số vật chất. Như các nhà khoa học nói: “Mọi thứ đều là năng lượng.” Tổng lượng dồi dào dùng được trên hành tinh trái đất có tỷ lệ thuận với tổng lượng năng lượng có mặt trong hệ thống năng lượng của hành tinh này. Cách duy nhất để thực sự gia tăng dồi dào là gia tăng lượng năng lượng dùng được trên trái đất.
  • Phương cách đạt dồi dào thứ ba là kết hợp phương cách thứ nhì là tìm thêm hiểu biết với phương cách tâm linh chủ trương với lên cõi cao hơn để đem thêm năng lượng vào quang phổ tần số vật chất. Mục đích khóa học này là dạy con cách dùng phương cách đạt dồi dào này.

9.7. Chọn giữa tâm thức chết hay tâm thức của sự sống

Con đang đứng ở lằn ranh phân chia, lằn ranh phân chia phương cách đạt dồi dào nhân phàm, sinh diệt, dựa trên sức mạnh và phương cách đạt dồi dào tâm linh, bất tử, dựa trên tình thương. Con phải lấy một chọn lựa và chọn lựa này là chọn giữa tâm thức thiếu thốn hay tâm thức thực sự dồi dào. Nó là chọn lựa giữa tâm thức chết hay tâm thức của sự sống. Vũ trụ vật chất được sáng tạo từ ánh sáng Thượng đế. Nó được tạo ra bằng cách biến một phần của khoảng trống không thành một bầu cõi riêng biệt và lấp đầy bầu cõi đó với một lượng ánh sáng rung động trong một quang phổ tần số nào đó. Ánh sáng nguyên thủy không đủ để đuổi bóng tối đi, cho nên bóng tối còn lại trong thế giới vật chất là nguyên nhân của thiếu thốn và đau khổ mà con thấy trên trái đất. Con không thể loại bỏ bóng tối trong căn phòng vì bóng tối tự thân không có chất liệu gì trong nó. Con không thể bỏ bóng tối vô hộp hay vứt nó ra ngoài cửa sổ. Con có thể loại bỏ bóng tối bằng cách thay thế nó với cái gì có chất liệu, như ánh sáng. Cách loại bỏ bóng tối là bật đèn sáng và cách loại bỏ thiếu thốn và đau khổ trên trái đất là đem nhiều ánh sáng tâm linh hơn vào thế giới này. Đây là một phần của tiến trình tuôn chảy miên viễn của sáng tạo của Thượng đế, Dòng sông sự Sống đời đời tuôn chảy. Thượng đế khuếch trương sáng tạo của ngài và gửi xuống những người đồng-sáng tạo có tự nhận biết để họ đem lại nhiều ánh sáng hơn vào thế giới và để cho thế giới và cư dân trong đó có thể hơn nữa qua tự thăng vượt.

Thiết kế thật của Thượng đế là dồi dào là kết quả của việc đem ánh sáng từ cõi cao vào thế giới nơi con đang sống. Con có khả năng làm việc này vì con đã được thiết kế theo hình ảnh Thượng đế và giống như Thượng đế của con; con được thiết kế với trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Tâm con có thể là cánh cửa mở cho ánh sáng của Thượng đế tuôn chảy vào thế giới này. Bằng cách gia tăng lượng ánh sáng tâm linh tuôn chảy qua tâm thức của con, con chắc chắn sẽ gia tăng lượng dồi dào có mặt trong thế giới vật chất. Cơ chế an toàn của Thượng đế là con chỉ có thể mang ánh sáng từ cõi cao xuống khi con đạt được một mức nào đó của tâm thức Ki-tô.

Đây là chọn lựa con phải lấy. Con có thể theo phương cách thứ nhất và tìm cách tích lũy dồi dào bằng cách lấy từ nguồn cung cấp cố định hiện có trên trái đất. Điều này khiến con lấy dồi dào từ những thành phần khác của đời sống, qua đó con tước đoạt dồi dào của họ. Điều này cũng khiến con phải liên tục bảo vệ dồi dào mà con tích lũy và tiến trình lấy và bảo vệ sẽ tiếp tục suốt cuộc đời còn lại của con. Nếu con còn nghi ngờ những gì thày nói, con hãy nhìn cuộc sống của những người giàu nhất trên hành tinh này. Họ đã tích lũy của cải bằng cách lấy bằng sức mạnh và nhiều người trong số họ dành phần còn lại của cuộc đời để bảo vệ của cải của họ. Họ không bao giờ thấy đủ, họ không bao giờ cảm thấy hạnh phúc. Họ không bao giờ thật sự có cuộc sống dồi dào, họ chỉ có vật chất dồi dào. Họ không có khả năng biến dồi dào vật chất thành dồi dào tâm linh thật sự, hạnh phúc thật sự và tâm an bình thật sự.

Nếu đây là điều con muốn thì con có khả năng làm chuyện này. Tâm con có khả năng áp đặt một hình ảnh lên ánh sáng của Thượng đế. Cách đích thật để tích lũy dồi dào là không chỉ giản dị lấy bằng vũ lực vật lý. Thực tế là tâm con lúc nào cũng đang đồng-sáng tạo, lúc nào tâm con cũng đang áp đặt hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Vấn đề là Ánh sáng Mẫu-Vật từ đâu tới – ánh sáng mà con dùng để hình thành các hình tư tưởng của con. Trong thiết kế nguyên thủy của Thượng đế, con đúng lý phải duy trì sự kết nối với Hiện diện TA LÀ để con có thể đem vào thế giới này năng lượng tâm linh, ánh sáng tâm linh. Lúc đó con áp đặt một hình ảnh lên ánh sáng đó và tạo tác một hình tướng vật lý sẽ trở nên sự dồi dào của con. Đây đúng là con có ông thần trong chiếc bình cho riêng mình, một ông thần có thể đáp ứng tất cả các ước mong của con mà không cần lấy từ người khác. 

Khi con đánh mất sự kết nối có ý thức với cái ta tâm linh của con, thì con không còn là cánh cửa mở để mang ánh sáng tâm linh vào thế giới này, con đã đánh mất hồng ân. Con không thể kéo xuống ánh sáng mới để tạo tác hình tướng. Điều này không có nghĩa là con không thể dùng khả năng của tâm để áp đặt hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Nó nghĩa là con phải làm chuyện này bằng cách lấy ánh sáng đã được đem vào trong quang phổ tần số vật chất.

Khi con giữ được sự nối kết nguyên thủy với Hiện diện TA LÀ của con, số lượng dồi dào mà con có thể biểu hiện trong cuộc sống của con vô tận. Thượng đế không có giới hạn. Thượng đế không có một lượng ánh sáng hữu hạn mà các sinh thể đồng-sáng tạo có thể dùng. Thượng đế có một nguồn cung cấp ánh sáng vô tận, giới hạn duy nhất là cách người đồng-sáng tạo nhân lên khả năng sáng tạo của họ.

Tâm con là một ống dẫn giữa tâm ý thức của con và Hiện diện TA LÀ của con. Kích thước của ống dẫn quy định lượng ánh sáng có thể chảy qua nó. Lúc ban đầu, con được gửi xuống thế giới này với một kích thước nào đó của ống dẫn tâm linh của con. Con được sinh ra để nhân lên khả năng của con và qua đó con mở rộng kích thước của ống dẫn, qua đó Thượng đế sẽ cho con nhiều năng lượng tâm linh hơn và điều này sẽ gia tăng uy lực sáng tạo của con. Hầu hết con người đã quên mất nguồn gốc tâm linh thực của họ, đã đánh mất kết nối ý thức của họ với cái ta tâm linh của họ. Điều này đã thu nhỏ kích thước ống dẫn tới điểm chỉ còn đủ ánh sáng tuôn chảy để giữ cho họ và thân thể họ sống còn. Họ không có đủ ánh sáng để thật sự biểu hiện sự dồi dào từ bên trong họ. Họ chỉ còn chọn lựa duy nhất là dùng ánh sáng đã được đem xuống quang phổ tần số vật chất và sau đó áp đặt hình ảnh lên ánh sáng qua uy lực của tâm của họ. Chỉ có một số lượng cố định năng lượng có mặt trong hành tinh trái đất, có nghĩa là để con có nhiều dồi dào hơn, con phải lấy năng lượng từ người khác.

Điều này mở ra một tầm nhìn hoàn toàn mới về kiếp sống con người. Thày sẽ cho con một hiểu biết mới về ý nghĩa cuộc sống trên trái đất và động lực đằng sau cuộc tranh giành quyền lực của con người. Con hãy cho phép thày chỉ cho con thấy trong chương kế tiếp là con người thực sự tranh giành điều gì khi bề ngoài trông như họ đang tranh giành của cải vật chất.

7 | Con đang sáng tạo sự hài hòa hay thiếu thốn?

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 7/4/2005.

Thượng đế đã thiết kế một vũ trụ có khả năng cung cấp sự dồi dào vô biên, ngay cả trên hành tinh nhỏ bé mà con gọi là trái đất này. Khi Thượng đế tạo ra trái dất, ngài chỉ giản dị tạo tác một nền móng. Sau đó ngài gửi con, và nhiều người đồng-sáng tạo khác, xuống thế giới này với mệnh lệnh nhân lên khả năng sáng tạo. Con ở đây để cai quản trái đất và xây dựng thêm trên nền móng của Thượng đế và đem lại cho thế giới này tất cả sự dồi dào mà con có thể tưởng tượng và chấp nhận. Khi con người sử dụng khả năng sáng tạo của mình thuận theo những nguyên lý cơ bản mà Thượng đế đã dùng để thiết kế vũ trụ, thì họ sáng tạo một sự dồi dào bền vững. Họ làm việc này mà không tước đi sự dồi dào từ các phần khác của sự sống mà trái lại khuếch đại toàn thể dồi dào trên trái đất. Toàn Thân thể của Thượng đế sẽ được phóng đại trong tiến trình này. Khi con người sử dụng đúng khả năng sáng tạo của mình thì không có xung đột giữa cá nhân và tổng thể vì vũ trụ của Thượng đế được thiết kế để cung cấp đủ dồi dào cho tất cả.

7.1. Nhiều điều kiện trên trái đất do con người tạo ra

Câu hỏi chủ yếu mà ta cần giải đáp là làm sao con, như một người sống trên hành tinh địa cầu, có thể học cách sử dụng khả năng sáng tạo của mình một cách hài hòa với những nguyên lý mà Thượng đế đã dùng để thiết kế toàn thể vũ trụ. Khó khăn mà chúng ta đối diện là hành tinh địa cầu hiện nay không biểu lộ thiết kế nguyên thủy của Thượng đế. Thay vì xây dựng một lâu đài trên nền móng mà Thượng đế đã tạo lập, nhân loại qua bao ngàn năm đã chôn vùi của cải của mình vào lòng đất. Lực co thắt của Mẹ đã bắt đầu phá vỡ ngay cả nền móng mà Thượng đế xây dựng. Thày biết đây là một ý niệm mà những người đã lớn lên trong xã hội hiện đại khó chấp nhận. Nhiều người đã được dạy dỗ để tin vào phiên bản câu chuyện thành lập hành tinh do Thánh kinh đề ra cho rằng trái đất chỉ có mặt từ vài ngàn năm nay, rằng mọi thứ đều do Thượng đế tạo ra, rằng Thượng đế chỉ có thể tạo ra sự toàn hảo, và do đó tất cả mọi chuyện phải toàn hảo. Một số người khác đã lớn lên với thuyết tiến hóa của khoa học cho rằng sự tiến hóa chỉ đi theo một hướng, và sự sống đi từ những hình tướng thô sơ đến những hình tướng phức tạp hơn.

Vì có Luật Tự quyết nên rất có thể một nền văn minh con người tiến lên một cao điểm và sau đó dần dần tiêu mòn xuống một trạng thái thấp hơn. Nhiều sắc thái của sự sống trên trái đất đã bị tâm thức nhân loại ảnh hưởng. Điều này không những chỉ áp dụng cho xã hội loài người mà còn áp dụng cho cả đến chính Mẹ Thiên nhiên. Con có thực sự tin rằng một Thượng đế đầy lòng thương yêu, có trí tưởng tượng và ý chí tự do vô biên, lại chọn lựa tạo tác các con vi rút, vi khuẩn, vật ký sinh, côn trùng độc hay hóa chất độc hại có thể tàn phá cơ thể của con? Con có thực sự tin rằng Thượng đế đã tạo ra các căn bệnh vô số trên trái đất? Nếu Thượng đế không tạo ra chúng, thì ai đã tạo ra? Câu trả lời là: chính là nhân loại. Nhân loại cộng chung đã tạo ra tất cả các điều kiện bất toàn mà con thấy trên trái đất, ngay cả các bất quân bình trong thiên nhiên.

Mọi chuyện đều được tạo ra từ năng lượng của Thượng đế là Ánh sáng Mẫu-Vật. Ánh sáng Mẫu-Vật chỉ mang vào một hình tướng khi nó được khuấy động bởi một tâm, một sinh thể có tự nhận biết có khả năng sáng tạo của Thượng đế, tức là có trí tưởng tượng và ý chí tự do. Khi con chấp nhận sự kiện này thì con nhận ra là tất cả mọi chuyện trên trái đất đều là sản phẩm của một tâm có ý thức. Thiết kế nguyên thủy của trái đất do một nhóm đại diện Thượng đế, gọi là các Elohim, tạo ra. Các sinh thể này tạo ra một hành tinh tuyệt đẹp, và vẻ đẹp mà con thấy hiện nay trong thiên nhiên chỉ là một phản ánh phai mờ của vẻ đẹp nguyên thủy mà các Elohim đã tạo ra. Hành tinh mà họ tạo ra trong bản chất có cân bằng toàn hảo, do đó con không tìm thấy bệnh tật, động đất hay bão táp. Từ thuở sáng tạo nguyên thủy đó, các thế hệ con người, các nền văn minh nối tiếp nhau đã ảnh hưởng hành tinh này và kéo nó xuống một trạng thái thấp hơn thiết kế nguyên thủy. Chuyện này đã được thực hiện do quyền năng của tâm con người, qua đó họ đã áp chồng lên Ánh sáng Mẫu-Vật những hình ảnh bất toàn không thẳng hàng với những nguyên lý sáng tạo mà Thượng đế sử dụng.

Con người đã đi xuống, hay sa ngã vào một trạng thái tâm thức trong đó họ không còn nhận biết trực giác hay có ý thức về các quy luật của Thượng đế, những quy luật mà Thượng đế đã đặt vào trong những phần thâm sâu của họ. Điều này được minh họa bởi câu chuyện trong Thánh kinh mô tả sự Sa ngã , kể rằng Adam và Eve bị đuổi ra khỏi Vườn Địa đàng. Trái cây hiểu biết thiện ác là trái cây hiểu biết thiện ác tương đối. Khi con mất liên lạc với thực tại của Thượng đế, các quy luật của Thượng đế, thì chính con trở nên luật pháp theo nghĩa con không còn thanh gậy dẫn đường chỉ cho con thật giả tuyệt đối.

7.2. Con không được dồi dào vì mất liên lạc với nguyên lý sáng tạo của Thượng đế

Tất cả những gì hài hòa với quy luật của Thượng đế đều lợi lạc cho tổng thể và bền vững, và ta có thể gọi chúng là thiện hay tốt lành. Những gì đứng bên ngoài những quy luật này đều có mầm tự hủy diệt và làm hại cho tổng thể, và do đó ta có thể gọi chúng là giả hay ác. Khi con người đánh mất thanh gậy hướng dẫn tuyệt đối đó, thì họ quy định khái niệm thiện ác của riêng họ. Những khái niệm này không dựa trên thanh gậy hướng dẫn của quy luật Thượng đế. Chúng dựa trên những gì con người muốn tin và những gì một số người muốn là sự thật vì chúng giúp họ thỏa mãn những ham muốn vị kỷ của họ mà không đếm xỉa đến tổng thể. Vì con người đã quy định thiện ác để đáp ứng mục đích của họ nên họ cảm thấy việc thỏa mãn các ham muốn vị kỷ là điều hoàn toàn chính đáng.

Khi con người không còn thanh gậy hướng dẫn tuyệt đối, thì họ sẽ quy định thiện ác sao để đáp ứng mục đích của họ, mục đích vị kỷ của họ. Các nền văn minh khác nhau đã có những định nghĩa khác nhau về thiện ác. Trong đa số trường hợp, những gì không khế hợp với luật lệ do một thiểu số nắm quyền định ra bị gán nhãn hiệu ác. Chỉ những gì thẳng hàng với đòi hỏi của thiểu số cầm quyền mới được gán nhãn hiệu thiện hay chấp nhận được. Trong nhiều trường hợp, thiểu số cầm quyền hoàn toàn không đứng thẳng hàng với thực tại của Thượng đế và những nguyên lý sáng tạo của Thượng đế. Những gì họ gọi là thiện không tốt lành theo nghĩa tuyệt đối. Chúng chỉ tốt lành tương đối vì chúng chỉ tốt lành dựa trên định nghĩa vị kỷ của thiểu số cầm quyền, một định nghĩa không những chối bỏ các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế mà còn chối bỏ thực tại chỉ có những gì tốt lành cho tổng thể mới thực sự tốt lành cho cá nhân.

Con cần suy ngẫm – trong tim mình – khái niệm này xuất phát từ đâu. Câu chuyện Vườn Địa đàng minh họa là có một điểm Adam và Eve nhận ra là họ đã làm một điều gì đi ngược lại quy luật của Thượng đế. Nhưng thay vì trở về với Thượng đế và nhận tội và xin tha thứ, thì họ quyết định lẩn trốn Thượng đế (Genesis 2:8). Thượng đế đã cho con quyền tự quyết, do đó con có quyền lẩn trốn Thượng đế nếu con muốn. Bởi vì Thượng đế tôn trọng các luật của ngài, và do đó tôn trọng chọn lựa tự quyết của con, nên Thượng đế không thể giúp con khắc phục ý niệm tách biệt đó. Nếu con muốn quay lưng lại Thượng đế, thì ngài sẽ cho phép con làm chuyện này và ngài sẽ không ép uổng con bằng bất cứ cách nào. Một khi con đã quay lưng lại Thượng đế, thì con có thể tiếp tục càng ngày càng xa rời Thượng đế trong tâm thức của con. Thượng đế sẽ không ép uổng con, Thượng đế sẽ không bắt con phải đối mặt với quyết định của mình. Thượng đế sẽ để con bước ra xa bao nhiêu cũng được nếu con muốn. Đó là lý do vì sao nhân loại đã có thể đi xuống một trạng thái tâm thức cực kỳ thấp mà con thấy trải bày hồi thời người tiền sử sống trong hang động, là một trạng thái không cao hơn loài thú bao nhiêu.

Thời người tiền sử sống trong hang động không phải là khởi thủy của nhân loại. Trước đó đã có nhiều nền văn minh đã đạt tới trình độ tinh xảo cao. Một số các nền văn minh đó vượt xa nền văn minh Tây phương hiện tại trên mặt công nghệ và văn hóa. Nhưng vì họ lạm dụng quyền năng sáng tạo của họ nên họ dần dần đi xuống những trạng thái tâm thức và điều kiện sinh sống càng ngày càng thấp. Nếu con đã từng nghiên cứu các chuyện thần thoại, hay những gì các khoa học gia gọi là chuyện thần thoại, về các nền văn minh quá khứ, thì con sẽ biết thày đề cập đến các nền văn minh nào. Mặc dù một số chi tiết trong những câu chuyện còn sót lại từ các thời đó đã trở nên mờ tối với dòng thời gian, sự thật là đã có những nền văn minh quá khứ trên trái đất và thời người tiền sử sống trong hang động không phải là khởi thủy của nhân loại mà chỉ là một trong những điểm thấp mà nhân loại đã xuống tới.

Nếu con muốn thay đổi cuộc đời mình – để được cuộc sống dồi dào mà Thượng đế cống hiến vô điều kiện – thì con không thể thụ động và chờ đợi là Thượng đế sẽ làm hộ cho con. Con còn không thể dùng phương pháp cầu xin Thượng đế cho con cuộc sống dồi dào. Thượng đế đã thiết lập một vũ trụ trong đó con có quyền năng sáng tạo để thị hiện cuộc sống dồi dào bằng cách sử dụng các quyền năng đó.

Thượng đế sẽ không tạo ra đời sống dồi dào cho con; Thượng đế muốn con đồng-sáng tạo đời sống dồi dào cho chính mình. Thượng đế muốn con biết rằng con đã làm chuyện đó với quyền năng nội tại của mình – quyền năng của Thượng đế trong con – và con đã làm chuyện đó bằng cách đứng thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế. Kết luận là lý do vì sao con chưa có đời sống dồi dào là vì con đã đi xuống một trạng thái tâm thức, mà ta có thể gọi là trạng thái vô minh, nơi đó con mất liên lạc với các nguyên lý sáng tạo mà Thượng đế đã sử dụng. Cách duy nhất để thoát khỏi cảm nhận thiếu thốn hiện tại và đạt được đời sống dồi dào là con thay đổi trạng thái tâm thức của mình.

7.3. Con đã dùng quyền tự quyết để tạo đời sống thiếu thốn

Con yêu dấu, thày muốn con bỏ ra vài phút để suy ngẫm về những phương pháp “làm giàu mau chóng” đang lan tràn trong xã hội Tây phương ngày nay. Con hãy xem xét là có biết bao nhiêu đạo sư đã hứa hẹn là nếu con theo phương pháp giản dị của họ hay đọc sách của họ, thì con sẽ tạo ra sự dồi dào và của cải tối hậu, và con sẽ có thể làm ra tiền nhiều vượt xa lý thường tình. Thày chắc chắn là nếu con nhận ra nhu cầu đem sự dồi dào vào cuộc đời của mình, thì con đã thử dùng một trong những phương pháp đó hoặc đã nghĩ chuyện theo chúng. Nếu con đã thử theo chúng, thì có lẽ con đã trải nghiệm là chúng không hiệu nghiệm.

Bây giờ thì thày giảng cho con là các phương pháp “làm giàu mau chóng” đó sẽ không bao giờ hiệu nghiệm trên đường dài. Thực tại giản dị là trạng thái thiếu thốn và đau khổ hiện nay của con là sự trải bày – trong vật thể vật lý – của những gì xảy ra trong tâm thức của con. Nếu con muốn thay đổi thực tại bên ngoài của con – thực tại được hình thành bởi Ánh sáng Mẫu-Vật – thì con cần trước tiên thay đổi thực tại nội tại của con, là thực tại của tâm thức của con, là những tâm ảnh mà con phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Chỉ khi con theo trọn tiến trình thay đổi trạng thái tâm thức của mình một cách cơ bản và sâu thẳm, thì con mới thấy những cải thiện thật, chân chính và lâu bền trong hoàn cảnh bên ngoài của con.

Đây là một nguyên lý sâu sắc mà con cần hiểu nếu con muốn thể hiện đời sống dồi dào thật mà Thượng đế cống hiến con. Lý do vì sao con không có đời sống dồi dào thể hiện trong vật lý là vì con đã đi xuống một trạng thái tâm thức thấp, nơi đó con không sử dụng, con không có khả năng sử dụng, những nguyên lý sáng tạo của Thượng đế. Điều các phương pháp “làm giàu mau chóng” hứa hẹn con là họ đã khám phá ra một ngõ tắt nào đó cho con của cải vật lý mà con muốn mà không cần thực sự thay đổi tâm thức của mình. Một số các phương pháp đó đề cập đến việc thay đổi tâm thức, nhưng chỉ một cách phiến diện. Họ tuyên bố là con chỉ cần theo một vài bước đơn giản, đọc một vài câu khẳng định đơn giản, thì của cải sẽ tức khắc tuôn chảy về hướng con.

Nếu con chưa chán ngán những hứa hẹn rỗng tuếch này thì thày sẽ không ngăn cản con tìm trải nghiệm đó nếu con nghĩ con cần trải nghiệm đó. Thày là một bà Mẹ đầy thương yêu, thày là một đại diện của Mẹ Thượng đế. Thày mong muốn con được sự dồi dào thực sự không thể mua được bằng tiền bạc và cũng không thể mua bằng ngõ tắt. Thày cũng thương yêu Thượng đế Cha và Luật tự quyết của ngài. Trong căn bản, Luật Tự quyết quy định rằng nếu con tách mình khỏi Thượng đế thì Thượng đế không thể cho con hướng dẫn và do đó hậu quả của hành động của con trở nên vị thày của con. Con học hỏi qua những trải nghiệm của mình.

Luật Tự quyết quy định rằng nếu con cảm thấy cần một loại trải nghiệm nào đó, thì Thượng đế sẽ cho phép con tạo trải nghiệm đó cho mình. Nếu con vẫn cần trải nghiệm nghèo đói, giới hạn, thiếu thốn, đau đớn và khổ đau, thì thày là ai mà có thể chối bỏ luật Thượng đế và tìm cách ép con phải chấp nhận sự dồi dào của Thượng đế? Nếu con mong muốn sự dồi dào, nhưng không sẵn sàng làm những chuyện cần làm để thể hiện sự dồi dào của Thượng đế, thì thày là ai mà có thể ngăn cản con chạy theo các đạo sư giả chỉ cho con ngõ tắt? Nếu con cần trải nghiệm đi theo một đạo sư giả như thế – cho đến khi con quá thất vọng và rốt cuộc từ bỏ giấc mộng tìm được ngõ tắt và nói: “Phải có một cách hay hơn” – thì thày là ai mà có thể đứng cản lối không cho con có trải nghiệm đó? Nếu con đã tới điểm quyết định không còn muốn những giấc mơ và ngõ tắt rỗng tuếch đó nữa, không còn muốn trải nghiệm đau đớn, thiếu thốn và khổ đau, thì thày có thể cống hiến con một cái gì. Thày có thể cống hiến con một con đường chân thật qua đó con thay đổi hoàn toàn tâm thức của mình. Con có thể đem tâm thức mình thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo mà Thượng đế sử dụng. Khi con làm vậy thì con đem dòng sống của mình vào sự hài hòa với toàn Thân thể của Thượng đế trên cả thiên đàng lẫn trần thế. Toàn thể vũ trụ vật chất và chính Ánh sáng Mẫu-Vật sẽ vui mừng đáp ứng những mong muốn thật của con. Con sẽ thấy là sự dồi dào sẽ xảy đến không phải như một phép lạ, không phải từ một lực bên ngoài con, mà qua cách sử dụng đúng đắn – cách sử dụng hài hòa và cân bằng – quyền năng sáng tạo mà Thượng đế đã phú cho con khi dòng sống của con bắt đầu hiện sinh.

7.4. Nhập một với Dòng sông sự Sống

Con đường mà thày cống hiến là con đường thật dẫn tới dồi dào thật, không phải là một ngõ tắt, không phải là một con đường mà con người thấy có vẻ đúng, nhưng đến cuối đường là cái chết (Proverbs 14:12). Chìa khóa để đi theo con đường thật là nhận ra con đường này không có mục đích đem lại của cải tạm thời trên trái đất. Mục đích của con đường thật là thay đổi thường trực, một thay đổi tâm thức thường trực khi con sửa đổi tâm thức để nó thẳng hàng với thiết kế nguyên thủy được lưu trữ trong tâm Thượng đế khi dòng sống của con được tạo sinh. Thượng đế muốn sáng tạo những người con trai hay con gái thật của Thượng đế, được tạo sinh theo hình ảnh của ngài và giống như ngài và các người con đó dùng những quyền năng sáng tạo hoàn toàn hài hòa với tổng thể. Con không những chỉ khuếch đại dòng sống của chính mình mà còn khuếch đại kinh nghiệm sống của mọi sự sống trên trái đất, và quả thực mọi sự sống trong toàn thể vũ trụ.

Đây là trạng thái tâm thức mà Giê-su đề cập đến khi nói rằng trừ phi con hấp thu thịt và máu của người Con trai duy nhất đã được tạo sinh bởi Cha, thì con không có sự sống trong mình (John 6:53). Ý nghĩa sâu của câu này là khi con sử dụng quyền năng sáng tạo của mình một cách hài hòa với các quy luật của Thượng đế, thì con đứng thẳng hàng một cách toàn hảo với mục đích của sự sống và những nguyên lý hướng dẫn của sự sống. Con trầm mình trong Dòng sông sự Sống, con là một phần của Dòng sông sự Sống, là dòng nước luôn tuôn chảy, luôn tăng trưởng bao gồm tất cả những gì đấng Sáng tạo đã tạo tác. Con luôn luôn di chuyển cùng với Dòng sông sự Sống, con luôn luôn thăng vượt chính mình, nhân các khả năng của con và trở nên hơn nữa, qua đó con đem thêm dồi dào vào cuộc đời mình. Đây là định nghĩa thật của sự sống.

Định nghĩa tâm linh của sự sống không phải là thân thể của con có còn hô hấp hay không. Đây là định nghĩa nhân phàm, sinh diệt của sự sống. Định nghĩa tâm linh thật của sự sống là con thăng vượt chính mình và trở nên hơn nữa. Khi con trở nên hơn nữa thì con trải nghiệm cuộc sống dồi dào, con là một phần của dòng chảy dồi dào luôn luôn di động của Thượng đế, là Dòng sông sự Sống. Chỉ khi con ở trong dòng sông đó thì con mới có đời sống tâm linh thật sự. Khi con bước ra ngoài dòng sông đó – vì con tách mình ra khỏi cái ta cao của mình, khỏi cội nguồn của mình, khi quên đi những quy luật của đấng Sáng tạo ra mình – thì con đi xuống một trạng thái tâm thức gọi là tâm thức chết khi nhìn từ góc độ tâm linh. Con đã chết theo nghĩa tâm linh, và đây là ý nghĩa sâu của câu nói của Giê-su.

Một khi con đã rơi xuống một tầng trạng thái tâm thức thấp thì làm sao con có thể vươn trở lên lại và đặt mình thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế? Cái gì cho phép con lấy lại gia tài thật của mình, bản sắc thật của mình như một người con trai hay con gái của Thượng đế, và nối kết trở lại với cái ta cao của con, Hiện diện TA LÀ của con, với phần bên trong của dòng sống của con, nơi mà Thượng đế đã đặt những quy luật của ngài? Trung gian sẽ cho phép con leo từ cái chết trở lên cuộc sống vĩnh hằng là người Con duy nhất được tạo sinh của Cha. Thật là điều đáng buồn khi ta phải công nhận là hầu hết các giáo phái Cơ đốc giáo chính mạch đều đã hiểu lầm ý nghĩa tâm linh thật của nhiều lời dạy sâu sắc nhất của Giê-su. Vì họ bị kẹt trong tâm thức nhị nguyên và ý niệm tách biệt, và vì họ không chịu khắc phục trạng thái tâm thức đó, nên họ đã suy luận là Giê-su đề cập đến chính mình, con người vỏ ngoài của Giê-su khi nói câu đó. Họ suy luận là con người Giê-su là con đường, sự thật, và sự sống và do đó là chìa khóa duy nhất dẫn tới cứu rỗi (John 14:6). Kỳ thực Giê-su không ám chỉ một sinh thể đặc biệt nào, thày nói đến người Con được tạo sinh thật sự của Cha, không phải là một con người mà là một trạng thái tâm thức hoàn vũ, là tâm thức Ki-tô hoàn vũ. Đây là trạng thái tâm thức mà Phúc âm của John gọi là Ngôi Lời. Ban đầu có Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Thượng đế và chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.

7.5. Ý nghĩa thật của tâm thức Ki-tô

Con yêu dấu, chúng ta bây giờ đã tới điểm thày có thể giải thích cho con ý nghĩa thật của tâm thức Ki-tô, người Con trai duy nhất được sinh tạo, Ngôi Lời. Việc đầu tiên trong công trình sáng tạo của đấng Sáng tạo là ngài tạo ra Ánh sáng. Ánh sáng là một chất không có hình tướng, nhưng nó có tiềm năng khoác vào bất kể mọi hình tướng. Nó khoác vào hình tướng không do quyền năng nội tại của nó, nhưng chỉ khi nó được tác động bởi một lực bên ngoài, một sinh thể có tự nhận biết và quyền năng sáng tạo.

Lúc ban đầu, Thượng đế đấng Sáng tạo là lực duy nhất tác động lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Lẽ tự nhiên, tất cả những gì đấng Sáng tạo tạo ra đều hoàn toàn hài hòa với các nguyên lý cơ bản mà đấng Sáng tạo đã thiết kế để tạo vật của ngài được lâu bền. Ta không cần quan tâm là đấng Sáng tạo có thể tạo ra những gì vi phạm các nguyên lý, các quy luật của chính ngài. Sau khi đấng Sáng tạo đã tạo ra thiết kế cơ bản của vũ trụ thì ngài quyết định tạo ra một số sinh thể có tự nhận biết là các phần nối dài của ngài nhưng chưa có toàn thể quyền năng sáng tạo của một Thượng đế. Mục đích là đấng Sáng tạo sẽ trở nên hơn nữa qua việc tạo ra những phần nối dài của chính mình. Khi con thăng vượt chính mình và nới rộng nhận biết và quyền năng sáng tạo của mình thì con khuếch đại toàn thể tạo vật của Thượng đế.

Thiết kế nguyên thủy là các sinh thể có tự nhận biết đó khởi sự với quyền năng sáng tạo giới hạn. Khi họ nhân khả năng của họ lên bằng cách đồng-sáng tạo một cách hài hòa với quy luật của Thượng đế, thì Thượng đế sẽ tưởng thưởng họ. Như Giê-su có nói: “Tốt lắm, con là người giúp việc tốt và trung thành: con đã trung tín trong một số ít việc, ta sẽ cho con cai quản nhiều chuyện.” (Matthew 25:21). Ý nghĩa nội tại của câu nói này là khi con chứng tỏ ý muốn nhân lên khả năng của con bằng cách đồng-sáng tạo một cách hài hòa với các quy luật của Thượng đế, thì ngài sẽ ban cho con quyền năng sáng tạo lớn hơn. Con có thể nâng tâm thức và khả năng sáng tạo của mình cho tới khi con tới điểm thành tựu hoàn toàn mà Giê-su đề cập tới khi nói: “Con là Thượng đế” (John 10:34).

Con đã được tạo ra với quyền năng sáng tạo giới hạn và một nhận biết giới hạn về toàn thể công trình sáng tạo của Thượng đế vì mục đích của Thượng đế là con du hành vào thế giới hình tướng và sử dụng quyền năng sáng tạo của mình trên một hành tinh nhỏ bé, như trái đất. Con sẽ dần dần nâng khả năng sáng tạo và nhận biết cho tới khi con vĩnh viễn thăng lên khỏi vũ trụ vật chất và trở thành một sinh thể bất tử trên thế giới tâm linh. Từ đó con có thể tăng trưởng thêm nữa và quả thật, sự tăng trưởng này sẽ tiếp diễn mãi mãi.

Khi Thượng đế tạo ra các sinh thể có tự nhận biết, trí tưởng tượng và ý chí tự do thì chuyện có thể xảy ra là các sinh thể này đi ngược lại các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, hoặc vì họ lãng quên hoặc vì họ cố ý không tuân thủ. Nếu họ không thể đi ngược lại quy luật của Thượng đế, thì họ không thực sự có ý chí tự do. Như vậy chuyện có thể xảy ra là một dòng sống có thể tạo ra một điều gì không thẳng hàng với quy luật của Thượng đế và do đó sẽ không chỉ đưa tới sự tiêu hủy của dòng sống đặc trưng đó mà còn có thể đưa tới sự tiêu hủy của nhiều dòng sống khác, tùy theo quyền năng sáng tạo của dòng sống đó. Để tránh chuyện này xảy ra, Thượng đế đã thiết lập vào thiết kế của vũ trụ một cơ chế an toàn khác. Thánh kinh gọi cơ chế an toàn này là Ngôi Lời hay là người con duy nhất được tạo sinh của Cha, nhưng thày lại muốn gọi là tâm thức Ki-tô hoàn vũ.

Cơ chế an toàn này vận hành như sau. Dòng sống của con được thiết kế để là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Con không có những quyền năng sáng tạo của đấng Sáng tạo, con có quyền năng sáng tạo giới hạn hơn. Chúng chính yếu có cùng phẩm chất, nhưng không cùng số lượng với quyền năng sáng tạo của đấng Sáng tạo. Điều khác biệt là đấng Sáng tạo là cái Tất cả và do đó ngài sáng tạo từ trong chính mình. Trong khi đó, con là một cá nhân do đó con không là, ít ra thì con chưa là, cái Tất cả. Con sáng tạo từ bên trong tạo vật mà đấng Sáng tạo đã tạo ra. Cơ chế an toàn của Thượng đế quy định là một người đồng-sáng tạo chỉ có thể tạo ra một cái gì bền vững khi người đó sáng tạo xuyên qua trung gian của tâm thức Ki-tô.

Tâm thức Ki-tô là một nhận biết về các quy luật của Thượng đế không bao giờ bị tha hóa. Tâm thức Ki-tô lúc nào cũng là một với Cha và các quy luật của Cha. Khi Giê-su đạt được tâm thức Ki-tô thì thày kêu lên: “Ta và Cha ta là một” (John 10:30). Khi con, như một dòng sống cá biệt, có nhận biết về cái Tất cả và những quy luật của Thượng đế, thì con nhận ra cá nhân mình không phải là người hành động thật, người tạo tác thật. Như Giê-su có nói: “Tự ta không làm được gì” (John 5:30) và “nhưng Cha ở trong ta, ngài làm công việc” (John 14:10). Giê-su biết người làm việc thật, người sáng tạo thật không phải là con người vỏ ngoài, con người vật lý, thậm chí không phải là tâm vỏ ngoài, cái nhân cách được gọi là Giê-su Ki-tô. Người đang thực sự sáng tạo là phần cao hơn của bản thể của Giê-su, một cá thể hóa của Thượng đế được tập trung thành Hiện diện TA LÀ. Hiện diện đó sáng tạo bằng cách sử dụng năng lượng và các quy luật của Thượng đế để tạo ra hình tướng.

Tâm thức Ki-tô luôn luôn biết là tự nó không là quy luật, mà nó là một đồng-sáng tạo cùng với Thượng đế, nó là một thành phần của một cái gì lớn hơn. Thượng đế đã thiết kế một số nguyên lý hướng dẫn sự tăng trưởng của mọi sự trong vũ trụ, và tâm thức Ki-tô biết rằng khi con sáng tạo một cách hài hòa với các nguyên lý đó, thì tạo tác của con sẽ bền vững và sẽ khuếch đại tổng thể. Khi con đánh mất nhận biết về các nguyên lý đó, thì lực co thắt của Đấng Mẹ sẽ khiến tạo vật của con tự tiêu hủy và điều này cũng có tiềm năng tiêu hủy một số phần khác của tổng thể.

Khi con ở trong tâm thức Ki-tô thì con không thể rơi vào trạng thái tâm thức thấp trong đó con tách mình ra khỏi Thượng đế và các quy luật của ngài, con quên mất những quy luật mà Thượng đế đã đặt vào các phần nội tại của con và do đó con coi mình là quy luật. Với tâm thức Ki-tô, con không bao giờ tin vào hiểu biết của thiện ác tương đối qua đó con tự quy định các nguyên lý của riêng mình và nghĩ rằng con sẽ không chịu hậu quả khi con thỏa mãn những ham muốn vị kỷ của mình mà không đếm xỉa đến ảnh hưởng trên tổng thể. Cơ chế an toàn này khiến con không thể mãi mãi quên mình là ai, mình từ đâu tới, và những quy luật mà đấng Sáng tạo đã quy định.  

Trạng thái tâm thức Ki-tô là trạng thái tự nhiên của mọi dòng sống do đấng Sáng tạo tạo ra. Vì Thượng đế đã ban cho con trí tưởng tượng và quyền tự quyết, chuyện có thể xảy ra là con quên mất trạng thái nhận biết tự nhiên này và qua đó con rơi vào tâm thức nhị nguyên, trạng thái tách biệt nơi con không còn biết cội nguồn thật của mình. Con cũng có thể tới điểm tin rằng con là một phàm nhân sinh diệt bị một Thượng đế đầy giận dữ kết tội phải sống một cuộc đời đầy đau đớn khổ đau và con không đủ uy lực nội tại để tự mình cải sửa tình trạng này.

7.6. Thế giới hình tướng cho phép con người đi ngược lại quy luật của Thượng đế

Sau đây là sự khác biệt chính yếu mà Thượng đế đã tạo ra khi ngài quyết định tạo ra các sinh thể có tự nhận biết. Ánh sáng Mẫu-Vật, Ánh sáng Mẹ, là cái mà các khoa học gia gọi là năng lượng. Năng lượng là một rung động và con có thể bắt đầu ở tầng rung động thấp của cõi vật chất và đi dần lên các tầng rung động cao hơn của cõi tâm linh cho tới khi con đạt tới rung động cao nhất của ánh sánh tinh khiết của chính Thượng đế. Ánh sáng đó có độ rung cao đến độ không thể có hình tướng nào hiện hữu. Không có hình tướng nào mà ta có thể phân biệt trong ánh sáng tâm linh thuần khiết. Làm sao hình tướng thành hình? Nó thành hình khi một tâm có tự nhận biết áp chồng một hình ảnh, một khuôn đúc lên ánh sáng thuần khiết và qua đó khiến nó mang vào một độ rung thấp hơn trạng thái nền của nó. Để làm chuyện này, sinh thể có tự nhận biết phải hình dung một hình tướng và sau đó dùng uy lực của tâm để áp chồng hình tướng đó lên Ánh sáng Mẫu-Vật thuần khiết. Sau đây là cơ cấu an toàn cơ yếu. Chỉ khi dùng tâm thức Ki-tô, chỉ qua trung gian của tâm thức Ki-tô, thì người đồng-sáng tạo mới có thể áp chồng một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật thuần khiết. Chỉ một hình ảnh hài hòa với các quy luật của đấng Sáng tạo mới ảnh hưởng được Ánh sáng Mẫu-Vật.

Điều này bảo đảm là chỉ những người có tâm thức Ki-tô mới có thể tạo tác một cái gì cân bằng và bền vững. Ánh sáng Mẫu-Vật có tự trong nó một cơ chế an toàn khác, đó là nó luôn luôn muốn trở về trạng thái nền của nó. Khi một hình tướng được tạo ra trong sự hài hòa với các quy luật do đấng Sáng tạo quy định thì hình tướng đó thuộc Dòng sông sự Sống, có nghĩa là nó thuộc vào tiến trình tự thăng vượt không ngừng. Một hình tướng chỉ bền vững khi nó tự thăng vượt vì tăng trưởng là quy luật cơ bản của sự sáng tạo. Một hình tướng không hài hòa với các quy luật của Thượng đế, không tự thăng vượt và không có cân bằng giữa lực lan ra và lực co thắt, sẽ dần dần bị phá hủy bởi lực co thắt sẵn có trong Ánh sáng Mẫu-Vật, là lực đem tất cả các tạo vật không quân bằng trở về trạng thái nền. Tất cả các hình tướng được tạo ra dựa trên một hình ảnh khô chết, một hình ảnh không tự thăng vượt, sẽ không thể tránh bị lực co thắt hủy diệt. Chính lực co thắt khiến hình tướng có thể được tạo ra, nhưng nếu con dính mắc vào hình tướng – nếu con bắt đầu tôn thờ hình ảnh khô chết và từ chối tự thăng vượt – thì con bước ra ngoài Dòng sông sự Sống và rơi vào ảnh hưởng của lực co thắt. Con chỉ có thể duy trì tình trạng bất quân bình đó trong một thời gian vì khi một hình tướng rơi vào ảnh hưởng của lực co thắt – khi không được lực lan ra cân bằng – thì nó sẽ không thể tránh bị hủy diệt. Sự tha hóa của lực của Mẹ sẽ dẫn tới tự hủy diệt.

Trong những tầng cao nhất của vũ trụ tâm linh chỉ có những sinh thể có tâm thức Ki-tô hoàn toàn. Họ đã tạo ra những bầu cõi đẹp đẽ đến độ không ai trên trái đất có thể tưởng tượng nổi. Một số người có phước lành được ban thị giác tâm linh hay thần bí, hay đã trải qua kinh nghiệm cận tử, đã được thấy vẻ đẹp và sự toàn hảo của các cõi tâm linh hay ít ra là một số các cõi đó. Những ai chứng kiến được cảnh đó thấy rằng điều hiển nhiên là chỉ một sinh thể với một trạng thái tâm thức cao hơn rất nhiều trạng thái bình thường trên trái đất mới có khả năng tưởng tượng, hình dung những vẻ đẹp và sự toàn hảo như vậy. Con chỉ có thể tồn tại trên thiên đàng, trong cõi tâm linh khi con ở trong tâm thức Ki-tô. Trong thế giới thiên đàng con chỉ thấy những sinh thể ở trong tâm thức Ki-tô. Điều này không có nghĩa là các sinh thể trên thiên đàng không có tự do sáng tạo, vì sự thật là trong khuôn khổ quy luật của Thượng đế con không có giới hạn nào trong việc sử dụng quyền năng sáng tạo của mình.

Một sinh thể trên thiên đàng vẫn có thể chọn lựa đi ngược lại những nguyên lý sáng tạo mà đấng Sáng tạo của thế giới này đã quy định. Nếu sinh thể trên thiên đàng làm như vậy thì sinh thể đó không thể tiếp tục ở trên thiên đàng mà phải xuống một cõi thấp hơn. Đây chính là lý do vì sao cõi vật chất được thành hình. Sau khi Thượng đế và các đại diện của Thượng đế tạo ra một số tầng trên cõi thiên đàng thì đấng Sáng tạo thể hiện một tầng mới của tạo vật của ngài. Tầng này được cấu tạo bởi những năng lượng thấp hơn tất cả các năng lượng trong cõi tâm linh. Các sinh thể đã chọn đi ngược lại các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế có thể cư ngụ nơi tầng đó. Những sinh thể này lúc đó có một nơi để thực thi những quyền năng sáng tạo của họ và nhận lãnh hậu quả của hành động của họ cho tới khi họ chán chê trải nghiệm bị giới hạn và rốt cuộc trở về với Thượng đế và nói: “Ôi đấng Sáng tạo của con, con muốn trở về nhà.”

Vũ trụ vật chất quả thật đã được các đại diện của Thượng đế tạo ra, và họ đã sử dụng tâm thức Ki-tô để hình dung một tạo vật cân bằng và hài hòa. Sau đó họ áp chồng viễn quan đó lên Ánh sáng Mẫu-Vật qua đó nó mang vào một rung động thấp hơn tất cả các rung động có thể tìm thấy trong cõi tâm linh. Mặc dù vũ trụ vật chất được tạo ra bởi những sinh thể có tâm thức Ki-tô toàn hảo, nhưng vũ trụ vật chất được thiết kế để những sinh thể không hoàn toàn có tâm thức Ki-tô có thể sinh sống nơi đó. Đó là lý do vì sao Ánh sáng Mẫu-Vật được dùng để tạo ra vũ trụ này có thể được uốn nắn dễ dàng thành hình tướng không đứng thẳng hàng với những nguyên lý sáng tạo của Thượng đế. Những hình tướng này sẽ không tự hủy diệt ngay tức khắc như khi trên cõi tâm linh. Chúng có thể tồn tại tạm thời và sẽ chỉ bị tiêu hủy sau một khoảng thời gian.

Đây là một khái niệm rất vi tế mà thày biết nhiều người sẽ coi là trừu tượng. Các con sẽ được lợi lạc khi kéo giãn tâm mình để hiểu nó. Trên cõi tâm linh, trí thông minh nội tại trong Ánh sáng Mẫu-Vật khiến các hình tướng bất toàn và bất quân bình không thể nào tồn tại trong bất cứ khoảng thời gian nào. Bất cứ gì không hài hòa với quy luật Thượng đế sẽ tự hủy diệt ngay tức khắc do lực co thắt của Mẹ. Trong vũ trụ vật chất, lực co thắt của Mẹ đã được điều chỉnh để các hình tướng bất toàn không tự hủy diệt ngay tức khắc, chúng quả thật có thể tồn tại một thời gian. Các khoa học gia đã khám phá ra quy luật này và gọi nó là định luật thứ nhì của nhiệt động học, cho rằng tất cả các hình tướng bất toàn rốt cuộc sẽ tan rã. Vũ trụ cho phép các sinh thể tự nhận biết đã vì vô minh hay cố ý đi xuống những tầng tâm thức thấp có cơ hội học hỏi bằng cách trải nghiệm hậu quả của hành động của họ. Những sinh thể này sẽ không thể tránh tạo ra những thứ không thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế. Khi họ làm vậy thì họ sẽ không tạo ra cuộc sống dồi dào mà con tìm thấy trên cõi tâm linh. Họ sẽ tạo ra tình trạng thiếu thốn và giới hạn. Thượng đế hy vọng là khi các sinh thể này trải nghiệm những giới hạn, đau đớn và khổ đau mà họ đã tạo ra, thì họ sẽ rốt cuộc chán ngán trải nghiệm đó và do đó tự nguyện trở về đứng thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế.

Giờ đây thì chúng ta thấy sự khác biệt. Nếu một sinh thể trên cõi tâm linh quyết định nổi loạn chống lại quy luật của Thượng đế thì tất cả những gì sinh thể đó tạo ra sẽ tự hủy diệt ngay tức khắc. Nếu sinh thể đó không có nơi nào khác để đi tới thì sinh thể đó sẽ tự hủy diệt ngay tức khắc. Sinh thể đó sẽ học được gì từ trải nghiệm đó? Nếu sinh thể đó bị hủy diệt, thì không thể có sự học hỏi. Thượng đế đã thiết lập một vũ trụ trong đó một sinh thể có thể đi ngược lại các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế mà không tự hủy diệt ngay tức khắc. Sinh thể đó có thể tồn tại, tiếp tục có nhận biết. Sinh thể đó có thể hiện hữu trong cõi vật chất, và trong vũ trụ đó sinh thể đó sẽ trải nghiệm quả trái của hành động của mình, sẽ gặt những gì y đã gieo. Khi làm vậy thì sinh thể đó có tiềm năng học hỏi rằng khi y tuân theo các quy luật của Thượng đế thì y sẽ khuếch đại cuộc sống của mình và cuộc sống của tất cả các sinh thể khác. Khi y đi ngược lại những quy luật này, y giới hạn chính cuộc sống của mình và cuộc sống của người khác. Luật Tự quyết được tôn trọng vì sinh thể có tiềm năng đi ngược lại các quy luật của Thượng đế, và qua đó trải nghiệm sự đau đớn, giới hạn và thiếu thốn, cho tới khi y chán ngán trải nghiệm đó và quyết định trở về đứng thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế và tái tạo cuộc sống dồi dào là kế hoạch nguyên thủy của Thượng đế.

Sự khác biệt quan trọng là nếu con muốn tạo cái gì bền vững và nâng cao cuộc sống của mình và cuộc sống của mọi người trên trái đất, thì con phải sáng tạo từ tâm thức Ki-tô. Khi con không sáng tạo từ tâm thức Ki-tô, thì những gì con sáng tạo sẽ giới hạn quyền năng sáng tạo của con và khiến con trải nghiệm giới hạn, thiếu thốn, đau đớn và khổ đau. Đau đớn và khổ đau xảy ra vì những gì con sáng tạo với trạng thái tâm thức thấp sẽ không tự thăng vượt. Chúng sẽ dựa trên một hình ảnh khô chết, là một hình ảnh không tăng trưởng. Nó không thể bền vững – nó sẽ không có sự sống vĩnh viễn – và do đó lực co thắt của Mẹ sẽ bắt đầu phá vỡ các hình tướng mà con đã tạo ra. Mặc dù tiến trình này sẽ mất một chút thời gian, nhưng nó là một tiến trình không thể tránh được và không thể đảo ngược được khi con ở trong trạng thái tâm thức thấp. Con chỉ có thể đảo ngược nó khi con vươn lên tâm thức Ki-tô.

Trên cõi tâm linh, các khái niệm không gian và thời gian không giống như trên trái đất. Khi con ở trên thiên đàng thì con ở trong tâm thức Ki-tô, và trong tâm thức Ki-tô con thấy mình là một với cái Tất cả. Khi con là một với cái Tất cả, thì có thể nói là con ở mọi nơi trong tâm thức của Thượng đế. Nếu con, như một dòng sống cá biệt, có tiềm năng mở rộng nhận biết của mình và ở khắp nơi trong tâm thức của Thượng đế, thì lẽ tất nhiên khái niệm không gian mang một ý nghĩa khác. Trên trái đất con trải nghiệm không gian như một giới hạn. Ý niệm tự nhận biết của con tập trung vào thân thể vật lý của con, hiện đang sống trên hành tinh gọi là trái đất, một hành tinh giống như một giọt nước trong đại dương vô tận. Khi con còn đồng hóa mình với thân thể thì ý niệm bản sắc của con bị giới hạn bởi không gian. Nó chỉ hiện hữu “ở đây”, nó tập trung vào thân thể đang ở trên hành tinh, và do đó con không thể ở mọi nơi cùng một lúc. Đây quả thật là một giới hạn trong tâm con thay vì là một giới hạn thật và không thể tránh. Thân thể vật lý của con không thể ở khắp nơi trong vũ trụ vật lý, nhưng tâm con không bị giới hạn bởi thân vật lý.

Khi con ở trong cõi tâm linh, con là một phần của Dòng sông sự Sống đang di động không ngừng và là toàn thể tạo vật của Thượng đế, là Bản thể của Thượng đế. Khi con di động cùng với Dòng sông sự Sống thì thời gian không có cùng nghĩa với thời gian trên trái đất. Trên trái đất, thời gian là một giới hạn khiến con trụ vào giây phút hiện tại. Thời gian đặt giới hạn cho cuộc sống của con vì thân thể vật lý dày đặc của con bị giới hạn trong khoảng thời gian mà nó có thể tiếp tục hiện hữu. Như Giê-su đã cố gắng cho nhân loại thấy, cái chết thậm chí là một ảo tưởng mà ta có thể khắc phục qua tâm thức Ki-tô.   

Ta có thể nói là những tọa độ của thời gian và không gian tối hậu không có thật. Chúng là sản phẩm của sự kiện vũ trụ vật chất cho phép các sinh thể tự nhận biết sáng tạo những gì không thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế. Con càng tách mình ra khỏi sự thẳng hàng là Một với Thượng đế và thẳng hàng với các quy luật của Thượng đế, thì con càng giới hạn mình, con càng giới hạn nhận biết của mình vào một địa điểm trong không gian. Con càng tách mình khỏi sự nhận biết mà các dòng sống đã có trước khi có sự Sa ngã và con càng xa rời Dòng sông sự Sống thì con càng giới hạn mình vào một lúc trong thời gian và ý niệm bản sắc của con càng tập trung vào thân thể vật lý và cuộc đời quá ư ngắn ngủi. Cuộc sống của thân thể vật lý ngắn đến độ chỉ cần dùng lý thường tình cũng thấy là không thể nào Thượng đế lại có thể thiết kế để con chỉ sống 70 năm và sau đó ngưng hiện hữu như một sinh thể có tự nhận biết.

7.7. Con lúc nào cũng có thể trở về với Thượng đế

Thày cố ý khởi đầu với một số khái niệm rất khó và trừu tượng vì chỉ khi con thiết lập một nền móng thì con mới thực sự có thể giải thoát mình khỏi tâm thức nhị nguyên đang ngăn cản con có được cuộc sống dồi dào. Để thoát được tâm thức nhị nguyên đó, con cần có tầm nhìn rộng hơn mà trên trái đất này giáo hội Cơ đốc giáo chính thống hay khoa học duy vật không cung cấp. Để thiết lập một nền móng thích đáng cho phép con theo con đường mà thày cống hiến thì thày phải cho con tầm nhìn rộng hơn. Thày phải mang con ra khỏi khu rừng để con có thể thấy quá các thân cây và thấy toàn khu rừng – và do đó hiểu được là thế giới của con đã được tạo ra với mục đích gì. Con hiểu được là dòng sống của con, tâm thức của con, ý niệm bản sắc của con, không chỉ giới hạn vào thế giới vật chất với những giới hạn, đau đớn và khổ đau. Con có một chọn lựa khác. Con có cơ hội vượt lên trên những giới hạn của tâm thức hiện tại, ý niệm bản sắc hiện tại của con. Con có thể vươn lên cao hơn và xây dựng một ý niệm bản sắc mới thẳng hàng với thiết kế thật của bản thể con.

Con yêu dấu, con cảm được sự thiết tha của thày chăng? Điều thày muốn truyền giảng cho con là nhân loại có một hiểu biết rất giới hạn về nguồn gốc của mình, một hiểu biết không bao gồm thực tại của con người mà con là. Khoa học và đa số các tôn giáo hiện nay đều không cho con một hiểu biết thực con là ai, con từ đâu tới và tại sao con ở đây. Nếu con không biết con là ai thì làm sao con có thể hiểu được mục đích con tới trái đất là gì? Nếu con không biết mục đích này, thì làm sao con có thể hy vọng đứng thẳng hàng trở lại với những ước muốn nguyên thủy đã khiến con tới vũ trụ này?

Thày đã cho con biết về Luật Tự quyết. Trái với hình ảnh một Thượng đế giận dữ và muốn trừng phạt mà một số tôn giáo đã mô tả, Thượng đế không giận dữ và không bao giờ trừng phạt ai. Đấng Sáng tạo có tình thương vô điều kiện đối với từng người con trai con gái của ngài, và tình thương vô điều kiện này có thể thấy rất rõ trong Luật Tự quyết cho phép con đi ngược lại các nguyên lý sáng tạo nguyên thủy, thiết kế nguyên thủy mà đấng Sáng tạo có trong tâm ngài khi ngài tạo tác thế giới hình tướng, khi ngài tạo tác con. Chỉ một Thượng đế thương yêu vô điều kiện mới cho phép con đi ngược lại những quy luật của ngài qua đó con chối bỏ cuộc sống dồi dào và tạo ra trạng thái đau đớn và khổ đau thấp hơn rất nhiều những gì đấng Sáng tạo đã hình dung cho con.

Nếu Thượng đế quả thật là một bạo chúa giận dữ thì ngài đã ngăn cản không cho con làm như vậy. Nếu Thượng đế quả thật là một Thượng đế trừng phạt thì ngài đã trừng phạt con bằng cách tiêu hủy con ngay giây phút con bước ra ngoài các quy luật của ngài. Thượng đế của con là một Thượng đế thương yêu. Tình thương nguyên thủy của Thượng đế cho con, được giữ trong tim Thượng đế, không bị giảm thiểu chút nào bởi sự kiện con tạm thời chọn lựa quay lưng lại Thượng đế, chối bỏ cuộc sống dồi dào và thay vào đó tạo cho mình trạng thái giới hạn và khổ đau. Thượng đế thương yêu con y như lúc dòng sống của con được sinh tạo lúc ban đầu. Tình thương của Thượng đế vô điều kiện, và bất kể những gì con đã làm trên trái đất, con sẽ không bao giờ mất đi tình thương đó.

Vì con có quyền tự quyết, con có thể chối bỏ tình thương của Thượng đế. Vì con có trí tưởng tượng vô biên, con có thể tạo ra một hình ảnh giả về Thượng đế mô tả ngài như một Thượng đế giận dữ và trừng phạt, và con có thể chấp nhận hình ảnh này là sự thực tuyệt đối về Thượng đế. Con có thể chấp nhận là con không xứng đáng được nhận tình thương của Thượng đế và con bị kết án phải sống mãi mãi trong trạng thái giới hạn và khổ đau hiện tại, trạng thái tách biệt khỏi tình thương và sự dồi dào của Thượng đế. Đây là quyền của con, nhưng ngay khi con quyết định là con không muốn nắm giữ ý niệm bản sắc giới hạn đó nữa, không muốn chối bỏ sự dồi dào của Thượng đế nữa, thì Thượng đế sẵn sàng đưa con trở lại vương quốc của ngài và cho con cuộc sống dồi dào mà lúc nào con cũng được quyền có. Con chỉ cần theo những nguyên lý sáng tạo của ngài để thể hiện sự dồi dào đó vào trải nghiệm sống của con.

Thượng đế đã cho con quyền tự quyết. Thượng đế đã cho con quyền đi ngược lại các quy luật của ngài nếu con muốn. Thượng đế thậm chí thiết kế cả một vũ trụ để con có thể đi ngược lại các quy luật của ngài mà vẫn giữ được nhận thức và ý niệm cá thể, qua đó con có thể trải nghiệm hậu quả của hành động của mình, trải nghiệm thực tại giới hạn mà con đã tạo ra cho mình. Mặc dù Thượng đế cho phép chuyện này, nhưng Thượng đế lúc nào cũng giữ niềm hy vọng là – một ngày kia – con sẽ quyết định ngưng trốn chạy sự dồi dào của ngài. Con sẽ ngưng giới hạn chính mình. Con sẽ ngưng chối bỏ tiềm năng sáng tạo của mình, tiềm năng thiêng liêng trở thành một Thượng đế thực sự, một người đồng-sáng tạo thực của Thượng đế. Thượng đế hy vọng là con sẽ trở về nhà và trở thành một người đồng-sáng tạo có ý thức của Thượng đế để con biết mình là ai, con từ đâu tới. Con thực thi những quyền năng sáng tạo của mình một cách có ý thức với mục đích không chỉ thỏa mãn những ham muốn vị kỷ của mình mà còn khuếch đại toàn thể tạo vật của Thượng đế qua đó con là một phần của Dòng sông sự Sống, là cái gì thực sự quá diệu vợi đến độ nó vượt quá tầm hiểu biết của đa số con người trên trái đất.

Con yêu dấu, thày ở đây như là một đại diện của Thượng đế Cha. Trong quá khứ thày đã chọn xuống trái đất và khoác vào một thân thể vật lý dày đặc. Thày đã chọn thăng thiên trở lại vào cõi tâm linh để chứng minh là con người có thể nâng mình lên trên các giới hạn nhân phàm, kể cả kẻ thù cuối cùng gọi là cái chết. Vì thày đã chọn hòa nhập với tâm thức của Mẹ Thượng đế, nên thày tới đây như là bà Mẹ thương yêu không có ước mong gì hơn là thấy các con của mình được hưởng những điều tốt lành nhất. Đó là lý do vì sao thày đã tới đây để cống hiến con một con đường chân chính, thật và lâu bền vĩnh viễn có thể dẫn con trở về vương quốc của Cha, là vương quốc, như Giê-su đã nói, ở bên trong con và chính là tâm thức của con. Quả thực tâm thức chính là nơi con quyết định là con sẽ trải nghiệm cuộc sống dồi dào của vương quốc Thượng đế hay con sẽ trải nghiệm cuộc sống không mấy dồi dào tạo ra bởi những người đã đánh mất nhận biết về vương quốc Thượng đế, đánh mất nhận biết về bản sắc thật và quyền năng sáng tạo của họ. Thay vì là những người đồng-sáng tạo có ý thức của vương quốc dồi dào của Thượng đế, thì họ đã trở nên những người đồng-sáng tạo vô ý thức của vương quốc thiếu thốn.

Thượng đế đã cho con quyền năng sáng tạo vô biên, theo nghĩa là con không thể khóa nó lại. Ngay cả khi con đánh mất nhận biết về các quy luật của Thượng đế, thì con vẫn tiếp tục đồng-sáng tạo và đó là lý do vì sao luật pháp tại đa số các quốc gia có câu: “Không thể viện cớ không biết luật”. Ngay cả khi con không biết các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, con vẫn sáng tạo qua quyền năng của tâm. Khi con dùng trí tưởng tượng để hình dung những hình ảnh bất toàn và bất quân bình, thì con áp chồng những hình ảnh này lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Ánh sáng Mẫu-Vật trải bày những hình ảnh này, và đó là lý do vì sao con trải nghiệm giới hạn, đau đớn và khổ đau trong thế giới vật lý trên trái đất.

Thày đã cho con hình ảnh tổng quát về thực tại đời sống trên trái đất. Thể nào cũng có nhiều chi tiết cần được bổ sung. Nếu con chịu chiêm nghiệm điều thày giảng ở đây và ở trong những chìa khóa kế tiếp, thì con sẽ thấy vươn lên trên tất cả các giới hạn nhân phàm là điều khả thi. Điều khả thi là con bước ra ngoài sa mạc của giới hạn nhân phàm cho tới khi con đứng bên bờ Dòng sông sự Sống, là dòng dồi dào luôn luôn tuôn chảy của Thượng đế. Điều khả thi là con buông bỏ, từ bỏ hoàn toàn trạng thái tâm thức giới hạn dựa trên tách biệt và nhị nguyên. Con một lần nữa lại có thể trầm mình vào Dòng sông sự Sống và trở thành một với toàn thể tạo vật của Thượng đế.

Khi đó không có nghĩa là con mất đi cá tính của mình. Ngược lại, con lấy lại cá tính thật của mình – thay vì cá tính giả có giới hạn mà con đã tạo dựng trong hành trình trên trái đất. Một khi con giành lại cá tính thật của mình thì con biết con không phải là một người phàm, giới hạn, sinh diệt, là một người mà bản chất là tội đồ. Trái lại con thực sự là một con trai hay con gái của Thượng đế và con có tiềm năng đồng-sáng tạo vương quốc của Thượng đế ngay đây trên trái đất. Con không những sẽ khuếch đại cuộc sống của riêng mình mà còn khuếch đại cuộc sống của tất cả mọi người cho tới khi hành tinh này được nâng lên và trải bày cùng một sự toàn hảo, cân bằng và hài hòa mà ta tìm thấy trên cõi tâm linh. Đây là ý nghĩa thật của câu đem lại vương quốc của Thượng đế trên trái đất.

Nếu con mở tâm đón nhận những lời giảng của thày, thì có sác xuất rất cao con đã xuống trái đất với mục đích đặc trưng đem lại vương quốc của Thượng đế trên hành tinh này. Con tới đây không phải vì con đã nổi loạn chống lại ý chí của Thượng đế trong một cõi khác, nhưng con tới đây vì con mong muốn đem lại vương quốc của Thượng đế trên trái đất. Con tới đây với một sứ mệnh cứu vãn, để là một tấm gương cho những anh chị em của con đã nổi loạn chống lại quy luật của Thượng đế và do đó đi lạc đường. Con tới đây với lòng thương yêu muốn thấy Ánh sáng Mẫu-Vật được giải thoát khỏi những hình ảnh bất toàn mà sa nhân đã áp chồng lên nó, để Ánh sáng Mẫu-vật được tự do trải bày sự toàn hảo và vẻ đẹp mà con biết là tiềm năng thật của nó.

Con yêu dấu, nếu con vì lòng thương yêu mà tới đây thì con sẽ biết sự thực mà thày nói tới. Nếu con tới đây vì những lý do khác, nhưng đã chán ngán đi ngược lại quy luật của Thượng đế và đã kết nối lại với tình thương Thượng đế trong lòng mình, thì con cũng sẽ biết sự thực mà thày nói tới. Con sẽ biết điều này nếu con chú tâm vào tim mình và cảm thấy một sự khuấy động, một rung động, thậm chí những làn sóng ánh sáng tràn vào con và chứng minh cho con là những lời thày nói trong khóa học này, những lời nói bên ngoài con, đang rung động hoàn toàn cộng hưởng với điều gì đó trong tim con.

Trong các bài kế tiếp, thày sẽ giảng cái đó là cái gì nhưng bây giờ thì thày yêu cầu con chú tâm vào điểm giữa ngực, cùng độ cao với trái tim vật lý của con, và cảm nhận là những lời thày giảng đã khuấy động điều gì đó nơi con. Nếu con cảm thấy sự khuấy động này, thì con biết là con đã trên đường trở về sự toàn vẹn của người đồng-sáng tạo có ý thức mà con đã được thiết kế để là ngay từ thuở ban đầu. Con sẽ biết con đường mà thày cống hiến là thật. Khi chúng ta đi tiếp vào những chương kế tiếp thì con sẽ thấy con đường đó trải bày ra. Điều này sẽ cho con một niềm hy vọng mới, một hướng đi mới, một mục đích mới, và cảm nhận lòng thương yêu đấng Sáng tạo, tất cả sự sống và cái Ta của con như một thành phần của Dòng sông sự Sống.

5 | Tích cực nhận sự dồi dào

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 6/4/2005.

5.1. Vương quốc Thượng đế ở bên trong con

Thày ý thức là những gì thày nói con trong những chìa khóa đầu này vượt xa những gì trường Giáo lý ngày chủ nhật dạy con. Nó vượt xa những gì bất kỳ tôn giáo chính thống nào trên hành tinh này dạy con. Thày cũng ý thức là những ai mở tâm ra với khóa học này đã bắt đầu nhận ra, sâu trong tim họ, là có gì nhiều hơn trong cuộc sống so với những điều họ được dạy trong trường hay trường Giáo lý ngày chủ nhật. Họ đã sẵn sàng nhìn quá các hộp tư duy truyền thống để tìm ra giải đáp cho những câu hỏi của họ về cuộc sống. Tuy thế, chúng ta cần giải quyết một sự kiện đơn giản là nhiều tôn giáo trên thế giới đề xướng hình ảnh một Thượng đế ở bên ngoài con, như một sinh thể xa xôi tít trên trời cao. Đáng tiếc nữa là một số tôn giáo, đặc biệt ở phương Tây, miêu tả Thượng đế như một sinh thể giận dữ và phán xét.

Một số thẩm quyền tôn giáo tự đặt mình trong vị thế cho mình quyền phê phán bất cứ ai không tuân theo những gì họ tin tưởng là giáo lý thật duy nhất về Thượng đế. Nhiều người trong số những người này nhanh chóng phán xét người khác và nói rằng những ai nói lên ý kiến không đúng theo cách diễn giải Thánh kinh của họ thì những người đó phỉ báng Thượng đế hay là đại diện của phản Ki-tô. Thậm chí họ cũng nói thế về những vị thày tâm linh chân chính của nhân loại, chính là những Sinh thể đã cống hiến cuộc đời của họ để giải phóng nhân loại khỏi xiềng xích của mọi hình tượng khô chết. Cốt lõi của bất cứ hình thức phỉ báng Thượng đế là chối bỏ Thượng đế. Hình ảnh Thượng đế được nhiều tôn giáo đề xướng dựa trên một sự chối bỏ Thượng đế rất tinh vi. Bất kỳ tôn giáo nào đề xướng một hình ảnh Thượng đế ở bên ngoài và tuyên bố rằng đây là tất cả những gì con người cần biết về Thượng đế, hoặc đây là hình ảnh thật duy nhất về Thượng đế thì họ thực sự đang đề xướng một triết lý bắt nguồn từ sự chối bỏ Thượng đế. Thật là đáng tiếc vô cùng khi nhiều giáo hội Cơ đốc quả thực đề cao hình ảnh một Thượng đế bên ngoài này, một Thượng đế giận dữ ngự trên trời.

Nếu người Cơ đốc chịu đọc Thánh kinh kỹ hơn với tâm cởi mở và con tim, thì họ sẽ thấy chính Giê-su đã nói về một Thượng đế không ở bên ngoài. Giê-su nói về một Thượng đế mà cá nhân con có thể biết đến và thày gọi Thượng đế đó là “Cha”. Giê-su cũng trích câu trong Cựu ước Kinh: “Các ngươi là Thượng đế” (John 10:34) và thày tuyên bố là mọi người không nên đi tìm vương quốc Thượng đế bên ngoài họ bởi vì vương quốc Thượng đế ở bên trong họ (Luke 17:21). Nếu con thêm vào đó sự kiện Phúc âm John tuyên bố rõ ràng là muôn vật được Thượng đế làm nên, chẳng vật chi được làm nên mà không bởi ngài (John 1:3), thì con thấy là có một cách hiểu rộng hơn về Thượng đế đang chờ con đằng sau hình ảnh một Thượng đế bên ngoài ở trên trời.

Chỉ những ai sẵn sàng buông bỏ hình ảnh thần tượng một vị Thượng đế bên ngoài mới có thể biết được Thượng đế thực. Thượng đế này không thể biết được qua giác quan bên ngoài hay qua trí năng nhân phàm. Thượng đế này chỉ biết được qua nội giác của trực giác cũng là tâm ngây thơ, chính là chìa khóa của mọi trải nghiệm tâm linh hay thần bí. Qua trải nghiệm này, con có thể biết thực tại của Thượng đế, con có thể biết Hiện diện của Thượng đế ngay bên trong con, như Giê-su đã hứa rõ ràng. Chân lý mà Giê-su giảng là: con là con cái của Thượng đế, con là con trai hay con gái của Thượng đế, con là một phần của Thượng đế đã được cá thể hóa. Chân lý này đã bị che mờ bởi học thuyết chính thống. Con được sinh tạo theo hình ảnh của Thượng đế và giống ngài và chìa khóa để tìm ra bản sắc thật của con là đi vào nội tâm và nối kết với cái ta cao của con, cái ta tâm linh của con hay cái mà chúng tôi gọi là “Hiện diện TA LÀ.” Thày thích tên này vì chính Hiện diện này cho con tự nhận biết cho phép con biết “con là”.

Trước khi con có thể tới điểm chấp nhận hoàn toàn con là ai và tại sao con ở đây trên trái đất, con cần buông bỏ hình ảnh một Thượng đế bên ngoài. một Thượng đế là đấng Sáng tạo Toàn năng đã sinh tạo trời và đất và Thượng đế đó là một Sinh thể có tự nhận biết. Hình ảnh mô tả Thượng đế như một Sinh thể có một hình tướng đặc thù, ngự trên một thế giới cao nào đó là một hình tượng khô chết giới hạn thực tại của đấng Sáng tạo của con. Đấng Sáng tạo của con không thể bị giam hãm trong một sinh thể đặc thù ngự trên cõi cao đó và lý do thật giản dị. Như Phúc âm John viết: “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.” (John 1:3), có nghĩa là đấng Sáng tạo sinh tạo mọi vật từ chính chất liệu và Bản thể của ngài. Đấng Sáng tạo ở trong mọi vật mà ngài đã sinh tạo. Để con có thể hoàn tất vai trò đúng đắn của con như người đồng-sáng tạo, con cần khắc phục tâm thức tách biệt chối bỏ Thượng đế nơi con đang là – và sự chối bỏ này thực là tâm thức phản Ki-tô, là nguồn gốc của mọi sự phỉ báng Thượng đế.

5.2. Tâm thức tách biệt đã khiến con người bất nhân với nhau

Trong nhiều ngàn năm con người đã bị lập trình để tôn thờ một Thượng đế hiện hữu đâu đó trên trời nhưng không tìm thấy được trên trái đất. Họ được nuôi dạy với cái nhìn nhị nguyên về Thượng đế nói rằng họ ở đây và Thượng đế ở đâu đó chỗ nào khác. Con bị tách khỏi Thượng đế bởi một rào cản không thể xuyên thủng và cách duy nhất con được cứu rỗi và trở về vương quốc Thượng đế là tuân theo những mệnh lệnh của một tôn giáo vỏ ngoài sẽ cứu rỗi con và đưa con về nhà.

Mục tiêu chính của Giê-su là phá tan hình ảnh Thượng đế bên ngoài này. Thày đến để giúp con người ngưng thờ phượng một thần tượng và khắc phục ảo tưởng tách biệt khỏi Thượng đế khiến họ nghĩ họ cần điều gì đó hay ai đó bên ngoài giúp họ kết nối lại với Thượng đế của họ và được cứu rỗi. Con nghĩ xem khi Giê-su nói vương quốc Thượng đế ở trong con thì ý nghĩa thật của câu này là gì? Câu này có nghĩa là con không cần một giáo hội bên ngoài để đạt tới vương quốc Thượng đế. Con không cần một giới giáo sĩ thượng tôn quyền lực tuyên bố con chỉ có thể được cứu rỗi bằng cách tuân thủ tất cả mọi mệnh lệnh của họ. Họ chính là những thày tế lễ đã chống đối mọi điều Giê-su làm và họ chính là những thày tế lễ, những nhà truyền giáo giả đã giết con trai thày và người anh tâm linh của con.

Trong mọi thời đại đều có một nhóm nhỏ thượng tôn quyền lực hoàn toàn tin chắc họ biết chân lý tuyệt đối về Thượng đế. Điều mà họ coi là chân lý tuyệt đối thật ra là một ảo tưởng về Thượng đế bên ngoài, một Thượng đế tách biệt khỏi tạo vật của ngài. Đây quả thực là vấn đề chính yếu mà con thấy trên hành tinh trái đất. Đây là khởi nguồn của khổ ải, đau đớn và hạn chế. Mọi hạn chế mà con người biết được bắt đầu với tư duy cho rằng con có thể phân chia tạo vật của Thượng đế ra thành nhiều bầu cõi tách biệt nhau và trong bầu cõi này, vũ trụ vật chất, không tìm thấy Thượng đế.

Chính tin tưởng này thực sự là cội rễ của mọi xấu ác vì nó cho phép những sinh thể tự nhận biết đã được thiết kế như người đồng-sáng tạo với Thượng đế bỏ qua bên bản sắc thật của họ và bắt đầu nghĩ họ có thể làm bất cứ gì họ muốn trong vũ trụ này mà không phải chịu hậu quả. Chính tâm thức tách biệt, tách biệt khỏi cái Tất cả của tạo vật Thượng đế và do đó tách biệt khỏi người khác đã đưa tới tình trạng con người bất nhân với con người. Chính tâm thức này đã cho phép con người dùng khả năng sáng tạo của họ, khả năng mà Thượng đế đã phú cho họ, để tạo ra một thế giới quan hoàn toàn dựa trên một ảo tưởng. Nhân loại như một tập thể đã dùng trí tưởng tượng và quyền tự quyết mà Thượng đế ban cho họ để sáng tạo ảo tưởng cho rằng thế giới vật chất dày đặc đến độ không thể tìm thấy Thượng đế nơi này. Nó cho phép một số người tin rằng quy luật của Thượng đế không áp dụng trong thế giới này và họ có thể tách mình ra khỏi luật lệ của Thượng đế và sáng tạo luật của chính họ – chính họ đã trở thành luật lệ của họ. Họ nghĩ họ đã sáng tạo chính thực tại của họ trong đó họ có thể quy định luật lệ sao cho có lợi cho họ, để họ có thể làm bất cứ gì họ muốn mà không phải chịu hậu quả, không gặt hái cái họ đã gieo.

Toàn bộ tư duy này che mờ thực tại của Thượng đế trong tầm nhìn của con người. Sự thực là Thượng đế không thể bị khinh dễ (Galatians 6:7) và quy luật của ngài không bị ảnh hưởng bởi niềm tin của người phàm. Trước đây không lâu Giáo hội Công giáo đề xướng niềm tin là trái đất là trung tâm vũ trụ và mọi vì sao trên trời xoay quanh trái đất. Như ngày nay con biết, đây không phải là sự thật và khi xưa nó cũng chẳng phải là sự thật khi mọi người đều tin như thế. Trái đất không bằng phẳng khi mọi người đều tin nó bằng phẳng. Lý do là niềm tin của con người không biến điều mình tin thành sự thật khi niềm tin đó mâu thuẫn với thực tại của Thượng đế. Một niềm tin có thể che mờ tạm thời thực tại của Thượng đế trong tâm những ai tôn thờ niềm tin đó như một sự thật, những người tôn thờ một hình tượng khô chết.

Sự thực là khi Thượng đế sáng tạo vũ trụ vật chất và sinh tạo những phần nối dài có tự nhận biết của chính ngài, là những sinh thể có tự nhận biết có trí tưởng tượng và quyền tự quyết, thì Thượng đế rõ biết là với trí tưởng tượng và quyền tự quyết vô hạn, con có thể dùng những khả năng này để gây tổn hại cho con và những thành phần khác của tạo vật của Thượng đế. Nhiều người hiện nay bị mắc kẹt trong một trạng thái tâm thức quá tập trung vào bản thân mình, vào cái mà họ coi là bản sắc của mình, đến độ họ thực sự không thể quan tâm đến bất kỳ phần nào khác của sự sống. Họ không chịu xét xem hành động của họ ảnh hưởng ra sao trên người khác. Khi con xem những tin tức xảy ra hôm nay thì con dễ tìm ra những ví dụ hành động ích kỷ tột độ, những người hành động như thể người khác không ra gì hay họ có thể làm bất cứ điều gì mà không phải chịu hậu quả vì họ có tiền bạc hay quyền lực. Khi Thượng đế tạo ra con, ngài không tạo ra chỉ mình con, ngài không tạo ra cả vũ trụ này để phục vụ lạc thú của riêng con. Thượng đế đã tạo ra rất nhiều sinh thể có tự nhận biết và tất cả đều được tạo ra từ chính Bản thể và chất liệu của Thượng đế. Tất cả đều thuộc vào điều mà trên thiên đàng các thày gọi là Thân thể Thượng đế.

“Thân thể Thượng đế” là một khái niệm con nên ghi nhớ vì con rõ biết là dù ngón chân út của con chỉ là một phần tương đối không đáng kể trong thân thể con, nếu ngón chân út đó bị thương, thì nó sẽ ảnh hưởng cảm giác thoải mái chung của con. Một cái đau nhói trong ngón chân út có thể khiến toàn thân con cảm thấy rất khó chịu và do đó khi con làm tổn thương người khác, điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng trải nghiệm sống của con. Khi Thượng đế sáng tạo vũ trụ này, ngài không sáng tạo nó cho riêng con. Ngài sáng tạo nó để tất cả con trai và con gái của ngài đều có cơ hội đồng đều học cách dùng khả năng sáng tạo của mình. Khi làm vậy, Thượng đế biết ngài phải xây dựng một cơ chế an toàn ngay trong thiết kế của vũ trụ. Nếu có vài con trai và con gái của ngài quên họ là một phần của Thân thể Thượng đế và bắt đầu hành xử như thể chỉ có họ là quan trọng thì số ít người này sẽ không thể tiêu diệt tất cả các anh chị em của họ hay tiêu hủy toàn bộ vũ trụ.

Nếu một xã hội không có luật lệ buộc mọi người phải chịu trách nhiệm về hành động của họ, thì xã hội đó sẽ suy đồi vì rơi vào tình trạng vô luật pháp và hỗn loạn. Những người hung hãn nhất, tàn nhẫn nhất và những người không coi trọng người khác sẽ được lợi thế quá đáng so với người lương thiện và yêu thương. Con cần tự hỏi thật nghiêm túc rằng con có tin Thượng đế đã thiết kế toàn bộ vũ trụ để người không yêu thương, bất lương và ích kỷ được lợi thế hay ngài đã thiết kế vũ trụ với một cơ chế an toàn trong đó để bảo đảm những người đã trở nên ích kỷ không thể phá hủy toàn thể vũ trụ và không thể tiêu diệt hay kiểm soát anh chị em của họ.

5.3. Ánh sáng Mẹ có khuynh hướng trở về trạng thái nền

Bây giờ con hãy cho thày giải thích một trong những cơ chế an toàn mà Thượng đế đã xây dựng bên trong thiết kế cơ bản của vũ trụ nơi con sống. Đấng Sáng tạo đã tạo ra vũ trụ của con là một lực lan ra, một Sinh thể lan tỏa. Chúng ta có thể gọi đây là khía cạnh Cha của Thượng đế. Nó là động lực trở nên hơn nữa, động lực tự vượt thăng vì nếu không có nó không vật gì được tạo ra từ cái Tất cả của Thượng đế – không hình tướng nào sẽ khởi lên từ Thượng đế vô hình tướng và tự đầy đủ. Đấng Sáng tạo của con, Thượng đế của con, là một ngọn lửa thiêu đốt tất cả những gì khác ngài trong một chu kỳ tự thăng vượt mãi mãi mở rộng. Lực lan ra không thể sáng tạo một hình tướng bền vững ngay cả trong một giây. Nếu vũ trụ chỉ có lực lan ra thì không gì bền vững được, mọi sự sẽ bùng nổ mà chẳng có hình tướng nào cả. Các nhà khoa học hiện nay ủng hộ thuyết Vụ nổ Lớn cho rằng vũ trụ bắt đầu với một vụ nổ vĩ đại. Nếu quả thực chỉ có lực lan ra của Cha thì vũ trụ sẽ là một vụ nổ liên tục mà không có hình tướng nào bền vững vì nó sẽ bị nổ tung ngay tức khắc bởi lực lan ra. Để sáng tạo ra hình tướng bền vững, Thượng đế phải sáng tạo một lực quân bằng lực lan ra của Cha. Lực này là lực co lại của Mẹ và chính lực này được hiện thực khi Thượng đế nói: “Ánh sáng hãy có mặt.” Ánh sáng là chất có thể nhào nắn thành hình tướng và một khi nó được nặn thành một hình tướng đặc thù, nó sẽ giữ hình tướng này trong một thời gian.

Ánh sáng là biểu hiện của lực co lại của Mẹ, và toàn bộ vũ trụ nơi con sống được sáng tạo qua tương tác hòa hợp và quân bằng giữa hai lực cơ bản này. Lực lan ra của Cha bổ túc lực co lại của Mẹ, lực lan ra của Cha tác động lên chất ánh sáng của Mẹ và khuấy động nó khỏi trạng thái nền để thành một hình tướng đặc thù. Khi chỉ có lực lan ra của Cha tác động lên Ánh sáng Mẹ, thì hình tướng do Cha trực tiếp sáng tạo được bền vững vô thời hạn. Khi Thượng đế sáng tạo những nối dài có tự nhận biết của ngài, ngài rõ biết những sinh thể này thiếu kinh nghiệm khi họ dùng uy lực sáng tạo của họ. Chuyện có thể xảy ra là họ dùng trí tưởng tượng để hình dung những hình tướng không ích lợi cho chính họ hay cho tổng thể. Ngài cũng biết là tuy có những người sáng tạo những hình tướng không toàn hảo mà không ý thức họ đang làm gì, nhưng cũng sẽ có những kẻ khác lạm dụng quyền tự quyết của họ để cố ý chống lại thiết kế của Thượng đế cho vũ trụ này. Thượng đế biết các con trai và con gái của ngài cần trải qua một giai đoạn học hỏi để mở rộng hiểu biết họ là ai và thế giới này vận hành thế nào. Sau khi học xong, họ có thể dùng khả năng sáng tạo để nhân tổng thể lên thay vì tiêu diệt tổng thể và chính họ.

Một lần nữa, Thượng đế muốn toàn bộ vũ trụ không phục vụ chỉ một cá nhân mà phục vụ toàn bộ Thân thể Thượng đế. Thượng đế phải bảo đảm một cá nhân không thể lạm dụng uy lực sáng tạo của y đến độ tiêu hủy vũ trụ hay một phần của nó, và do đó phá hủy môi trường tăng triển của các con trai và con gái khác của Thượng đế. Để đạt điều này, Thượng đế phú cho Ánh sáng Mẹ sự thông minh. Khuynh hướng tự nhiên của Ánh sáng Mẹ là luôn luôn ở trong trạng thái nền, là trạng thái không biểu hiện hình tướng nào. Ánh sáng Mẹ không thể tự thân sáng tạo. Nó cần lực của một sinh thể tự nhận biết tác động lên nó bằng cách điều khiển lực lan ra của Cha. Lúc đó Ánh sáng Mẹ khoác vào hình tướng nằm trong tâm sinh thể tự nhận biết, người đồng-sáng tạo. Đây là cơ chế an toàn bảo đảm không một cá nhân đồng- sáng tạo nào có thể lạm dụng khả năng sáng tạo của y đến độ tiêu hủy toàn bộ tạo vật của Thượng đế.

5.4. Quy luật cơ bản của cuộc sống là liên tục tự thăng vượt

Kế tiếp thày sẽ giảng cho con một nguyên lý vi tế mà trí năng con người sẽ cảm thấy khó lãnh hội. Nếu con nghĩ bằng trái tim và dùng trực giác, thì con sẽ hiểu được điều thày sẽ giảng bây giờ. Thày đã nói với con là Ánh sáng Mẹ có một lực sẵn có khiến nó duy trì được trạng thái nền trong đó ánh sáng hiện hữu nhưng không mang một hình tướng phân biệt; nó trong trạng thái không phân biệt. Cần gì để khiến Ánh sáng Mẹ mang một hình tướng? Cần một tâm có ý thức và có khả năng sáng tạo của Thượng đế, tức là trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Tâm ý thức này phải có khả năng tưởng tượng một hình tướng cho dù hình tướng đó chưa từng được biểu hiện. Tâm này phải có uy lực của ý chí để áp đặt hình tướng này lên Ánh Sáng Mẹ và qua đó khuấy động ánh sáng ra khỏi trạng thái nền của nó. Lúc đó Ánh Sáng Mẹ sẽ sinh ra một hình tướng biểu hiện, khác với trạng thái nền của nó.

Lúc ban đầu, chỉ Thượng đế Sáng tạo mới có uy lực sáng tạo này. Thượng đế dùng uy lực sáng tạo của ngài để hình dung một vũ trụ, một thế giới hình tướng sẽ trở thành môi trường tăng triển cho các con trai và con gái của ngài. Để sáng tạo bất cứ gì có hình tướng, Thượng đế phải chọn lựa. Thượng đế có thể tưởng tượng nhiều loại vũ trụ nhưng khi muốn biểu hiện một vũ trụ đặc thù, Thượng đế phải chọn thiết kế vũ trụ này như thế nào. Các nhà khoa học tiếp tục khám phá những khía cạnh mới của bản chất tinh tế của những lực giữ vũ trụ lại với nhau, và điều này cho con thấy Thượng đế đã lấy một số chọn lựa khi ngài thiết kế vũ trụ này. Nếu các lực này chỉ bị xáo trộn một chút thôi, toàn bộ vũ trụ có thể sụp đổ ngay tức khắc. Đấng Sáng tạo của con đã tạo ra vũ trụ này với tình thương vô điều kiện cho con và với mong muốn trong sáng tạo tác thế giới này như môi trường tốt nhất giúp con tăng triển. Thày biết là cuộc sống trên trái đất có thể rất khó khăn và đau đớn và nhiều người đã lớn lên với một nỗi giận Thượng đế, hoặc che giấu hoặc công nhận. Họ được dạy dỗ là Thượng đế ở bên ngoài họ, là vị Thượng đế giận dữ ở trên trời đã áp đặt một cách không công bằng ý chí của ngài trên họ và khiến họ đau khổ. Một số người đau khổ nhiều đến độ họ tới điểm giận Thượng đế đã khiến họ hiện hữu.

Thượng đế đã không tạo ra bất cứ bất toàn nào mà con thấy trên trái đất và chúng không thuộc vào thiết kế nguyên thủy của Thượng đế cho vũ trụ này. Lúc ban đầu, Thượng đế đã hình dung một vũ trụ trong đó tất cả con trai và con gái của ngài luôn luôn được dồi dào, sự dồi dào mà họ có thể gia tăng bằng uy lực sáng tạo của họ. Thượng đế không hề hình dung, cho dù chỉ một thoáng, điều kiện hiện hành trên trái đất. Nỗi khổ và nỗi đau mà con thấy toàn khắp hành tinh này giản dị vượt quá tưởng tượng của Thượng đế. Ngài không bao giờ mường tượng những điều kiện như thế sẽ hiện hữu trong thế giới của ngài bởi vì, như Kinh thánh nói, mắt ngài không thể nhìn vào điều tội lỗi bất công (Habakkuk 1:13). Tuy vậy ngài cũng biết khi cho các người đồng sáng tạo trí tưởng tượng và quyền tự quyết, họ quả thực có thể sáng tạo những điều kiện không thuận theo viễn quan của ngài.

Thày muốn con quán tưởng trong tim con chính thực tế là Thượng đế chỉ có những ý định tốt nhất và yêu thương nhất trong thiết kế của vũ trụ này. Ngài không thiết kế vũ trụ để nó đem lại khổ đau cho con, Ngài không thiết kế vũ trụ để khiến con cảm thấy mình là một tội đồ khốn khổ, ngài không thiết kế vũ trụ để con nghĩ con là một phàm nhân sinh diệt, sẽ đi xuống địa ngục trừ khi con tuân theo mệnh lệnh của một giáo hội vỏ ngoài hay một vị thần bên ngoài. Thượng đế đã thiết kế vũ trụ để phục vụ như môi trường tốt nhất cho sự mở rộng các khả năng sáng tạo của con, để con có thể tự thăng vượt và trở thành một sinh thể tự do như Thượng đế, có nhận biết đầy đủ con là ai và hành động của con ảnh hưởng thế nào tới tổng thể trong đó con là một thành phần. Con không tách biệt khỏi tổng thể đó, con là tổng thể nhưng là một biểu hiện đặc biệt của nó.

Khi Thượng đế thiết kế vũ trụ này, ngài lấy một số chọn lựa. Các chọn lựa này quy định những lực căn bản giữ vũ trụ này lại với nhau. Đằng sau những chọn lựa này là một số nguyên lý sáng tạo, và nguyên lý cơ bản nhất còn không do đấng Sáng tạo quy định. Nó là nguyên lý có sẵn trong chính sự sáng tạo bởi vì mọi tạo vật, mọi hình tướng biểu hiện phát xuất từ động lực muốn hơn nữa. Nguyên lý hoàn vũ của mọi sáng tạo là sáng tạo không bao giờ ngừng, nó là một tiến trình cứ tiếp diễn mãi mãi. Quy luật cơ bản của sáng tạo, quy luật cơ bản của cuộc sống là con không thể đứng yên, hình tướng không bao giờ có thể trường tồn và mọi sinh thể tự nhận biết phải liên tục tự thăng vượt và trở nên hơn nữa bằng cách mở rộng nhận biết về quyền năng sáng tạo của mình, về bản sắc thật của mình và mình là một với toàn thể tạo vật của Thượng đế.

Đây là động lực đằng sau mọi sáng tạo, không có nó thì không gì được sáng tạo. Cho dù con đã được phú cho trí tưởng tượng và quyền tự quyết vô hạn, con không thể dùng các khả năng sáng tạo này để tạo ra một ý niệm bản sắc đặc thù và mãi mãi ở trong ý niệm bản sắc đó. Thượng đế đã cho con quyền tự quyết nên Thượng đế cho con quyền sáng tạo ý niệm bản sắc là người tội đồ khốn khổ, sống trên một hành tinh đầy khổ đau và con sẽ xuống địa ngục trừ khi con tin vào những mệnh lệnh của một giáo hội vỏ ngoài do những tội đồ khốn khổ khác dựng lên. Năng lực của sự sống đòi hỏi con không thể ở lại trong ý niệm bản sắc giới hạn này mãi mãi. Nếu con cố gắng ôm chặt ý niệm bản sắc giới hạn này, thì lúc đó lực co lại của Mẹ sẽ vận hành như một cơ chế an toàn để phá vỡ tạo vật hạn chế mất quân bằng của con, như nó đã phá hủy Tháp Babel (Genesis 11:4). Điều này sẽ xảy ra vì khi con sáng tạo một ý niệm bản sắc giới hạn, lực co lại sẽ ngay lập tức bắt đầu phân hủy bản sắc này và ngay cả những hình tướng vật lý phát xuất từ ý niệm bản sắc này. Sau một thời gian, lực co lại của Mẹ sẽ nhất định thắng và ý niệm bản sắc của con sẽ bị thách thức. Lúc ấy con sẽ bị ép phải đối diện chọn lựa được mô tả trong Thánh kinh: “Ngày hôm nay, con hãy chọn con muốn phục vụ ai” (Joshua 24:15). Câu hỏi là: “Con sẽ chọn phục vụ sự sống, có nghĩa là tăng triển, hay con chọn phục vụ sự chết, nghĩa là đứng yên rốt cuộc sẽ dẫn con tới tự hủy diệt?” Chọn lựa cơ bản của con là tự thăng vượt hay tự hủy diệt. Đó là lý do tại sao Moses nói: “Hãy chọn sự sống” (Deuteronomy 30:19). Con hãy chọn tăng triển và mở rộng ý niệm bản sắc giới hạn của con.

5.5. Sáng tạo thuận theo quy luật Thượng đế sẽ đem lại sự dồi dào bền vững

Thày biết các giáo lý này có vẻ trừu tượng nên thày muốn tìm cách trình bày thiết thực hơn bằng cách so sánh với một kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày của con. Con biết rõ là khi các kỹ sư thiết kế chiếc xe của con thì họ sử dụng một số quy luật thiên nhiên, một số nguyên tắc thiết kế. Để thiết kế một chiếc xe có khả năng làm những gì con muốn nó làm, thì họ phải tuân theo một số quy luật. Hậu quả là nếu con muốn chiếc xe tiếp tục hoạt động bình thường, thì con phải tuân theo một số thủ tục bảo trì. Xe con chạy được vì bộ máy được làm bằng một số bộ phận kim loại có thể chịu áp suất cao do khí xăng nổ trong xi lanh tạo ra. Các bộ phận kim loại này sẽ hao mòn và đóng bẩn nếu chúng không được bảo vệ bởi một màng dầu. Với thời gian dầu sẽ hao mòn và đóng bẩn cho nên con phải thay dầu đều đặn. Nếu con mua một chiếc xe mới và không bao giờ thay dầu thì một ngày kia máy xe sẽ giản dị ngừng chạy. Con không thể đổ lỗi cho các kỹ sư thiết kế xe vì họ giản dị thiết kế xe theo quy luật thiên nhiên. Hậu quả không tránh được là con phải thay dầu để bảo đảm máy xe chạy tốt. Con thay dầu xe đều đặn mà không cảm thấy việc này hạn chế quyền tự do cơ bản dùng xe của con.

Các nguyên tắc cơ bản mà đấng Sáng tạo của con dùng không hạn chế tự do sáng tạo và quyền năng sáng tạo của con. Chiếc xe của con được thiết kế để cho con tự do di chuyển tối đa và con có thể đi bất cứ nơi đâu con muốn. Khi con tuân theo một số nguyên tắc bảo trì giản dị, thì chiếc xe của con sẽ tiếp tục lâu dài cho con tự do này. Nếu con cố ý hay vô tình quên đi các nguyên tắc này, xe con sẽ không chạy và con sẽ mất tự do di chuyển mà xe cống hiến. Giống vậy, vũ trụ nơi con sống vận hành theo một số nguyên lý. Khi con tuân thủ những nguyên lý này, khi con sử dụng quyền năng đồng-sáng tạo của con trong phạm vi các thông số mà Thượng đế đã dùng để thiết kế vũ trụ, thì con có thể tiếp tục đồng-sáng tạo thêm sự dồi dào cho con. Nếu con đi ngược lại những nguyên tắc mà đấng Sáng tạo đã dùng để thiết kế vũ trụ, thì con sẽ dần dần tạo vấn đề cho mình, con sẽ tạo hậu quả hạn chế quyền năng sáng tạo của mình.

Đây đích thực là lời giải thích cho các loại khổ đau và hạn chế mà con thấy đầy rẫy trên trái đất. Khổ đau này không phải là sự trả thù của một Thượng đế giận dữ trên trời. Nó là hậu quả tự nhiên của việc hầu hết con người trên trái đất đã lạm dụng quyền năng sáng tạo của họ. Họ đã dùng trí tưởng tượng của họ để xây dựng một hình ảnh giả nói rằng trái đất này là một thế giới hạn chế không thể cung cấp đủ dồi dào cho tất cả mọi người. Họ đã dùng ý chí của họ để chấp nhận hình ảnh này như một chân lý khả dĩ duy nhất. Họ chấp nhận là giới hạn, đau đớn và khổ đau thực sự không thể tránh và họ không thể làm gì để khắc phục chúng.

Nếu con thực sự muốn có cuộc sống dồi dào, con cần áp dụng phương cách đúng để được dồi dào. Con không thể thụ động và nói con là nạn nhân, một nạn nhân bất lực trước những lực vượt quá tầm kiểm soát của mình. Con không thể áp dụng phương pháp chờ Thượng đế ở trên trời ban cho con dồi dào hay tin rằng dồi dào tùy thuộc những người khác trong thế giới này. Con cần nhận ra rằng nếu con muốn dồi dào, con cần biểu hiện nó bằng cách sử dụng quyền năng sáng tạo mà Thượng đế đã ban cho con. Cốt lõi của quyền năng này là trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con. Con cần khiến con người mình, hiểu biết và chọn lựa của mình thẳng hàng với những nguyên lý cơ bản mà Thượng đế đã dùng để sáng tạo ra vũ trụ này. Khi con biết những nguyên tắc này, con có thể dùng trí tưởng tượng của con trong phạm vi các thông số quy luật của Thượng đế. Khi làm thế, con đem lại dồi dào cho cuộc sống của con một cách bền vững, và thậm chí có thể gia tốc mãi mãi.

Đấng Cha rất hoan hỷ ban vương quốc cho các con và ngài đã thiết kế vũ trụ này để tất cả con trai và con gái của ngài được đời sống dồi dào. Nghĩa là họ không bị hạn chế bởi một lượng dồi dào nào đó mà dồi dào tăng trưởng liên tục. Khi mỗi người tăng trưởng dồi dào cá nhân của mình, dồi dào của tổng thể cũng tăng trưởng. Khi mỗi người liên tục tăng trưởng dồi dào của mình, không có mâu thuẫn hay xung đột giữa cá nhân và tổng thể.

5.6. Con có dồi dào khi đứng thẳng hàng với Hiện diện TA LÀ

Thiết kế cốt yếu của vũ trụ của Thượng đế đã tạo ra một tình trạng sống rất đặc biệt. Mọi sinh thể mà Thượng đế tạo tác được tạo ra từ Hiện diện của đấng Sáng tạo. Họ đều là các nối dài của Thượng đế, các cá thể hóa của Thượng đế, con trai và con gái của Thượng đế. Những người con thấy trên trái đất đều là nối dài của cùng một Thượng đế và do đó tất cả đều là một phần của tổng thể của Thượng đế, tức là Thân thể Thượng đế. Trong thiết kế ban đầu của Thượng đế và viễn quan của ngài về vũ trụ này, tất cả con trai và con gái của ngài đều biết trong nội tâm họ những nguyên lý sáng tạo mà Thượng đế đã dùng để thiết kế vũ trụ này. Thánh kinh giảng điều này khi nói là Thượng đế đã đặt luật lệ của ngài trong nội tạng của con (Jeremiah 31:33). Thượng đế đã ghi mã các nguyên lý sáng tạo vào chính bản chất của bản thể con, bản chất của cái ta tâm linh của con. Khi con tiếp xúc với Hiện diện TA LÀ của con, thì con biết qua bản năng và trực giác cách biểu hiện trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con một cách thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế. Khi đó, hành động của con không những lợi lạc cho con mà cũng lợi lạc cho những thành phần khác của cuộc sống. Khi con khuếch đại sự dồi dào của cá nhân con, con khuếch đại sự dồi dào của tổng thể.

Con sống trong vũ trụ này nhưng con không sống một mình, con không phải là người duy nhất trên trái đất này. Điều con thấy trên trái đất ngày nay là những xung đột mãnh liệt giữa cá nhân và giữa các nhóm người. Đây không phải là viễn quan và thiết kế nguyên thủy của Thượng đế. Trong viễn quan của Thượng đế không có xung đột giữa cá nhân hay giữa các nhóm người vì không có tách biệt giữa cá nhân và tổng thể. Trạng thái thơ ngây này, trạng thái hồng ân này, trạng thái thiên đường này chỉ có thể duy trì khi những cá nhân sử dụng quyền năng sáng tạo của họ trong khuôn khổ những nguyên lý mà đấng Sáng tạo đã quy định. Khi đủ số lượng tới hạn con người trên trái đất dùng khả năng sáng tạo của mình thuận theo quy luật của Thượng đế, thì nhiều dồi dào hơn sẽ được đem tới thế giới này và do đó nhân loại sẽ càng ngày càng tăng trưởng sự dồi dào của họ. Khi làm vậy thì không có xung đột giữa cá nhân và tổng thể vì mọi người luôn luôn nhận nhiều dồi dào hơn và không có cảm nhận thiếu thốn. Khi không còn cảm nhận chỉ có một số lượng của cải hữu hạn, thì không còn nhu cầu lấy từ người khác. Tại sao phải lấy từ người khác khi con nhận trực tiếp từ Thượng đế mà không cần điều kiện nào?

Như một thử nghiệm suy nghĩ con hãy xem mình là chủ nhân cây đèn thần được nói đến trong rất nhiều truyện thần thoại. Con hãy xem mình không cần bất cứ gì từ bên ngoài để biểu hiện bất cứ gì mình muốn. Con chỉ giản dị chà vào cây đèn và khi ông thần nhảy ra từ cái bình, con cho ông biết ý muốn của mình và ông biểu hiện nó ngay tức khắc cho con. Nếu con đã có cây đèn thần, thì có bao giờ con nghĩ tới chuyện dùng sức mạnh, lừa dối hay phương tiện khác để lấy từ người khác chăng? Nếu con biết ông thần sẽ cho con bất cứ gì con muốn mà chỉ cần hỏi, thì tại sao con phải chịu nguy hiểm hay khổ nhọc lấy từ người khác chứ? Tại sao con phải tìm cách bám giữ và tích trữ những gì con có? Lẽ tất nhiên con sẽ không bao giờ làm thế; con chỉ đơn giản sử dụng cây đèn thần của con để được điều con mong muốn. Bây giờ con tưởng tượng tất cả hàng xóm của con ai cũng có cây đèn thần của riêng họ. Sẽ có xung đột nào trong cộng đồng chăng? Có ai cần bóc lột người khác chăng? Có ai cần ăn trộm của người khác chăng? Lẽ tất nhiên là không! Mọi người sẽ chỉ đơn giản chà cây đèn của mình và biểu hiện điều họ mong muốn.

Con quả thực có một cây đèn thần, nhưng ông thần trong chiếc bình không phải là một thực thể bên ngoài. Ông thần trong chiếc bình chính là cái ta tâm linh của con, Hiện diện TA LÀ của con. Qua cái ta cao này, đấng Cha, đấng Sáng tạo của con sẽ biểu hiện ý muốn cho con vương quốc của ngài. Hiện diện TA LÀ của con là kho chứa các quy luật của Thượng đế, nó là nơi Thượng đế ký thác luật lệ của ngài trong nội tạng của con. Khi con, nghĩa là cái ta ý thức của con khiến những mong muốn, trí tưởng tượng và quyền tự quyết của con thẳng hàng với Hiện diện TA LÀ của con (Hiện diện không phải là một thực thể bên ngoài nhưng là con người thật của con), sự dồi dào của Thượng đế sẽ được biểu hiện trong cuộc sống của con xuyên qua Hiện diện TA LÀ của con. Con sẽ không cần lấy từ người khác hay từ Mẹ Thiên nhiên, con sẽ không cần dùng sức mạnh để có thể có dồi dào của Thượng đế. Nó sẽ xảy ra nhẹ nhàng và từ bên trong.

Qua những điều trên thày không muốn nói là con không có nhu cầu tương tác với người khác. Thực tình ý muốn của Thượng đế là con người hợp tác với nhau để sáng tạo sự dồi dào. Khi mọi người làm việc với nhau, quyền năng sáng tạo của họ nhân lên lẫn nhau và khi làm việc hợp nhất họ hoàn thành nhiều hơn là khi mỗi người làm việc đơn độc. Thày không vẽ ra hình ảnh một xã hội trong đó mỗi người là một cá nhân cô lập sáng tạo chính sự dồi dào của mình mà không tương tác với người khác. Thày vẽ hình ảnh một xã hội trong đó mọi người đều thẳng hàng với các nguyên tắc sáng tạo mà Thượng đế dùng. Họ có thể góp chung uy lực sáng tạo của họ để đem lại dồi dào nhiều chưa từng thấy trên trái đất, dồi dào nhiều hơn những gì mà hầu hết mọi người trong trạng thái tâm thức hiện nay có thể tưởng tượng được.

Sự dồi dào này là tiềm năng thật của trái đất. Thượng đế không có đặt giới hạn nào vào thiết kế cơ bản của hành tinh này. Giới hạn duy nhất là những giới hạn nằm trong tâm những người đồng-sáng tạo với Thượng đế, là những sinh thể tự nhận biết mà Thượng đế cho phép ngự trị trái đất. Thượng đế đã cho con quyền đồng-sáng tạo hành tinh này theo ý con. Thượng đế đã cho con quyền sáng tạo trạng thái giới hạn và đau khổ, bóc lột, xung đột và chiến tranh hiện nay. Nếu quả thực đây là kinh nghiệm con người muốn có thì Thượng đế cho phép họ sáng tạo trải nghiệm này, ít nhất trong một thời gian. Thiết kế cơ bản của vũ trụ quy định con không thể duy trì vô thời hạn một trạng thái giới hạn. Khi con sáng tạo trạng thái giới hạn này, con kích hoạt lực co lại của Mẹ và lực này sẽ dần dần phân hủy các giới hạn mà con đã tạo ra. Trên thực tế, đây là một cơ chế an toàn để con, một sinh thể tâm linh vô hạn với tiềm năng vô hạn, không thể mãi mãi bị mắc kẹt trong một trạng thái hạn chế.

5.7. Tác dụng của lực lan ra và lực co lại

Khi con sáng tạo điều gì thẳng hàng với các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, thì tạo vật của con được bền vững. Cái gì thẳng hàng với quy luật của Thượng đế không có sẵn trong nó những lực mâu thuẫn phân hủy nó. Khi con sáng tạo điều gì ngoài quy luật của Thượng đế, con sẽ có những mâu thuẫn có sẵn bên trong, con sẽ có những lực đối chọi đưa tới xung đột. Khi một số người lạm dụng uy lực sáng tạo của họ để đi ngược lại quy luật của Thượng đế, con sẽ thấy xung đột bộc phát trong xã hội. Bỗng nhiên con thấy những nhóm người họp nhau thành phe phái và họ quy định những bản sắc đối chọi nhau. Đó là lý do tại sao con thấy tình trạng đáng buồn của hai nhóm người có thể giết nhau nhân danh cùng một Thượng đế.

Các nhà khoa học của con đã khám phá nguyên lý này và gọi nó là quy luật thứ nhì của nhiệt động học, nói rằng trong một hệ thống đóng kín sự hỗn loạn (entrôpi) sẽ gia tăng. Entrôpi nghĩa là vô trật tự và các nhà khoa học khám phá rằng trong thiên nhiên có một lực sẽ đưa mọi cấu trúc, mọi hình tướng có tổ chức trở về trạng thái năng lượng thấp nhất mà nó có thể có. Có nghĩa là mọi cấu trúc bị phân hủy thành trống không, thành hạt hạ nguyên tử. Đây là khám phá khoa học về nguyên lý cơ bản có sẵn trong Ánh sáng Mẹ, như thày đã nói trong phần trước, chính là Ánh sáng Mẹ có một lực nội tại tìm cách đem mọi hình tướng trở về trạng thái nền của nó. Các nhà khoa học của con không hiểu trọn vẹn quy luật này vì họ vẫn còn tập trung quá mức vào khía cạnh vật chất của đời sống. Rất đúng là Ánh sáng Mẹ sẽ tìm cách đưa mọi hình tướng trở về trạng thái nền của nó, nhưng lực co lại của Mẹ không làm việc một mình. Khi lực lan ra của Cha đứng vào đúng cương vị của nó như người gia trưởng theo nghĩa tâm linh thì tạo vật sẽ không bị phân hủy bởi lực co lại của Mẹ. Một hình tướng đặc thù có thể hiện hữu vô hạn định, điều này không có nghĩa là vĩnh viễn.

Nếu con sáng tạo điều gì đó không thẳng hàng với quy luật của Thượng đế, thì hình tướng mà con sáng tạo sẽ dần dần bị phân hủy bởi lực co lại của Mẹ. Nếu vật con sáng tạo hoàn toàn hài hòa với các nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, hình tướng của con sẽ không bị phân hủy; nó sẽ bền vững và sẽ hiện hữu vô tận trong thời gian. Thày không nói nó sẽ hiện hữu vĩnh viễn vì lực lan ra của Cha quy định là mọi hình tướng phải tự vượt thăng và trở nên hơn nữa.

Có sự khác biệt lớn lao giữa sáng tạo một hình tướng bất quân bình sẽ bị phân hủy thành trống không và sáng tạo một hình tướng quân bình sẽ khuếch trương và trở nên hơn nữa. Khi con sáng tạo hình tướng không toàn hảo, thì con đang tham gia một trận chiến khó như leo dốc núi và đây là điều dẫn tới cảm nhận thiếu thốn, vật vã và khổ đau. Con lúc nào cũng như cảm thấy mình bị chậm trễ, cảm thấy mình không bao giờ có đủ và tất cả các lực trong thế gian này hè nhau lấy đi những sở hữu của con. Ngược lại, khi con hòa hợp với Thượng đế, con sẽ không bao giờ mất cái con có, con sẽ dùng nó làm nền tảng để xây đắp thêm dồi dào.

Đây là nguyên lý mà Giê-su minh họa trong ngụ ngôn về tiền ta lăng (Matthew 25:14). Khi Thượng đế thiết kế hành tinh trái đất, ngài xây dựng nền móng. Xây dựng tòa lâu đài tùy thuộc vào con người, như trong chuyện ngụ ngôn vai trò người đầy tớ là nhân lên các tiền ta lăng mà ông chủ phó thác. Tiền ta lăng mà Thượng đế ban cho con người là uy lực sáng tạo, trí tưởng tượng và quyền tự quyết. Nếu con chôn những tiền ta lăng này xuống dưới đất bằng cách đi ngược lại nguyên lý sáng tạo của Thượng đế, lực co lại sẽ rốt cuộc phân hủy ngay cả nền móng mà Thượng đế đã xây dựng. Một hành tinh có thể trở nên khô cằn đến độ không thể nuôi dưỡng sự sống. Loài người, qua ô nhiễm hay chiến tranh nguyên tử có thể tiêu diệt toàn sự sống trên hành tinh này và biến nó thành một hành tinh xác xơ. Khi con người nhân tiền ta lăng của mình lên, thì họ sẽ duy trì nền móng do Thượng đế xây dựng. Họ có thể xây dựng thêm trên đó và đem lại dồi dào nhiều hơn những gì Thượng đế đã xây dựng. Đây là ý muốn thực của Thượng đế.

Thượng đế không muốn con chôn vùi tiền ta lăng của con xuống dưới đất; ngài muốn con dùng các tiền ta lăng này để khuếch trương cuộc sống của con và do đó khuếch trương cuộc sống của tất cả mọi người trên hành tinh này, sau cùng dẫn tới khuếch trương đấng Sáng tạo của con. Suy cho cùng, đấng Sáng tạo của con đã gài một phần của chính ngài trong con cho nên khi con khuếch trương phần này, con khuếch trương tất cả, con khuếch trương đấng Sáng tạo. Khi con trở nên hơn nữa, Thượng đế trở nên hơn nữa xuyên qua con và đây là động lực đằng sau mọi sáng tạo.

Có sự khác biệt giữa cái thẳng hàng với nguyên lý sáng tạo của Thượng đế và cái không thẳng hàng với các nguyên lý này. Luật của Thượng đế nói rằng không gì có thể y như cũ. Mọi sự đều phải đi theo một trong hai hướng sau:

  • Nó phải gia tốc nghĩa là nó tự thăng vượt xuyên qua lực lan ra, hoặc
  • Nó phải chậm lại nghĩa là nó tự tiêu hủy xuyên qua lực co lại

Thày hy vọng là giờ đây con đã thấy ra nhu cầu đặt mình thẳng hàng với nguyên lý tăng triển không ngừng để con có thể sử dụng uy lực sáng tạo của con trong khuôn khổ an toàn của các quy luật Thượng đế. Thày hy vọng con có thể thấy lợi điểm của sáng tạo cái gì bền vững có thể tiếp tục tăng triển và cho con thêm dồi dào và cũng đem thêm dồi dào đến tất cả mọi người khác trên hành tinh này. Nếu con thấy tầm quan trọng của điều này và con sẵn sàng hòa hợp với Thượng đế thì chương kế tiếp sẽ chỉ cho con làm sao bắt đầu tiến trình này, hành trình trở về trái tim của đấng Sáng tạo của con, hành trình trở về hợp nhất với nguồn cội của con.

1 | Vì sao con chưa được dồi dào rồi

Bài truyền đọc của Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary, qua trung gian Kim Michaels. Đăng ngày 4/4/2005.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng kiểm điểm lại thực tại. Chúng ta hãy xem xét câu nói: “Đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc”. Dù con có thể đã nghe câu nói này nhiều lần, nhưng con đã bỏ ra thì giờ để suy ngẫm xem câu này thực sự nghĩa gì chăng? Thật sự chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Đó là Đấng Cha hoan hỷ cho con vương quốc, và như vậy chỉ có thể có nghĩa là Thượng đế thực sự muốn con được vương quốc của Ngài. Thượng đế thực sự muốn con được cuộc sống dồi dào. Ngài hoan hỷ cho con sự dồi dào đó.

Nếu con nhìn cuộc đời mình và thấy là con chưa được sự dồi dào, thì con phải lý luận là có cái gì đó đã không xảy ra suôn sẻ. Có cái gì đó đang ngăn trở con có cuộc sống dồi dào mà Thượng đế muốn con có. Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng nhau lý luận xem cái gì đã có thể ngăn trở con có cuộc sống dồi dào – nếu quả thật ước muốn và ý chí của Thượng đế là con có được sự dồi dào đó. Chuyện trục trặc gì đã xảy ra? Cái gì đã ngăn trở con có được điều mà Thượng đế muốn con có? Cái gì đã ngăn trở ý chí của Thượng đế thể hiện trên trái đất này?

1.1. Vì sao con người không có cuộc sống dồi dào vô ưu

Chúng ta hãy xem xét tình trạng trái đất. Thiên nhiên trên hành tinh này có rất nhiều vẻ đẹp tuyệt vời. Các khoa học gia mỗi ngày lại khám phá thêm là thế giới này được thiết kế thật công phu, phức tạp và kỳ diệu. Có rất nhiều hệ thống phức tạp chằng chéo lẫn nhau trên trái đất đến độ ngay cả các khoa học gia duy vật nhất không thể tránh thỉnh thoảng cảm thấy kinh ngạc và nể sợ trước vẻ đẹp, sự tinh xảo và cân xứng mà họ khám phá trong thiên nhiên. Nếu con là một người có ý hướng tâm linh, thì con sẽ đồng ý với thày khi thày nói là sự tinh xảo này tất nhiên phải do một tâm thức thiết kế, mà tâm thức này có khả năng, trí tưởng tượng và suy luận rất cao. Điều con thấy trong thiên nhiên là Thượng đế quả thực đã thiết kế một tạo vật rất đẹp và kỳ diệu, trong đó có nhiều sự dồi dào.

Nhưng khi con nhìn vào lãnh vực con người thì con thấy một hình ảnh khác. Tuy thân thể con người là tạo vật phức tạp nhất trong tất cả các tạo vật của Thượng đế, con người dường như không tìm được cách sử dụng thân thể mà không tiêu hủy chính mình, tiêu hủy người khác và tiêu hủy thiên nhiên. Trong khi trong thiên nhiên con thường thấy sự dồi dào và cân bằng, thì trong xã hội loài người con không thể thấy sự dồi dào và cân bằng đó. Con hãy nghĩ tới lời của Giê-su khi thày nói là con có giá trị cao hơn chim sẻ (Matthew 10:31). Nếu Thượng đế có khả năng chu toàn và nuôi sống loài chim, thì Thượng đế chắc hẳn phải có khả năng cho con mọi sự con cần. Nhiều người trên trái đất nhìn loài chim một cách thèm thuồng, vì chim được tự do bay đến những nơi chúng thích và chúng lúc nào cũng có vẻ tìm được lương thực như đợi chúng tới lấy. Nhiều người thì trái lại bị kẹt trong một số cảnh ngộ và không thể cục cựa. Họ phải vật lộn suốt cuộc đời để kiếm sống và nuôi chính họ và con cái. Nhiều người mơ ước có được cuộc sống vô ưu của loài chim và nghĩ rằng cuộc đời của họ trái lại là một chuỗi dài vật lộn.

Khi con nhìn vẻ đẹp và sự dồi dào mà Thượng đế đã xây dựng trong thiên nhiên, có hợp lý chăng là Thượng đế không có khả năng thiết kế một hành tinh có thể nuôi dưỡng con người với cùng sự dồi dào và vô ưu mà con thấy nơi loài chim? Có lý do nào khiến Thượng đế không thể thiết kế một hành tinh có thể cung cấp cho con đời sống tự do và vô ưu mà con có thể thấy nơi nhiều sinh vật có trí thông minh thấp hơn con người rất nhiều, và như Giê-su đã nói, có giá trị thấp hơn con người rất nhiều?

Khi con dùng lý luận để suy nghĩ một cách lô gic về vấn đề này thì con chỉ có thể có một số ít chọn lựa. Con không thể chối cãi thực tại là con người không có đời sống dồi dào. Khi con suy ngẫm quan niệm Thượng đế hoan hỷ cho con vương quốc, thì con phải kết luận là nếu Thượng đế muốn con người được cuộc sống dồi dào, thì nhất định có cái gì đó không suôn sẻ về phía Thượng đế hoặc về phía con.

Một lối suy luận là cho rằng dường như Thượng đế có khả năng tạo tác một hành tinh kỳ diệu và tinh xảo có thể cung cấp nếp sống dồi dào và vô ưu cho loài chim và các sinh thể không thông minh bằng con người, nhưng vì lý do nào đó Thượng đế lại không kiến tạo được một hành tinh có thể cho loài người cùng sự dồi dào và tự do khỏi ưu phiền, thiếu thốn và đau khổ đó. Con có thể suy luận là khả năng thiết kế của Thượng đế không biết vì sao bị sơ sót, và trong lãnh vực con người, Ngài đã lầm lẫn. Quả thật là đã có nhiều người suy luận như vậy. Một số là tín đồ các tôn giáo, và vì họ được dạy dỗ là họ sẽ xuống đia ngục nếu họ phỉ báng Thượng đế, nên họ mau chóng xua các ý nghĩ này qua một bên. Một số khác chịu nhìn nhận là họ có những ý nghĩ này, và thậm chí một số đã dùng đó như một lý do để chối bỏ tất cả mọi tôn giáo hay khái niệm có Thượng đế.

Nếu con có khuynh hướng nghĩ như vậy thì thày chỉ xin con làm một chuyện. Hôm nào có một đêm trời không mây nơi chỗ con ở, con hãy bước ra ngoài và nhìn lên bầu trời đêm. Con hãy nhìn lên giải Ngân hà và suy ngẫm xem trong đó có bao nhiêu vì sao. Con không cần tham khảo một sách khoa học cho con biết là các nhà khoa học đã ước tính có bao nhiêu tỷ vì sao có mặt trong đó. Con chỉ cần nhìn với mắt mình và thấy là có nhiều vì sao hơn những gì con có thể đếm. Sau đó, con hãy tự hỏi: “Nếu Thượng đế có khả năng tạo tác một vũ trụ bao la và phức tạp đến như vậy thì có lý chăng là trên hành tinh nhỏ bé mà chúng ta gọi là địa cầu này, Thượng đế đã không cung cấp được cuộc sống dồi dào và vô ưu cho sinh vật cao nhất trên hành tinh này?”

Con tim yêu dấu của thày, nếu con chiêm nghiệm điều này thì thày nghĩ con sẽ nhận ra chân lý tuyệt đối là Thượng đế hoàn toàn có khả năng thiết kế hành tinh địa cầu để tất cả mọi người trên hành tinh được vui hưởng một cuộc sống dồi dào và vô ưu như loài chim. Sự kiện đa số con người không có được nếp sống đó không vì một vấn đề đến từ phía Thượng đế. Như vậy chỉ còn lại một kết luận hợp lý duy nhất. Tình trạng thiếu thốn và nghèo đói trên trái đất bắt buộc phải do một vấn đề đến từ phía con. Một chuyện gì đó xảy ra trên trái đất đã ngăn chặn ý muốn của Thượng đế được thể hiện nơi đây. Một chuyện gì đó đã xảy ra khiến thiết kế nguyên thủy của Thượng đế bị thay đổi, dẫn tới sự kiện sinh vật cao nhất và phức tạp nhất thường khi có nếp sống không dồi dào bằng nhiều sinh vật khác có trình độ thông mình thấp hơn rất nhiều.

1.2. Con người có khả năng thay đổi môi trường

Con có thể thấy có lý do khiến con muốn chất vấn hình ảnh về Thượng đế mà xã hội đã cho con từ thuở thơ ấu. Con có thể tự hỏi những câu hỏi sau đây:

  • Nếu Thượng đế quả thật toàn năng và không thể lầm lẫn như nhiều tôn giáo mô tả, và nếu quả thật Thượng đế muốn con người được cuộc sống dồi dào, vậy có thể nào ước muốn của Thượng đế lại không được thể hiện trên trái đất?
  • Điều gì có thể ngăn cản ước muốn của một Thượng đế toàn năng không được thể hiện?
  • Nếu Thượng đế hoan hỷ cho con người vương quốc, vậy tại sao con người lại không có được vương quốc đó?

Giờ đây thì con tới một kết luận thuận lý khác. Hoặc có gì trục trặc từ phía Thượng đế hoặc có gì trục trặc từ phía con. Hoặc Thượng đế sai lầm hoặc hình ảnh mà nhiều người trên trái đất có về Thượng đế sai lầm. Một lần nữa, nếu Thượng đế có khả năng tạo tác một vũ trụ bao la và tinh xảo như vậy, thì có thể nào chăng là Ngài không thông minh? Kết luận hợp lý là phải có gì trục trặc với hình ảnh mà một số tôn giáo trên trái đất đã vẽ lên về Thượng đế. Kết luận này dẫn chúng ta tới một lãnh vực thảo luận hữu ích vì chúng ta có thể bắt đầu xem xét cái gì thiếu thốn nơi hình ảnh về Thượng đế mà con đã chấp nhận.

Chúng ta đã thấy là Thượng đế hoàn toàn có khả năng thiết kế một vũ trụ rất bao la và phức tạp. Chúng ta đã suy luận là một Thượng đế có khả năng tạo tác một vũ trụ kỳ diệu như vậy phải hoàn toàn có khả năng tạo tác một hành tinh nhỏ bé có thể cung cấp đời sống dồi dào và vô ưu cho mọi con người sống trên hành tinh đó. Tuy Thượng đế có khả năng và ý muốn, nhưng thực tại hiện nay trên trái đất không phản ánh khả năng và ý muốn của Thượng đế. Chuyện gì đó dã xen vào giữa bản thiết kế về trái đất mà Thượng đế giữ trong tâm Ngài và thực tại hiện đang trải bày trên hành tinh này. Điều gì có thể ngăn cản ý muốn của một Thượng đế toàn năng được thể hiện? Điều thuận lý là không có gì có thể ngăn cản ý muốn của Thượng đế được thành tựu. Kết luận duy nhất là hoặc Thượng đế không toàn năng, hoặc Ngài đã chọn xếp qua bên, ít nhất là tạm thời, những quyền năng vô hạn của Ngài trên trái đất.

Kết luận này dẫn ta tới ý tưởng là có thể Thượng đế đã cho con người quyền cai quản trái đất, như Thánh Kinh đã xác quyết rõ ràng (Genesis 1:26). Khi Thượng đế nói con người hãy cai quản trái đất, thì câu này có nghĩa gì? Phải chăng điều hợp lý là chúng ta giả sử Thượng đế đã cho con người khả năng không chỉ giản dị sống trên hành tinh này và thích nghi với hoàn cảnh thiên nhiên như con thấy với các loài thú? Thượng đế đã cho con người khả năng không chỉ giản dị thích nghi với môi trường mà cai quản môi trường đó, và thay đổi môi trường một cách tích cực và có ý thức để đáp ứng nhu cầu của mình. Con người có khả năng chọn lựa cách họ sống. Con người không chỉ giản dị là nô lệ của môi trường, hoặc thích nghi hoặc diệt vong.

Tất cả các loài thú đều thích nghi với một loại môi trường nào đó. Mặc dù ta thấy trong thiên nhiên có khả năng thích ứng rất lớn, nhưng loài thú có giới hạn trong khả năng thích nghi với môi trường. Một con thú không có sự nhận biết và khả năng sáng tạo để thay đổi môi trường một cách ý thức, hay tách ly mình khỏi môi trường. Con người có khả năng thay đổi môi trường, và không có loài thú nào có khả năng sống trong nhiều môi trường khác nhau, như con người có thể làm. Thượng đế đã phú cho con người những khả năng vượt xa những gì ta tìm thấy nơi loài thú. Con người không chỉ là một con thú tinh xảo. Con người không chỉ là một con thú đã tiến hóa cao vì con người là một bước nhảy vọt lượng tử, nếu ta dùng một danh từ hiện đại, cao hơn loài thú.

Kết luận hợp lý là Thượng đế đã tạo tác con người theo hình ảnh của Ngài và giống như Ngài (Genesis 1:26). Con người có tâm thức và sự tự nhận biết tinh vi đến độ thay vì chỉ giản dị thích nghi với môi trường, con người có khả năng tưởng tượng là môi trường có thể thay đổi để giúp con người có được nhiều dồi dào hơn là những gì môi trường đang hiện nay cung cấp. Con người cũng có khả năng tự do chọn lựa tích cực thay đổi môi trường thay vì chỉ thích nghi với môi trường. Những gì phân biệt con người với loài thú là sự tự nhận biết, trí tưởng tượng và quyền tự quyết.

1.3. Con người đã tạo ra hiện trạng trái đất

Một góc nhìn tích cực là khả năng sáng tạo cho con người tiềm năng hành động như những nối dài của Thượng đế trên trái đất. Từ đó ta có một cái nhìn mới về câu chuyện sáng tạo vũ trụ như ghi lại trong kinh Genesis. Kinh này ghi rằng Thượng đế bỏ ra sáu ngày để tạo ra trái đất, các loài thú và con người. Sang ngày thứ bảy thì Thượng đế ngơi nghỉ. Có thể chăng là việc Thượng đế “ngơi nghỉ” có nghĩa là Thuợng đế tạm ngưng công việc sáng tạo trái đất của Ngài? Thượng đế làm vậy vì Ngài đã tạo ra những sinh thể được tạo ra để làm bàn tay bàn chân của Ngài trên trái đất, như các phần nối dài của Ngài trên trái đất, để họ hoàn tất công trình sáng tạo trái đất. Có thể chăng là Thượng đế đã tạo ra con người như hình ảnh của Ngài và giống như Ngài vì Thượng đế muốn con người hoàn tất công trình sáng tạo trái đất? Thay vì chỉ thụ động sống nơi này, con người có thể góp phần một cách tích cực vào công trình sáng tạo của Thượng đế, con người có thể cảm thấy họ đang đóng một vai trò tích cực và họ đang góp phần thể hiện vương quốc của Thượng đế trên hành tinh này.

Thày biết những ý tưởng này vượt xa rất nhiều những gì con được dạy trong lớp dạy Thánh kinh trong trường hay những gì các khoa học gia chịu xem xét. Những ý tưởng này giải thích thực tại mà con thấy nơi cuộc đời của con và nơi đời hàng tỷ người trên hành tinh này, là con không có cuộc sống dồi dào. Sâu tận đáy thâm tâm của con, con biết là con đáng lẽ phải có sự dồi dào, con biết là cuộc đời phải khác, phải khá hơn tình trạng hiện tại. Con có thể hiểu được hiện trạng này bằng cách nhận ra mặt trái của đồng tiền, đó là sự kiện Thượng đế cho con người trí tưởng tượng và quyền tự quyết có một khía cạnh đen tối, một tiềm năng tiêu cực. Con người có thể sử dụng trí tưởng tượng để hình dung một cái gì kém hơn điều Thượng đế muốn cho họ. Con người có thể sử dụng quyền tự quyết để chọn thể hiện một tình trạng không dồi dào bằng thiết kế nguyên thủy của Thượng đế. Trong thiết kế nguyên thủy của Thượng đế, con người được hưởng cuộc sống vô ưu như loài thú. Thượng đế muốn con người xây dựng thêm trên nền tảng này và tạo cho chính họ nhiều dồi dào hơn những gì thiên nhiên được thiết kế để cung cấp. Nhưng con người cũng có thể đi ngược lại và phá sập nền tảng mà Thượng đế đã xây dựng, đưa xã hội loài người vào trạng thái phi tự nhiên trong đó có nghèo đói và bất công. Nếu con đi sâu vào tim mình và suy ngẫm những ý tưởng này, thì con sẽ thấy là chúng quả thật giải thích vì sao có quá nhiều bất công, đau khổ, thiếu thốn và nghèo đói trên hành tinh này. Những ý tưởng này cũng có thể giải thích vì sao, sâu trong tim con, con có cái biết nội tâm đây không phải là chuyện tự nhiên, đây là điều không phải, đây không phải là ý muốn của Thượng đế, cuộc sống đáng lẽ không như thế này.

Chúng ta đã thấy là quả thật Đấng Cha hoan hỷ cho con cuộc sống dồi dào. Đây là trạng thái tự nhiên trên hành tinh địa cầu, là tất cả mọi người được dồi dào mọi tặng vật tốt lành và toàn hảo. Như Giê-su có nói: “Để con là các đứa con của Đấng Cha trên thiên đàng: vì Ngài cho ánh mặt trời soi rọi người ác cũng như người lành, và gửi nước mưa xuống người tốt và người xấu” (Matthew 5:45).

1.4. Cách tiêu cực và cách tích cực

Kết luận mà con đạt được là con người đã làm điều gì đó để ngăn trở tình trạng tự nhiên trên trái đất, ngăn trở dòng chảy của sự dồi dào của Thượng đế và ngăn không cho nó tới mọi con người. Một khi con đi đến kết luận này và chấp nhận nó – trong những vùng sâu thẳm trong con người con cũng như trong tâm ý thức – thì con có được một tầm nhìn hoàn toàn khác về cuộc sống và khả năng đạt được sự dồi dào. Thay vì nghĩ con đang sống trên một hành tinh nơi đó khổ đau và thiếu thốn không thể tránh, thì con nhận ra thực tại là sự dồi dào là trạng thái tự nhiên. Đây là điều Thượng đế muốn, và Ngài đã thiết kế hành tinh này với đầy đủ khả năng cung cấp sự dồi dào đó. Thày biết là con đã được dạy dỗ là lý do vì sao không có đời sống dồi dào trên trái đất là vì thiếu tài nguyên thiên nhiên, nhưng điều này không đúng. Thượng đế đã thiết kế hành tinh này để nó có mọi tài nguyên cần thiết để cung cấp một cuộc sống dồi dào cho tất cả mọi người. Đất Mẹ có khả năng cung cấp một cuộc sống dồi dào cho một số người lớn hơn số con người hiện đang sống trong lòng mẹ. Vấn đề trên trái đất là con người đã dùng tâm của mình, quyền năng của trí tưởng tượng và quyền tự quyết của mình, để giới hạn, làm trệch hướng, ngăn cản dòng chảy tự nhiên của sự dồi dào của Thượng đế.

Khi con đi tới kết luận này thì con có thể hướng những suy tư của con về cuộc sống dồi dào sang một hướng mới. Con có thể bắt đầu xem xét làm sao chính con có thể ngưng ngăn cản dòng chảy tự nhiên của sự dồi dào của Thượng đế để con có thể thực sự thừa hưởng vương quốc của Đấng Cha và trải nghiệm cuộc sống dồi dào khi con còn đang hiện thân trên trái đất.

Con có hai cách tiếp cận cuộc sống dồi dào. Cách tiêu cực và cách tích cực. Khi con theo cách tiêu cực thì con có thể chấp nhận là Thượng đế muốn con có được sự dồi dào, nhưng vì con hiện đang không có dồi dào, nên con chỉ có thể lý luận rằng vì một lý do bí ẩn, thần bí, không thể biết được nào đó, Thượng đế không muốn cho con cuộc sống dồi dào ngay lúc này. Vì con không hiểu được tại sao – và con không thể giải thích tại sao vì không có lý lẽ hợp lý nào – nên chọn lựa duy nhất của con là chờ đợi và hy vọng rằng, một ngày kia, Thượng đế sẽ đổi ý và cho con cuộc sống dồi dào. Cách tiếp cận tiêu cực này đặt con vào một vị thế chờ đợi, và nó biến con thành một nạn nhân bất lực của hoàn cảnh và của các lực ngoài tầm kiểm soát của con.

Khi con chọn cách tiếp cận tích cực thì con lý luận là điều tự nhiên là con có được sự dồi dào. Nếu con hiện nay không đang được dồi dào thì có cái gì ngăn cản nó. Nếu con tìm ra cái gì ngăn cản nó thì con có thể tháo gỡ những rào cản đó, và lúc đó sự dồi dào của Thượng đế sẽ tự nhiên bắt đầu tuôn chảy vào cuộc đời của con. Con yêu dấu, nếu con chấp nhận chuyện này có thể xảy ra thì con thực sự đã sẵn sàng nhận chìa khóa kế tiếp vào vương quốc mà thày sẽ trao cho con trong những chương kế tiếp.