Khắc phục các tấn tuồng bằng cách chuyển từ phản ứng sang hành động

Bài giảng của chân sư thăng thiên Phật Gautama ngày 31/12/2009 qua trung gian Kim Michaels.

Phật TA LÀ. Gautama TA LÀ và TA LÀ tỉnh thức. Thày đến để nói với con rằng, con cũng vậy, tốt hơn là con nên tỉnh thức nếu con muốn vượt qua những cuộc điểm đạo của năm 2010 này, mà như thày đã trình bày năm ngoái vào ngày đầu năm, sẽ là Năm của Ngôi Con. Là năm mà nhân loại phải đối mặt với điểm đạo của Ngôi Con – tức Tâm thức Ki-tô – và do đó phải đối mặt với điểm đạo về sự cần thiết đạt được Tâm thức Ki-tô hầu phân biện giữa chân và bất chân.

Con để ý thày không nói “thật và giả”, bởi vì thật và giả là từ ngữ mà loài người đã sử dụng từ bao lâu nay để chỉ những thứ trong cõi nhị nguyên. Và tất nhiên, trong năm tới, điều cần thiết là mỗi người cần bước lên khỏi nhị nguyên và, trên hết, học cách phân biện là có một cái gì vượt khỏi nhị nguyên, có một mức tâm thức có thực – và nó không ở trong cõi luôn luôn có hai đối cực chống đối lẫn nhau.

Và như thế, tâm thức bất nhị này không có đối cực, bởi vì Thượng đế không có đối cực, Phật không có đối cực. Không hề có gì có thể gọi là phản Thượng đế tuy rằng dĩ nhiên con có thể nghĩ ra từ này. Cũng vậy, không hề có phản Phật cho dù con cũng có thể nghĩ ra từ đó. Vì con thấy không, cái gì không phải là Phật chỉ đơn giản không là Phật. Cái gì không phải là Thượng đế thì không là Thượng đế, có nghĩa cái đó bị tách biệt khỏi Thượng đế, tách biệt khỏi Phật. Thế nhưng khi Thượng đế ở mọi nơi và khi tất cả đều là Phật tánh, làm sao có gì thực sự tách biệt khỏi Phật? Làm sao có gì thực sự tách biệt khỏi Thượng đế?

Điều này tất nhiên không thể xảy ra trên thực tế, nó chỉ có thể xảy ra trong cõi nhị nguyên, nơi con có thể định nghĩa hai đối cực rồi bảo rằng Thượng đế là một đối cực, và ác quỷ – hay phản Thượng đế hay bất kỳ con muốn gọi là gì, thậm chí gọi là vật chất – là đối cực kia, và do đó là chống đối, tách biệt khỏi Thượng đế. Nhưng ảo tưởng này tất nhiên tự thân nó không hiện hữu. Nó chỉ hiện hữu trong tâm của những ai đã quyết định bước vào cõi của nhị nguyên. Và tại sao lại có những dòng sống muốn bước vào cõi này?

Con luôn luôn có thể thay đổi phản ứng của mình

Như Giê-su, như Đại chỉ đạo Thiêng liêng, như Astrea và như Serapis Bey gần đây có giải thích thật cặn kẽ, họ làm vậy vì họ không sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm về bản thân họ. Thế nào là nhận lấy trách nhiệm về bản thân? Đơn giản có nghĩa là con sẵn sàng nhận diện và nhìn nhận một cách ý thức một sự thật duy nhất, là nền tảng cho sự tăng triển của con trên con đường tâm linh bước vào vòng xoắn ốc thăng thiên. Đây là sự thật khiến cho các chân sư thăng thiên có thể làm việc với con trên một căn bản cá nhân thay vì con ở lại trong Trường đời Cay đắng, hay ở lại trường học của giáo lý công truyền, của những tổ chức và đạo sư công truyền nơi con có thể tìm thấy một đạo sư chân chính hay không chân chính, nhưng trong mọi trường hợp, nơi con sẽ bị hấp dẫn bởi loại đạo sư hay giáo lý cộng hưởng với tầng tâm thức hiện thời của con.

Vì con thấy đó, khi con chưa nhận trách nhiệm về mình thì con chưa sẵn sàng tra vấn tâm thức hiện thời, nhận thức hiện thời của con. Và như vậy, làm sao con có thể thu hút một đạo sư vượt lên trên tầng tâm thức đó? Chuyện này không thể làm được. Đây là một trong những sự thật quá hiển nhiên, nó đáng lý phải hiển nhiên nhưng lại không hiển nhiên chút nào cho những ai chưa chịu nhận lãnh trách nhiệm và do đó còn nhìn tất cả mọi thứ với nhận thức ô nhiễm.

Vậy thì điều gì là điều con bắt buộc phải nhận ra trước khi con có thể là học trò cá nhân của các chân sư thâng thiên? Đó chính là: Mọi thứ trong thế giới hình tướng đều là sự biểu hiện của tâm thức, là một tạo vật của tâm thức. Không có gì – thày nhắc lại, không có gì – trong thế giới hình tướng, dù là trong cõi tâm linh hay vũ trụ vật chất, mà có sự hiện hữu độc lập hay khách quan. Không có gì đã đi vào hiện hữu mà không được sinh tạo bởi một sinh thể đồng-sáng tạo với khả năng tự nhận biết. Vị này trước tiên hình dung ra một hình tư tưởng, rồi sử dụng khả năng đồng-sáng tạo của mình để áp chồng hình tư tưởng này lên Ánh sáng Mẫu-Vật, và ánh sáng này khoác lấy hình dạng của hình tư tưởng.

Không có cách nào khác để sáng tạo. Ngay cả Đấng Sáng tạo cũng sáng tạo cách này, như mọi vị đồng sáng tạo khác từ mọi thời – trong bầu cõi này hay trong những bầu cõi trước cho tới lần sáng tạo đầu tiên. Không có cách nào khác để sáng tạo. Và như vậy, con đường tâm linh khởi sự khi con đạt tới điểm sẵn sàng chất vấn nhận thức cho rằng những gì mình nhận biết trong vũ trụ vật chất là thực – là có sự hiện hữu độc lập, nghĩa là hiện hữu một cách độc lập khỏi tâm thức – và như vậy nó trường tồn hay bất biến, hay chỉ thay đổi rất chậm do một tiến trình vượt ngoài tầm kiểm soát của con, cho dù tiến trình này là Thượng đế hay thiên thần trên trời, hay định luật tự nhiên, hay quy trình tiến hóa, hay bất kỳ huyền thoại nào khác mà con người đã nghĩ ra để giải thích mọi sự ở chung quanh mà qua đó con người thấy cả dáng vẻ của trường tồn lẫn dáng vẻ hiển nhiên của biến đổi.

Tuy nhiên, vì không chịu nhận trách nhiệm về bản thân, con người phải phóng chiếu ra là mọi thứ đều trường tồn và hiện hữu độc lập. Và cùng lúc, họ cũng phải phóng chiếu là những thay đổi mà họ không thể chối cãi phải đến từ một tiến trình nào đó ở bên ngoài họ mà họ không thể kiểm soát. Nhưng thực sự, liệu có gì trong thế giới của họ – trong thế giới cá nhân của họ – mà họ hoàn toàn không thể kiểm soát được không? Có, có chứ – nhưng chỉ ở mức tâm thức hiện thời của họ mà thôi. Nhưng nếu con sẵn sàng thăng vượt mức tâm thức hiện thời của con, thăng vượt nhận thức hiện thời của con, thăng vượt cái hộp tư duy hiện thời của con, thì tuyệt đối sẽ không có gì trong thế giới của con mà con không thể gia tốc lên một tầng cao hơn bằng cách sẵn lòng gia tốc chính tâm thức của con.

Con có thể nhìn vào thế giới chung quanh, nhìn vào hoàn cảnh cá nhân, và con cỏ thể thấy nhiều điều trong đời mình mà dường như con không có quyền năng ảnh hưởng hay thay đổi, do chúng tùy thuộc vào những định luật tự nhiên mà hình như con không thể thay đổi. Hoặc chúng tùy thuộc vào người khác và những chọn lựa tự quyết của họ. Nhưng con thấy đó, con vẫn có quyền năng thay đổi một thứ. Con có quyền năng thay đổi cách con phản ứng trước tình huống ngoại cảnh, trước cách cư xử của người khác.

Khởi đầu của con đường tâm linh

Và con khởi đầu nơi con đang đứng bằng cách tự hỏi: “Làm thế nào tôi có thể gia tốc phản ứng của mình để tôi không bị những hoàn cảnh, hành động hay lời nói của người khác buộc tôi phải phản ứng tiêu cực? Làm thế nào gia tốc ra khỏi khuôn nếp phản ứng cũ? Làm thế nào ra khỏi cách vận hành cố hữu của tâm thức phản ứng?” Khi con bắt đầu đặt ra những câu hỏi này, đó là lúc con có thể khởi sự con đường tâm linh.

Ban đầu, có vẻ như con chỉ thay đổi được cách phản ứng đối với hoàn cảnh hay người khác, nhưng thày cam đoan với con là các thày – các chân sư thăng thiên đã từng trải qua cùng tiến trình như con, đã khởi đầu ở một trạng thái tâm thức vô cùng nhị nguyên rồi đã tự gia tốc vào Xoáy ốc Thăng thiên – các thày đã chứng minh, chứng minh nhiều lần và thêm nhiều lần rằng khi con gia tốc phản ứng của con, con sẽ đạt tới điểm không còn gặp phải một số tình huống hay một số loại người nữa. Và con yêu dấu, có thật là khó hiểu lắm không khi con đã nhận được rất nhiều lời dạy của các thày về sự kiện vũ trụ này là một tấm gương phản chiếu lại cho con những gì con gửi ra ngoài?

Nếu con gửi ra ngoài ý tưởng là con luôn bị người ta đổ tội oan ức, thì dựa trên hình tư tưởng mà con có trong tâm, vũ trụ sẽ suy ra điều gì? Đúng vậy, vũ trụ sẽ suy ra là con muốn kinh nghiệm một tình huống có ai đó buộc tội con. Và như thế, vũ trụ sẽ chiều theo và gửi đến con loại người buộc tội đó. Và con có thể rơi vào vòng xoáy ốc muôn thuở là tìm cách tự minh oan trước lời buộc tội của họ, hay tìm cách bác bỏ họ, hay tự bào chữa, hay thậm chí tìm cách thay đổi tâm họ. Nhưng con vẫn đang phản ứng đó con.

Con có thấy chăng là những gì khiến con phản ứng không phải là tình huống bên ngoài độc lập với trạng thái tâm thức của con? Con đang phản ứng lại sự phản ứng của tấm gương vũ trụ đối với những hình ảnh mà con đã gửi ra. Hẳn con có biết về luật nhân quả, còn gọi là luật của hành động và phản ứng. Vậy thì con biết phản ứng luôn đi theo sau hành động. Thế nhưng khi con không nhận trách nhiệm về mình, con không thấy được là cái chuỗi sự kiện đó đã khởi sự với một hành động của con, tức là những hình tư tưởng mà con cho phép hiện hữu nơi thể bản sắc của con, rồi con phóng nó vào tấm gương vũ trụ, và những gì trở ngược lại con chính là sự phản ứng do hành động của con.

Khi con không nhìn nhận điều này, con sẽ chỉ nhìn vào những gì xảy ra bên ngoài con, rồi con cho rằng cách người khác đối xử với mình là hành động của họ. Rồi con cho rằng hành động của họ bắt buộc con phải phản ứng một cách nào đó, thường thường nó bắt con phản ứng một cách nhất định bất kể động lượng cá nhân của con là gì, chẳng hạn con phải tự biện minh hay buộc ngược lại người ta. Và con cho rằng vì con không thể thay đổi hành động của họ, con sẽ không có cách nào thăng vượt hoàn cảnh của con. Nhưng con có thấy là lý do con cảm thấy bất lực là vì con đã lẫn lộn hành động với phản ứng? Con nghĩ con phản ứng lại hành động của họ, nhưng sự thật ở đây – sự thật nói lên khác biệt giữa những học trò đích thực của chân sư thăng thiên với những ai không phải là học trò đích thực, cho dù họ có thể tự nhận hoặc tin chắc thế nào đi nữa – là ngộ ra một điều mà thôi, đó là khi con nhận trọn vẹn trách nhiệm về bản thân thì con sẽ KHÔNG BAO GIỜ phản ứng lại bất cứ gì!

Khi con nhận hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng tâm mình, con thấy rằng Thượng đế đã ban cho con quyền tự quyết. Và dù điều gì xảy ra cho con trên địa cầu, con có tự do chọn lựa những gì xảy ra trong tâm con – bất kể những gì xảy ra bên ngoài thân con và tâm con. Và như vậy khi con trách nhiệm bản thân con, con ngộ ra là con tuyệt đối không có nhu cầu phản ứng lại bất cứ gì. Không có định luật tự nhiên nào bắt con phải phản ứng lại những tình huống mà con gặp trong vũ trụ vật chất, bởi vì con có tiềm năng gia tốc vào một trạng thái tâm thức cao hơn nơi con không phản ứng mà con hành động. Bởi vì dù chuyện gì xảy ra bên ngoài, con vẫn chọn lựa được trạng thái tâm thức của mình. Và con chọn hành động dựa theo trạng thái tâm thức của con, chứ KHÔNG dựa theo tâm thức người khác. Và đó là tại sao con sẽ không bao giờ bị giới hạn bởi tâm thức và các chọn lựa tự quyết của người khác, vì CHÍNH CON, trong mọi tình huống con phải đương đầu và bất kể chọn lựa của người khác, con tự do chọn lựa hành động của mình, trạng thái tâm thức của mình.

Giành lại thế chủ động

Không ai cấm con nhìn vào chính con rồi tự hỏi: “Tại sao tôi cứ gặp hoài những loại người này? Có điều gì trong tôi mà tôi chưa nhìn thấy cứ khiến mình phải gặp lại họ hoài hoài? Có bài học nào mà mình chưa hấp thụ khiến mình cứ phải đi thi lại dài dài cho đến khi mình thuộc bài?” Lúc đó con có thể nhìn vào chính mình, làm sáng tỏ cái đó là gì – có thể là một vết thương từ quá khứ, có thể là một tin tưởng nào đó – xong con có thể thăng vượt nó, con có thể tự gia tốc vượt khỏi nó. Và khi con làm được vậy, con sẽ không còn nhu cầu phản ứng nữa, thế là con tự do chọn lựa một hành động. Thậm chí khi con gặp lại người kia cư xử y hệt như trước, như họ buộc tội con hay làm bất cứ gì khác, con sẽ không phản ứng lại họ. Con chọn! Và vì vậy con HÀNH ĐỘNG. 

Và bây giờ họ không là người nắm chủ động nữa, vì con đã giành lại thế chủ động khỏi tay họ qua hành động của con – là những hành động không hề bị điều chỉnh cho phù hợp với tâm thức hay hành động của họ, mà là hành động xuất phát từ sự sáng tạo nội tại mà con vốn có, từ nguồn sáng tạo trong Hiện diện TA LÀ của con – và bây giờ con có khả năng khởi lên những cách ứng đối sẽ khiến họ hoàn toàn bối rối, y như Giê-su đã khiến cho các thày thông giáo và người Pha-ri-si bị bối rối, hay nếu con có học đạo Phật kỹ lưỡng, tương tự như thày đã khiến người Bà-la-môn trong đạo Ấn bị bối rối vào thời của thày. Họ tưởng họ đã tìm ra tất cả, tưởng chỉ có họ mới hiểu đúng kinh cổ, mới tuân thủ nghi lễ và truyền thống, nhưng họ chỉ làm cho Lời Hằng Sống bị vô hiệu hóa, như Giê-su đã chỉ ra sau này.

Tâm thức cáo buộc người anh em đã có từ lâu trước khi bầu cõi này được tạo lập, trước cả khi vũ trụ vật chất được sáng tạo. Nó đã hiện diện trên địa cầu, không ngay từ đầu nhưng suốt một thời gian rất dài. Đó chỉ đơn giản là một khai ngộ thuộc về các bầu cõi tiếp theo sau bầu cõi có các sinh thể sa ngã đầu tiên quyết định dấn thân vào năng lượng cáo buộc hầu kéo mọi người đi xuống với chúng. Có thể nói đó là phần nào những khai ngộ của trường đời cay đắng, và cũng vậy nhưng theo một cách khác, đó là phần nào những khai ngộ của trường chân sư thăng thiên. Bởi vì tất nhiên các thày sẽ làm việc với con để giúp con nhìn thấu những điểm tinh tế của năng lượng cáo buộc, nhưng các thày chỉ có thể giúp con được nếu con đã tới mức sẵn sàng nhìn nhận tất cả đều là tạo vật của tâm thức.

Và khi đó, con sẽ nhìn ra một sự thật rất giản dị sẽ giúp con vươn lên trên năng lượng cáo buộc vì chính tâm con sẽ không bắt đầu suy nghĩ về chuyện cáo buộc. Con có thấy cách thức nó diễn ra thế nào không: có ai đó nóng giận tiến về phía con, họ buộc tội con đã làm gì đó. Con lập tức phản ứng lại năng lượng cáo buộc bằng cách đóng tâm con lại, đóng các luân xa lại và không muốn nhận vào năng lượng. Ngay sau đó, tâm con bắt đầu duyệt qua nội dung của lời buộc tội. “Có gì thực trong lời này? Có thật là tôi đã làm chuyện đó không? Hay tôi không làm? Không, tôi đã không làm, tôi sẽ bào chữa thế nào đây? Làm sao để người ta tin tôi? Chuyện này sẽ hại đến danh giá của tôi như thế nào?” Và tất cả những câu hỏi như thế mà con có thể nghĩ ra cứ lặp đi lặp lại trong con.

Một khi tâm con vùi đầu vào chi tiết lời buộc tội, con đã dấn sâu vào vòng xoắn ốc hướng hạ – và kẻ buộc tội đã đặt con vào đúng vị thế mà họ muốn. Nhưng khi con ngộ ra là mọi sự đều do tâm thức tạo dựng – và do đó mọi sự có mặt trên địa cầu là sự biểu hiện thành hình tướng của một trạng thái tâm thức nào đó – thì con sẽ nhìn những lời đó từ một góc độ khác, có đúng thế không? Vì bây giờ con nhận ra là lời buộc tội của người kia rất có thể không liên quan gì tới con, tới hành vi của con hay trạng thái tâm thức của con. Nó có thể chỉ là sản phẩm của tâm thức người đó và vì vậy không có chút thực thể nào. Và tất nhiên ở đây, chúng ta cần xem đến một điều tinh tế đã cho phép kẻ cáo buộc cứ quay tiếp vòng xoáy cáo buộc rồi đánh bẫy mọi người vào đó hết lần này tới lần nọ.

Vì con thấy không, một khi con đã bước vào nhị nguyên, con sẽ có một số tin tưởng, cảm xúc hay động lực, một số hành vi không mấy cao đẹp – và người kia sẽ dùng những điều này để buộc tội con. Và bây giờ con cảm thấy nếu những chuyện đó có thật – bởi vì con đã làm những chuyện đó, đã có những ý nghĩ, tình cảm hay động lực đó – thì con không thể đơn giản làm ngơ lời cáo buộc. Và tất nhiên điều này chính xác. Con không thể làm ngơ, nhưng có một điều con có thể làm được là tự nhủ: “Tôi sẽ không phản ứng lại lời buộc tội bằng sự biện minh. Tôi sẽ tự xét mình một cách trung thực. Nếu tôi thấy tôi đã có những hành vi, động lực, tình cảm, ý nghĩ hay quan điểm không trong sáng, không tối ưu, thì tôi sẽ tự tu sửa lấy mình. Nhưng tôi sẽ hoàn toàn làm ngơ người tố cáo. Tôi sẽ không bào chữa. Tôi sẽ không buộc ngược lại. Tôi sẽ nhìn vào chính mình, tôi sẽ tách ra khỏi người tố cáo vì lời buộc và năng lượng của họ sẽ không giúp tôi nhìn vào bên trong và tiếp xúc với các vị thày tâm linh của tôi hầu nhận được sự hướng dẫn nội tâm sẽ giúp tôi nhìn thấy cái xà trong mắt mình.”

“Như vậy tôi sẽ tách mình ra khỏi năng lượng và tâm thức của người buộc tội. Tôi sẽ làm việc với các thày tâm linh của tôi. Tôi sẽ tìm xem có điều gì trong tâm thức mình cần thay đổi. Và tôi sẽ thay đổi nó. Và tôi sẽ tự gia tốc để vượt lên trên nó. Và tôi sẽ nhìn lại người kia và xem họ còn buộc tôi nữa không, và nếu họ còn, tôi sẽ giải quyết chuyện này ở tầng tâm thức cao hơn mà tôi vừa vươn tới, là tầng tâm thức nơi người kia không còn lý do nào để buộc tôi nữa.”

Con yêu dấu, con có thấy cái cạm bẫy mà bao lần con đã rơi vào khi con bị buộc tội là con có một trạng thái tâm thức nào đó, con đã đáp lại ở cùng tầng tâm thức đó hay không? Và con bị vướng kẹt, con mắc vào bẫy của phản ứng nhị nguyên chỉ có thể tạo ra một vòng xoáy hướng hạ. Điều thày muốn nói với con ở đây là con không chỉ làm ngơ trước những điều người ta nói, nhưng con phải trung thực và nhìn xem có điều gì đúng trong lời đó hay không. Và con ngừng phản ứng ở tầng tâm thức đó, mà ngược lại con hãy rút về, đứng sang một bên, làm việc trên chính mình, nhìn vào chính mình, làm việc với các thày tâm linh. Và khi con thấy lời buộc tội có điều gì đúng đắn thì con hãy bỏ công ra cho tới khi con tự gia tốc vượt lên trên. Và sau đó nếu cần thiết, con có thể trở lại giải quyết với người đã buộc con.

Nhưng cũng có thể con nhận ra là chuyện giải quyết với người kia sẽ chẳng đem lại được gì xây dựng bởi vì con đã thăng vượt tâm thức đó rồi. Có khi, vì con đã thăng vượt tâm thức, con có thể trở lại người cáo buộc để khiến họ nhận ra con đã thăng vượt trạng thái tâm thức cũ của con. Và trong một số trường hợp, có thể điều này sẽ khiến người kia cũng sẵn lòng thăng vượt tâm thức của họ. Con và họ có thể bắt đầu một quan hệ mới ở một cấp độ mới. Nhưng nếu con tìm ra là họ vẫn không sẵn lòng thăng vượt tâm thức cáo buộc, thì trong rất nhiều trường hợp, chẳng có ích gì mà con cố bác bỏ lập luận của họ, hay tự biện bạch, hay thay đổi tâm họ.

Quả vị Ki-tô và quả vị Phật

Bởi vì nếu người buộc tội không sẵn sàng làm điều con vừa làm, làm sao con sẽ đạt được điều gì xây dựng đây? Con thấy không, một người buộc tội con có thể đã chỉ ra điều gì đó không ổn trong con và như thế con có thể nắm lấy cơ hội mà học hỏi. Nhưng con cũng cần biết, dù người kia nhìn thấy điều dở trong con, có thể họ chưa có được trạng thái tâm thức nhìn nhận mọi sự là biểu hiện của tâm thức. Và con thấy một sự thật giản dị ở đây. Người ta bảo rằng nếu con thấy thói xấu nơi người khác thì chính con cũng có thói xấu đó. Câu này không hoàn toàn đúng với mọi người, bởi vì một khi con ở trong tâm thức Ki-tô, con có thể thấy thói xấu hay cái giằm trong mắt người anh em mà nhận xét của con vẫn đúng – nó sẽ đúng khi con ở trong tâm thức Ki-tô.

Dẫu sao trong tâm thức Ki-tô, con không bao giờ cáo buộc một ai, bởi vì con đã thăng vượt năng lượng cáo buộc sinh ra từ nhị nguyên – và vì thế Ki-tô không cáo buộc. Có một sự khác biệt quan trọng nhưng vi tế giữa việc chỉ ra một điều cần chỉnh đốn và làm cùng như vậy với một năng lượng cáo buộc nhằm hạ thấp đối tượng. Ki-tô chỉ có một mục đích mà thôi là nâng người kia lên. Và như vậy khi con chỉ ra một điều gì cần sửa đổi, con làm vậy một cách xây dựng vì con muốn giúp người kia thăng vượt nó.

Kẻ buộc tội thì không muốn đối tượng của họ thăng vượt. Họ chỉ muốn kéo người kia xuống, và đó là động lực, là ý định của họ, đó là năng lượng mà họ phóng vào người khác. Cho nên con yêu dấu, khi con đã giải thoát khỏi những bợn nhơ trong tâm thức, con sẽ tới điểm nhìn thấy rõ hơn. Như Giê-su có nói, khi con đã gỡ được cái xà trong mắt mình thì con sẽ thấy rõ những gì diễn ra trong tâm thức người khác. Và nếu con thấy một người sẵn sàng để cho con làm việc với họ thì con hãy hết sức giúp họ. Nhưng nếu con thấy người đó chưa tới mức chấp nhận được tất cả đều là biểu hiện của tâm thức, thì có những trường hợp con có thể lấy biện pháp khác hơn – như khi Giê-su thách đố các thày thông giáo và người Pha-ri-si, hay lật đổ bàn ghế của bọn đổi tiền – hoặc con cũng có thể để mặc cho người ta yên thân. Không có cách đúng hay sai bởi vì trên đường tu có nhiều giai đoạn khác nhau.

Có giai đoạn gọi là giai đoạn của Ki-tô, con đường quả vị Ki-tô, khi bình thường con sẽ đi ra thế gian và hoặc con tìm cách giúp đỡ người khác, hoặc con đặt vấn đề với những ai không chịu tiến lên cao hơn. Nhưng sau giai đoạn này là giai đoạn của quả vị Phật, như khi con thấy thày đây đã không tích cực đi ra ngoài, thày lánh xa xã hội và thiết lập một đạo tràng sống biệt lập. Khi thày để cho học trò tự nguyện đến với thày, thày được lợi điểm là có thể từ khước những ai chưa sẵn sàng, là những người chưa chứng ngộ được một điều – chìa khóa thiết yếu để gia nhập đạo tràng của thày – là sẵn sàng nhận ra mọi thứ là sự biểu hiện của tâm thức. Và như vậy, con yêu dấu, con hãy lắng nghe: Chìa khóa cho sự tiến bộ cá nhân của con có thể tìm thấy trong tâm thức của con.

Con có thấy là ngày nay trên thế giới, ngay cả những người tâm linh cũng bị mắc kẹt trong tâm thức mà kẻ cáo buộc người anh em đã tạo ra, cái vòng xoắn ốc hướng hạ nơi họ luôn luôn chú tâm vào người khác, chú tâm vào việc cải sửa người khác? Họ tưởng là họ phải cải tổ thế giới và con người, thậm chí phải đưa ra lời phán xét hay lên án hay phơi bày người khác. Và như vậy, họ luôn luôn ở trong tâm trạng muốn thay đổi tâm thức người khác thay vì sẵn lòng thay đổi tâm thức của mình.

Điều này tất nhiên cũng tốt thôi. Con có quyền tự quyết, con có quyền ở trong trạng thái tâm thức đó và nếm mùi những trải nghiệm mà con cần trong tâm thức đó. Nhưng thày với tư cách là Phật, có quyền định ra một tăng đoàn đứng biệt lập khỏi tâm thức cáo buộc, và do đó thày có quyền định ra một điều kiện gia nhập mà qua đó những ai không sẵn sàng thừa nhận họ cần thay đổi tâm thức của chính họ – thay vì cố thay đổi tâm thức người khác – sẽ không đủ tư cách, không đủ sẵn sàng để gia nhập tăng đoàn của Phật và nhận được giáo huấn trực tiếp của thày.

Như vậy họ có thể đứng ngoài và tiếp nhận những hình thức giáo huấn khác, chẳng hạn giáo huấn mà con có thể nhận được ngày nay từ tôn giáo công truyền đạo Phật hoặc các giáo lý tôn giáo hay tâm linh công truyền nào khác. Nhưng con sẽ thấy, ngay cả thời nay trong truyền thống đạo Phật cũng có những đạo sư chân chính đã chứng đạt tâm thức cao hơn, và mỗi vị đó đều có những tiêu chuẩn cá nhân cho những ai được phép gia nhập vòng đệ tử riêng, vòng đệ tử điểm đạo.

Và tất nhiên giống như Phật, con không bắt buộc phải làm việc với bất cứ ai đến gõ cửa nhà con. Con yêu dấu, cái đó chính là sự điểm đạo của Ki-tô, khi với tư cách Ki-tô con làm giống như Giê-su đã làm, là tiếp nhận bất cứ ai bất kể trạng thái tâm thức của họ. Con tiếp nhận người hủi lở, con tiếp nhận người có đủ loại tật nguyền, con tiếp nhận người bị quỷ ám – đủ mọi loại người bị kẹt trong đủ loại niềm tin. Ki-tô đi ra ngoài thế gian và bất cứ ai Ki-tô gặp, Ki-tô cũng sẽ ứng xử tùy theo khả năng sáng tạo bên trong, khả năng phân biện nội tâm và trình độ quả vị Ki-tô của người đó. Điều này hoàn toàn chấp nhận được vì đó là lý do Ki-tô đi ra ngoài thế gian.

Nhưng ở mức của Phật thì Phật đã lập ra một tăng đoàn đứng biệt lập, và do đó học trò phải trải qua một số điểm đạo trước khi được phép gia nhập. Điều cốt yếu ở đây là để được cứu xét là học trò của Phật, người muốn đạt quả vị Phật phải trước tiên chấp nhận rằng mọi thứ trong thế giới hình tướng đều là biểu hiện của tâm thức. Và do đó mọi thứ mà CON gặp trong thế giới hình tướng là một biểu hiện của tâm thức con – nếu con phản ứng lại.

Hành động và phản ứng

Cho nên khi nào con thấy con còn phản ứng lại bất cứ điều gì trong thế gian này, con cần biết rằng trong tâm thức con vẫn còn gì đó chưa buông bỏ, chưa chữa lành hay chưa thanh lọc – và đó là tại sao con mới phản ứng. Chỉ giản dị vậy thôi! Bởi vì nếu trong con không có gì tương ứng thì con sẽ không phản ứng. Con sẽ hành động, nhưng con sẽ không vướng mắc vào hành động. Và đây là sự khác biệt giữa hành động và phản ứng. Khi con phản ứng, con có sự vướng mắc vào một thành quả. Và nếu thành quả này không đạt được, con sẽ có một phản ứng vừa cảm xúc vừa lý trí, tiêu cực, bất an, không quân bình, không thương yêu.

Nhưng khi con hành động, con không vướng mắc vào thành quả. Và do đó hành động mang sẵn chiến thắng của nó, sự hoàn thành trọn vẹn của nó, thành công của nó, niềm vui của nó. Con thấy đó khi con phản ứng, con nghĩ sự thành công hay thất bại của phản ứng tùy thuộc vào những gì xảy ra trong thế gian. Nhưng khi con thăng vượt tâm thức phản ứng và vươn lên tâm thức hành động từ bên trong, con ngộ ra là hành động để biểu thị những gì con biểu thị tự nó đã là chiến thắng. Không cần bất cứ gì khác, không cần thành quả nào trong tâm của người khác, trong hành động của người khác, trong hành động của xã hội hay trong thế giới rộng lớn, không gì là cần thiết nữa.

Con giống như mặt trời cảm thấy vui mừng tỏa chiếu ánh sáng. Mặt trời không nhìn xuống trái đất để tìm xem có ai đang phải che chắn ánh nắng, ai đang trốn tránh tìm bóng rợp, ai đang đeo kính râm hay bôi kem chống nắng hay đang làm bất cứ gì. Mặt trời không quan tâm đến phản ứng, nó tiếp tục tỏa sáng vì niềm vui tỏa sáng. Và đó là tâm thức của hành động, ngược với tâm thức phản ứng khi con không vui trong việc làm mà chỉ chờ thành quả, chờ phản ứng của người khác trước khi con định đoạt là con nên vui hay buồn.

Cho nên đâu là chìa khóa để thăng vượt tâm thức phản ứng này? Đó là nhận ra rằng phản ứng của con phát xuất từ cách con nhận thức tình huống. Phản ứng là kết quả, là hậu quả, của nhận thức. Và như vậy khi con nhìn nhận tất cả đều là biểu hiện của tâm thức, con cũng nhìn nhận phản ứng của con đối với tình huống là sản phẩm của cách con nhận thức tình huống. Nhận thức ở đây, tất nhiên, đi xa hơn là nhận biết của giác quan, vì nó đi sâu vào phản ứng của cảm xúc, vào cách con suy nghĩ về tình huống, và vì vậy nó đi xa hơn thế nữa, tuốt vào bên trong cách con nhìn cuộc đời nói chung, cái tư duy vi tế, cái thế giới quan được lưu trữ trong thể bản sắc của con.

Cho nên cách đây 2500 năm, thày đã nói thế này ngay đoạn mở đầu của Kinh Pháp cú:

Preceded by perception are mental states.
For them is perception supreme.
If with perception polluted one thinks or acts,
suffering follows.

(tạm dịch)
Nhận thức đi trước, các trạng thái của tâm đi sau.
Đối với chúng, nhận thức là tối cao.
Nếu nói hoặc làm vời nhận thức ô nhiễm,
đau khổ sẽ theo sau.

Nhận biết ô nhiễm với nhận biết thuần khiết khác nhau thế nào? Phải, thày vừa gợi ý cho con đó. Bất cứ khi nào con phản ứng trước một tình huống, con biết là con đang nhận thức tình huống đó với nhận biết ô nhiễm. Nhưng làm thế nào vượt qua được nhận biết ô nhiễm để có nhận biết thuần khiết? Bằng cách con nhận ra bất kỳ nhận biết nào khởi lên từ nhị nguyên thì nó vốn đã ô nhiễm trong bản chất. Điều này tất nhiên thật là khó. Bởi vì hầu hết mọi dòng sống trên địa cầu đã ngụ trong tâm thức nhị nguyên từ quá lâu đến độ họ mất hết mọi ý niệm về nhận biết thuần khiết. Nhưng như thày đã giải thích nhiều lần, cốt lõi của Bản thể con chính là trạng thái tâm thức thuần khiết đó. Suốt bao nhiêu thời đại, tâm thuần khiết này đã được mọi truyền thống thần bí và tâm linh giảng dạy, xưa hơn cả kinh Veda, trở ngược về thời Atlantis và Lemuria, thậm chí cả những nền văn minh xưa cổ hơn nữa.

Các nhà thần bí mọi thời đều biết khi con vượt ngoài nhận biết giác quan – sự nhận biết đến từ tâm vỏ ngoài do cảm xúc chi phối, sự nhận biết ở mức ý tưởng, ngay cả sự nhận biết đến từ ý niệm bản sắc là mình sống trong thế gian này – khi con vượt qua tất cả những thứ đó thì con chứng nghiệm nhận biết thuần khiết. Con có thể gọi đó là cái ta ý thức, cái Ta Biết, hay bất cứ tên gọi nào con muốn. Nhưng thực tế là khi con vượt khỏi mọi ý niệm bản ngã thì đó là nhận biết thuần khiết.

Nhận biết thuần khiết này không thể bị bất cứ gì trong cõi nhị nguyên, bất cứ gì trong thế giới hình tướng làm ô nhiễm. Và như vậy con có khả năng hòa điệu với cốt lõi của bản thể con. Và khi con chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết và biết con là nhiều hơn cái ta vỏ ngoài chỉ biết nhận thức thế gian theo một cách nào đó, thì con sẽ bắt đầu neo trụ nhiều hơn vào nhận biết thuần khiết. Và khi đó con cũng bắt đầu nhận thức thế gian mà không rời nhận biết thuần khiết của con.

Duy trì sự nhận biết thuần khiết

Con không thấy hay sao, nhiều người chỉ kinh nghiệm được nhận biết thuần khiết trong một hé thoáng ngắn ngủi, xong ngay sau đó, có khi chỉ ít hơn một giây, họ lại trở về nhận thức thế giới qua nhân cách vỏ ngoài? Trong nhiều trường hợp, họ còn áp chồng các niềm tin tôn giáo của họ lên trên nhận thức thuần khiết, cứ đinh ninh rằng kinh nghiệm ngắn ngủi kia xác nhận điều này hay điều nọ trong giáo lý hay giáo điều của tôn giáo họ. Con thấy có những nhà thần bí đạo Cơ đốc sau khi trải nghiệm nhận biết thuần khiết, lại cắt nghĩa kinh nghiệm này trong cái nhìn cố hữu của tín điều đạo Cơ đốc mà chính họ chưa thăng vượt được. Con cũng thấy những sự kiện tương tự trong đạo Phật, đạo Ấn, đạo Hồi và tất cả mọi nơi khác. Thậm chí con còn thấy những người tự nhận là vô thần trải qua một kinh nghiệm nhận biết thuần khiết xong cố cắt nghĩa từ một quan điểm khoa học nào đó rằng đấy chỉ là trò ảo thuật của bộ não, hay là một phản ứng hoá học hay điện từ hên xui may rủi.

Nhưng khi con sẵn lòng tra vấn nhận thức hiện thời của mình, sẵn lòng nhận ra là có nhiều cách để nhìn một tình huống hay nhìn thế giới, khi con sẵn lòng nhận ra là các chân sư thăng thiên có nhận biết thuần khiết, con sẵn lòng kêu gọi các thày giúp đỡ, thì các thày chắc chắn sẽ giúp con phơi bày bợn nhơ nơi nhận thức của con. Và khi con sẵn lòng nhìn thẳng vào những bợn nhơ này và thăng vượt chúng, sẵn lòng đi muốt tiến trình mà chân sư đã mô tả là con đường tâm linh chân chính, thì con sẽ lần hồi đến được một điểm nơi con có thể duy trì nhận biết thuần khiết mà không bị lập tức rơi trở lại nhận thức vỏ ngoài.

Và điều này có nghĩa là bây giờ con có thể bắt đầu nhìn vào chính mình, cơ thể mình, tình cảnh riêng của mình và thậm chí cả thế giới, qua nhận biết thuần khiết. Con bắt đầu thấy có một cách khác để nhìn cuộc sống, khác hẳn cái nhìn của ngã vỏ ngoài, của nhân cách vỏ ngoài, của phin lọc nhận thức vỏ ngoài, của nhận thức ô nhiễm. Lúc đầu, đó sẽ là một tiến trình dường như phân liệt (schizophrenic) vì có lúc con có cái nhìn thăng vượt rồi chỉ lúc sau con lại trở về cái nhìn vỏ ngoài, khiến con nghi ngờ những gì con thấy. Cái này có thật không? Liệu thực tại của chân sư thăng thiên có khác hẳn những gì mình đã được nuôi dạy để tin tưởng, những gì mình đã nhìn thấy từ bao năm, thậm chí cả những gì mình tin là chân lý của một tôn giáo hay lời dạy công truyền?

Con thấy đó, con yêu dấu, có nhiều người tự xem mình là học trò của chân sư thăng thiên nhưng trong suốt bao nhiêu thập niên đã chỉ học những giáo lý công truyền vỏ ngoài, họ không có khả năng hay mong muốn đi xa hơn để chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết. Họ đã dùng giáo lý vỏ ngoài đó để tạo ra một hộp tư duy mới, một thế quân bình mới như Giê-su đã giải thích tường tận. Và bây giờ khi họ chiêm nghiệm nhận biết thuần khiết, họ phải đối diện với thực tế là cái nhìn của các chân sư thăng thiên khác xa cái nhìn cố hữu của họ dựa trên một giáo lý bên ngoài mà chính các chân sư đã ban ra.

Tuy nhiên họ chưa hề đi xa hơn giáo lý! Họ đã không vươn lên cao hơn trạng thái tâm thức của họ, đã không chất vấn nhận thức của họ. Cho nên họ đã hình thành một nhận thức dựa trên giáo lý công truyền thay vì Tánh linh vượt trên mọi chữ nghĩa vỏ ngoài. Và do đó, bây giờ họ mới nhận ra là các thày không nhìn như cách họ đã học nhìn. Và họ phải đối mặt với thử thách – liệu họ sẽ chất vấn, không cứ là giáo lý công truyền, nhưng chất vấn cả nhận thức của họ về giáo lý công truyền? Liệu họ sẽ sẵn lòng từng bước đạt tới nhận biết thuần khiết hầu vượt xa hơn cái nhận thức về giáo lý công truyền mà họ đã dần dà xem là chân lý tuyệt đối không thể nào sai sót?

Đó là làm thế nào ngay cả giáo lý của chân sư cũng có thể trở thành một cái bẫy cho những học trò nào không sẵn lòng liên tục chất vấn nhận thức của mình. Vì con thấy đó, con có thể là thành viên của một tổ chức hay giáo lý bên ngoài mà không cần chất vấn nhận thức của mình – như con bắt buộc phải làm trước khi được gia nhập tăng đoàn của Phật, hay trước khi con được bước vào lớp nhập thất của Đại đoàn Chưởng giáo như các thày đã mô tả nhiều lần.

Làm thế nào người ta bị kẹt trong nhận thức

Nếu con không chịu tra vấn nhận thức thì hiển nhiên con tin rằng nhận thức của mình hoàn toàn chính xác, hoàn toàn thực. Con đâu làm gì khác được? Thày tin cậy hầu hết các con đều thấy được điều này. Nếu con không chất vấn nhận thức, con sẽ tin là nhận thức hiện thời của con về cuộc sống – hay về một tình huống cụ thể nào đó – là thực, trọn vẹn, chính xác. Thày tin cậy con cũng phải thấy được là nếu con không chất vấn nhận thức thì con không thể vượt lên trên nhận thức đó. Mà nếu con không vượt lên trên nhận thức thì làm sao con nhận ra sự thật mà thày đã bày tỏ trong Kinh Pháp cú 2500 năm về trước – rằng nhận thức xuất phát từ một trạng thái của tâm sâu xa hơn nữa, thể bản sắc, là cái nhìn của con nơi tầng bản sắc về chính mình và cuộc sống?

Chính nhận thức sâu xa này nơi bản sắc đã nhào nặn cách con tiếp cận cuộc sống qua lý trí và cảm xúc. Cách tiếp cận qua lý trí và cảm xúc này khiến con nhìn các tình huống một cách nào đó, và điều này khiến con bước vào một trạng thái tâm nào đó, chẳng hạn con cảm thấy mình bị kết án bất công, cảm thấy mình cần phải phê phán người khác, cần phải phản ứng giận dữ khi tình thế không đúng ý hay bất cứ trạng thái tâm nào khác. Và khi con ở trong một trạng thái tâm thấp như vậy, nếu con không chịu chất vấn nhận thức của mình thì đối với trạng thái tâm đó, nhận thức của con là tối cao.

Và nếu nhận thức của con tối cao, con sẽ không thể lên cao hơn nhận thức của con, con không thể vượt lên trên trạng thái tâm thấp đó. Con không thể phát hiện cái trạng thái cao hơn kia để nhận ra chính nó đã làm ô nhiễm nhận thức của con và nó đã khiến con nhìn cuộc đời với nhận thức ô nhiễm. Và nhận thức ô nhiễm này thì lại sản xuất trạng thái tâm thấp kém nơi con bị kẹt. Thế là trạng thái tâm này trở thành một hệ thống khép kín, một vòng phản ứng luẩn quẩn nơi con không ngừng phản ứng lại với cuộc đời.

Như thày đã nói ở phần đầu, con đang phản ứng lại những gì con phóng ra tấm gương vũ trụ. Con phản ứng lại những phản ứng của chính con do cái nhìn của con về cuộc đời tạo ra. Cho nên con bị kẹt trong một vòng xoắn ốc bất tận, phản ứng lại phản ứng của con lẫn phản ứng của người khác. Tất cả đều là phản ứng của nhau. Làm sao con bao giờ thoát ra khỏi tình trạng này? Làm sao CON bao giờ thoát khỏi vòng xoáy phản ứng của CON?

Con sẽ chỉ tự do khi nào con ngừng nhìn vào người khác hầu tìm cách thay đổi tâm thức họ, và nhìn nhận rằng chìa khóa cho tự do của CON là thay đổi tâm thức của CON. Và chìa khóa để thay đổi tâm thức của con là chất vấn nhận thức của con – là đi sâu vào tầng mức của nguyên nhân và nhìn xa hơn tầng mức của kết quả, đi vào tầng mức của hành động và nhìn vượt khỏi tầng mức của phản ứng. Bởi vì con sẽ không thể thay đổi phản ứng cho đến khi con thay đổi hành động. Có thể nói phản ứng là nhận thức ô nhiễm và trạng thái tâm phát xuất từ nhận thức mà con có ở tầng cảm xúc lẫn lý trí. Đó là phản ứng.

Còn tầng mức của hành động là thể bản sắc của con, là cách con nhìn cuộc đời và chính con, là quan hệ của con với cuộc sống, quan hệ của con với mọi người, quan hệ của con với Ánh sáng Mẫu-Vật, quan hệ của con với Thượng đế. Đây là nhận thức sâu sắc của con, là cái khiến con hành động bằng cách phóng ra một hình ảnh vào tấm gương vũ trụ ở ngoài tầng cảm xúc, ở ngoài tầng tư tưởng – tức là ở ngoài tầm mức mà hầu hết mọi người có thể nhận biết y thức. Và làm sao con có thể nhận biết ý thức những gì nằm ngoài cảm xúc và tư tưởng nếu con không bắt đầu chất vấn nhận thức của mình? Chuyện này giản dị không thể làm được, và đó là tại sao cái bẫy thật trọn vẹn.

Những kẻ cáo buộc người anh em biết rõ là một khi chúng có thể ép buộc mọi người, ép buộc các dòng sống bước vào chu kỳ phản ứng bất tận này, thì họ sẽ không bao giờ thoát ra được – trừ khi họ chịu chất vấn nhận thức của họ. Và bằng cách khiến cho mọi người luôn luôn bận rộn lo phản ứng lại cuộc đời, chúng có thể tạo ra một vòng xoáy hướng hạ vũ bão đến độ hầu hết mọi người không bao giờ có được phương tiện để chất vấn nhận thức của mình, do mình quá chắc chắn nhận thức này đúng đắn và không cần chất vấn. Vả lại ai ai cũng đều có cùng cái nhìn như thế.

Cho nên một khi phần lớn dân cư trên một hành tinh xem cuộc đời là sự vật lộn không ngừng thì làm sao có ai sẽ bước lui lại để chất vấn cách nhận thức này? Có ai sẽ đứng ra đặt câu hỏi: “Cuộc đời có thật là vật lộn không? Cuộc đời có bắt buộc phải như thế không? Hay chỉ nhận thức của chúng ta về vật lộn đã tạo ra vật lộn, bằng cách phóng chiếu hình ảnh cuộc đời vật lộn ra tấm gương vũ trụ?”

Nhận thức thuần khiết là gì?

Hẳn con đã nghe truyện kể rằng xưa kia thày là con vua, lớn lên trong một khung cảnh bảo bọc nơi thày không có dịp nhận thức về bệnh và chết. Cho nên thày lớn lên với một nhận thức hạn hẹp, một chiều, có thể gọi là trong lành hơn nhận thức của hầu hết mọi người trên địa cầu. Con đã nghe là nhận thức của thày về một cụ già đã khiến thày ngộ ra là nhận thức cố hữu của mình thật giới hạn. Và tuy rằng nhận thức đó thuần khiết hơn một người trung bình, cuối cùng thi nó không thuần khiết lắm vì giản dị thày đã bỏ qua không biết đến một số thực tế tạm thời của hành tinh. Đó không thật sự là nhận thức thuần khiết.

Nhận thức thật sự thuần khiết không đạt được bằng cách gạt bỏ những bất toàn, mà nhìn xuyên qua bất toàn, nhìn xa hơn bất toàn, và nhìn xem có gì vượt cả sự nhận thức – ngay cả nhận thức rằng cuộc đời là sự vật lộn. Con cũng biết là sau khi nhận ra điều này, thày đã rút vào rừng, sống một cuộc đời khổ hạnh, hành hạ thân tâm, tìm cách rèn luyện tâm. Cho tới khi thày ngộ ra rằng ngay cả những thứ đó cũng sẽ không dẫn thày đến nhận thức thuần khiết.

Điều gì đã khiến thày vượt xa hơn mức đó và chứng đạt quả vị Phật? Đó là vì thày đã tới điểm sẵn sàng chất vấn TỪNG khía cạnh của nhận thức – nhận thức mà thày đã có khi lớn lên, nhận thức về lối sống và triết lý khổ hạnh. Thày sẵn lòng đặt lại vấn đề tất cả mọi thứ, và khi thày bắt đầu đặt lại vấn đề mọi thứ, thày cũng bắt đầu nhận ra những mô thức vận hành khiến cho nhận thức ô nhiễm trở thành một chu kỳ bất tận không dẫn tới đâu. Đó là lúc thày bắt đầu chiêm nghiệm tâm thức thuần khiết mà trong đạo Phật gọi là Samadhi, hay Nirvana. Rồi nhờ thế thày lần hồi duy trì được sự nhận biết thuần khiết cho dù mình vẫn làm lụng công việc hàng ngày, và như vậy thày có thể nhận thức thế gian từ tầng mức của nhận biết thuần khiết.

Cho nên thày nhìn thấy, thày bắt đầu nhìn thấy rằng nhận thức ô nhiễm chính là nhận thức nhị nguyên khi có hai đối cực phải hiện diện. Trông ra thì tưởng chừng chúng hoàn toàn có thực, cái đối cực này không thể hiện hữu mà không có cái kia. Và do đó theo một nghĩa nào đó, cái này cũng thực như cái kia, tạo ra cảm tưởng là cái ác cũng thực như Thượng đế, rằng ác quỷ có quyền năng – nó có thường hằng, nó có thực thể. Và như vậy, thày bắt đầu nhìn vượt lên trên nhận thức nhị nguyên. Thày bắt đầu thấy được là có một cách tham gia vào cuộc sống – ngay cả cuộc sống năng động trong một thế gian tràn đầy bất toàn – mà vẫn không bị cuốn hút vào nhận thức nhị nguyên nơi người ta phải dán nhãn cho mọi thứ theo một thang điểm nhị nguyên tương đối với hai đối cực – một cái là thiện, cái kia là ác; cái này là đúng, cái kia là sai; cái này là thật, cái kia không thật hoặc giả; cái này là đẹp, cái kia là xấu; cái này dễ chịu, cái kia khó chịu.

Điều xảy ra là thày bắt đầu thấy được có gì vượt ngoài nhận thức nhị nguyên, và nhận thức nhị nguyên là nhận thức ô nhiễm khi người ta nhận biết một cái gì nhưng không thật nhận biết vì sự nhận thức đã bị ô nhiễm. Và do đó, người ta không thể tách rời hành động nhận thức với hành động dán nhãn, lượng định, phê phán. “Hãy đừng xét đoán để mình khỏi bị xét đoán, vì con đo lường người ta với thước đo nào thì con cũng bị đo lường thế nấy”. Con có thấy chăng là con sẽ bị chính con xét đoán qua tâm thức của con? Và như vậy, cách con xét đoán người khác khi con đang đầu thai trên địa cầu cũng là cách con sẽ xét đoán chính mình khi con bước ra khỏi kiếp đầu thai và duyệt lại đời mình – là khi con nhìn vào chính mình qua cái tâm thức mà con đã nhìn người khác. 

Thày bắt đầu nhìn ra là vượt lên trên cách nhận thức này – cái nhận thức khiến mình như phải phê phán, dán nhãn và đánh giá tất cả – có nhận thức thuần khiết, một cách nhận thức mà qua đó thày không gạt bỏ những bất toàn trên địa cầu, không gạt bỏ tính không thực trên trái đất, nhưng thày không phán xét nó, không dán nhãn nó. Và như vậy, thày không phản ứng lại nó trong sự cảm xúc, như cảm thấy bị đe dọa, cảm thấy khó chịu hay ghê tởm, hay cảm thấy nó không được có mặt ở đó. Thực sự, thày nhìn vượt khỏi nó. Và vượt khỏi hình tướng bên ngoài, thày nhìn thấy Phật tánh, Ánh sáng Mẫu-Vật, sự THANH TỊNH, thực tại rằng tất cả được sinh tạo từ ánh sáng của Thượng đế. Và vì vậy nó có tiềm năng rũ bỏ hình ảnh ô uế, hình tướng ô uế, để được gia tốc vào thuần khiết – là thuần khiết của tâm thức Ki-tô, thuần khiết của tâm thức Phật, thuần khiết của tâm thức Thượng đế.

Và như vậy, thày đến được một điểm của tâm thức Phật nơi thày có thể duy trì Nirvana, duy trì Samadhi, cho dù thày đang tham gia vào mọi sinh hoạt đời sống. Con không cần phải ngồi đó thiền định với mắt nhắm chặt để trụ trong Samadhi hay Nirvana. Con luôn mang nó theo con, và con nhìn tất cả xuyên qua tâm thức thuần khiết. Con vẫn thấy mọi bất toàn của thế gian, nhưng con không dán nhãn chúng, con không phê phán chúng, con không phản ứng lai chúng. Con chỉ nhìn thấy chúng, nhưng con thấy chúng là tạm thời, con thấy chúng là không thực. Và con không phản ứng lại cái không thực, cái bất toàn. Thay vào đó, con HÀNH ĐỘNG dựa trên sự chứng ngộ là mỗi bất toàn có thể được gia tốc vào thuần khiết, vào một trạng thái cao hơn. Khi đó, con có thể bước ra ngoài và hành động để nâng cao mọi sự sống, thay vì tìm cách kết án một sắc thái nào đó của sự sống rồi tìm cách tiêu diệt nó đi.

Sự lừa dối đằng sau mọi tấn tuồng

Con có thấy đây là sự lừa dối của kẻ cáo buộc người anh em hay không? Đây là sự lừa dối nền tảng đằng sau tất cả những tấn tuồng cuồng đại mà cho tới nay các thày đã phơi bày một cách rất cẩn trọng. Tấn tuồng cuồng đại khiến con tin rằng có cái gì đó xấu xa hay ác hại, và cái đó cần bị triệt tiêu. Nhưng khi con muốn triệt tiêu xấu ác thì con đã khởi đầu một phản ứng chống lại xấu ác – và điều này sẽ không thể xóa bỏ khổ đau trên địa cầu mà sẽ chỉ gia tăng khổ đau. Và vì vậy, cách duy nhất để “xóa bỏ xấu ác” là thăng vượt tâm thức nhị nguyên hầu con có thể hành động trong tâm thức bất nhị, và do đó con tìm cách gia tốc các điều kiện mà người ta gọi là xấu ác, gia tốc nó vào thanh tịnh bằng cách nâng cao mọi sự sống thay vì lên án, chê trách, miệt thị, tiêu diệt.

Đây là sự khác biệt giữa những ai đã thăng thiên và những ai chưa thăng thiên. Là sự khác biệt giữa những ai đi theo con đường của tình thương và những ai còn bị mắc kẹt trong cái nhìn sợ hãi khi họ cảm thấy nhu cầu phải phê phán, kết tội, bài bác, tiêu diệt.

Làm thế nào con thăng thiên? Bằng cách tự gia tốc và tới điểm con có thể nói cùng với Giê-su: “Còn ta, khi ta thăng lên khỏi địa cầu, ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta.” Thế Giê-su có nói, ta sẽ chỉ kéo những người tốt lên với ta và đuổi người xấu xuống địa ngục? Không, Giê-su không nói vậy, mà thày nói: “Ta sẵn lòng gia tốc để nâng cao mọi sự sống”, và đó là tại sao thày đã có thể thăng thiên. Vì thày đã tự gia tốc khỏi tâm thức cáo buộc vốn phân chia cái không hề phân chia – sự duy nhất bất khả phân chia của Thượng đế – thành hai đối cực rồi dán nhãn cho một đối cực là tốt, được vào Nước Trời, còn đối cực kia là xấu, không được vào Nước Trời và do đó phải bị tiêu diệt bởi những ai muốn vào Nước Trời. Bởi vì khi tiêu diệt xấu ác, con tưởng là con sẽ đủ tư cách để vào Nước Trời. Đó chính là sự lừa dối của các tấn tuồng cuồng đại. Có quá nhiều người đã từng tin vào và vẫn tin vào lời dối gạt đó. Họ vẫn tin là họ có thể tìm đường để được chấp nhận vào Nước Trời bằng cách khăng khăng giữ lấy tâm thức nhị nguyên – nghĩa là họ từ chối khoác vào cái áo cưới nơi họ hoàn toàn không bạo động, không nhị nguyên, không phê phán, không lên án, không hạ thấp, mà chỉ cố gia tốc mọi sự sống vào thanh tịnh.

Con thấy chăng là thày không yêu cầu con trở nên đui mù? Thày không yêu cầu con nhắm mắt phớt lờ những bất toàn đầy rẫy trong thế gian, nhưng thày yêu cầu con đừng khiến chúng trở thành trường tồn trong tâm con. Bởi vì khi con phản ứng lại chúng thì con làm gì? Phải, nếu con biết cái gì đó là không thực và con là thực, tại sao con lại có nhu cầu phản ứng hay chống đối lại? Tại sao con có nhu cầu phản ứng lại một cái gì không thực? Cho nên con không phản ứng với cảm giác mình bị đe dọa, tức giận, sợ hãi hay bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào khác. Con chỉ đơn giản nhìn nó, và con hành động – bằng hành động không dựa trên dáng vẻ bề ngoài hay hình tướng vỏ ngoài, mà dựa trên nguồn sáng tạo nội tâm tự phát từ cái ta cao của con, từ Hiện diện TA LÀ của con, từ tất cả mọi tầng của chuỗi sinh thể tâm linh ở ngay trên con cho tới Đấng Sáng tạo.

Thay vì phản ứng, con hành động trong một hành động được tưới bởi nguồn suối sáng tạo đó. Và vì con không phản ứng lại hình tướng, cho nên con không ban cho nó sự trường tồn, con không ban cho nó thực chất. Và như vậy hành động của con không nhằm triệt hạ hay hủy diệt, mà chỉ nhằm gia tốc vào sự thuần khiết mà con thấy vượt khỏi hình tướng. Đây là nhận thức thuần khiết. Con nhìn gì đó và thấy cái đó là một biểu hiện không thực, nhưng con không bị lôi cuốn vào phản ứng muốn dán nhãn nó là xấu, dở hay ác – như người đời thường làm.

Con yêu dấu, các thày đã cho con nhiều lời dạy để giúp con vươn lên khỏi tâm thức cáo buộc, tâm thức của những tấn tuồng cuồng đại. Đúng một năm trước đây, các thày đưa ra khái niệm về những tấn tuồng và chỉ ra sự cần thiết phải thăng vượt chúng nếu con muốn bước lên cao hơn, nếu quả thật con mong muốn trở thành một sức mạnh gia tốc địa cầu vào vòng xoắn ốc thăng thiên vào năm 2012 và xa hơn nữa. Nếu con thực sự muốn hình thành tăng đoàn của Phật, con cần phải thăng vượt các tấn tuồng của con, như thày và các chân sư khác đã chỉ ra rõ ràng, và cả Saint Germain nữa trong bài giảng quan trọng của thày. Đối với các con tha thiết muốn vượt qua tấn tuồng của mình, rất có thể con sẽ có lý do để học lại bài đó một lần nữa.

Bởi vì dĩ nhiên các thày nhận thấy trong số các con có những người không sẵn lòng khắc phục tấn tuồng của mình và thậm chí đã bác bỏ toàn bộ khái niệm đó, bác bỏ nhu cầu phải vượt qua tấn tuồng, hay từ chối nhìn nhận là mình có những tấn tuồng cần vượt qua. Tất nhiên theo Luật Tự quyết, điều này các thày hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng các thày chỉ muốn nói: Nếu thế thì các thày không thể nhận con vào tăng đoàn mà các thày đang thiết lập. Khi cách đây 2500 năm học trò xin gia nhập tăng đoàn của thày, họ phải khảo thí, tức là có một quá trình lựa lọc, phân loại giữa những người sẵn sàng chất vấn nhận thức và tấn tuồng của mình, với những người không sẵn sàng. Những người không sẵn sàng phải đứng lại bên ngoài. Họ đã phản ứng bằng nhiều cách, một số cảm thấy mình bị hất hủi, một số khác thì công kích Phật cùng các đệ tử của Phật bằng đủ mọi cách mà kinh sách Phật giáo không ghi lại cho nên người đời sau không biết rõ.

Nhưng thày có thể cam đoan với con yêu dấu, tất cả mọi việc thày làm hay những lời thày nói vào thời đó đã không được các Bà la môn trong đạo Ấn chấp nhận hay chấp thuận. Họ cảm thấy bị đe dọa bởi thày, hay bởi những người trong số đệ tử của họ không chịu chất vấn nhận thức của mình. Đã có rất nhiều cãi vã, công kích, buộc tội đối với thày, đối với sinh mạng của thày và các đệ tử của thày. Có rất nhiều chuyện xảy ra, như con thấy với Giê-su cũng từng bị công kích, lên án. Bởi vì như thày đã nói, tâm thức này đã có từ ngàn xưa. Con đừng nghĩ là thày đã tránh né được nó, bởi vì nó có mặt. Nhưng tất nhiên thày không bận tâm vì nó, thày không dính mắc với nó, cho nên thày không phản ứng lại nó. Thày chỉ đơn giản giảng dạy để cố giúp những ai chịu thăng vượt tầng mức tâm thức đó, và thày đặt trọng tâm giúp đỡ những ai thày có thể giúp bởi vì họ sẵn lòng tự giúp họ. Họ sẵn lòng nhìn vào chính họ, tra vấn nhận thức của họ thay vì coi đó là tối cao, vượt ngoài mọi chất vấn.

Hình tư tưởng tia chớp từ Đông sang Tây

Và bây giờ như thông lệ, thày sẽ kết thúc bài giảng hôm nay bằng một hình tư tưởng có thể giúp con có một vai trò đắc lực hầu đưa nhân loại qua cuộc điểm đạo của Ngôi Con, Tâm thức Ki-tô – là tâm thức phân biện giữa chân và bất chân, và tất nhiên điều này đòi hỏi con có nhận thức thuần khiết không dán nhãn và không phê phán mà thày vừa trình bày ban nãy.

Thày mong muốn con hình dung Ki-tô đang bước vào thế gian này như Giê-su đã nói – tựa như tia chớp từ Đông sang Tây. Và tia chớp phóng vào thế giới như một thanh gươm hai lưỡi chém xuyên qua những tấm màn ảo ảnh, tấm màn của Maya. Những tấm màn này có thể xem là những tấm rèm mà các thày giả và sa nhân đã treo lên để chúng có thể ẩn nấp đằng sau. Có những tấm rèm cứng đặc đến độ không thể nhìn xuyên qua, và cũng có những tấm khác đã trở nên phần nào trong suốt khiến con có thể nhìn thấy những cái bóng đang di chuyển đằng sau.

Con hãy hình dung Thanh gươm của Ki-tô, Lời Hằng sống, sẽ phóng ra và chặt đứt những sợi dây dùng để treo rèm, và những tấm rèm rơi xuống, để lộ những gì đằng sau. Phơi bày tầng lớp thượng tôn quyền lực, phơi bày những kẻ đang khuynh loát bằng đủ mọi cách, vì chúng đã có thể giấu mặt khỏi loài người thì nay chúng sẽ bị phơi trần. Tấm rèm sẽ rơi xuống và mọi người sẽ thức tỉnh và nói, “Nhìn kìa, hoàng đế không mặc quần áo gì hết. Bây giờ chúng ta thấy rõ y rồi – y không còn trùm trong tấm màn ảo ảnh của y được nữa, trong hỏa mù của Maya, của gian trá và lừa gạt.”

Con hãy giữ hình tư tưởng này, con yêu dấu! Con hãy nhớ đến nó mỗi khi con gặp một tình huống mà con biết có sự lừa dối. Và con hãy gọi lên một lời gọi ngắn gọn do con nghĩ ra, gửi về Ki-tô và Phật. Con hãy thỉnh Thanh gươm của Ki-tô sẽ tách chân ra khỏi bất chân, sẽ cắt những tấm màn để chúng rơi xuống, và mọi người thấy phơi ra cái thực và cái không thực – và như vậy, cái không thực sẽ đứng đó trần truồng cho cả thế giới được thấy. Thày khuyên con hãy hình dung như vậy.

Và với lòng biết ơn đối với các con đã kiên trì giữ vững sự quân bình cho bài giảng này, thày nói: “Tốt lắm, những con người phụng sự tốt lành và trung thực, các con đã trung thực trong một số công việc, thì thày sẽ nỗ lực cho con cai quản nhiều điều trong những năm tới.” Và như vậy, hãy được niêm phong trong nhận thức thuần khiết vô biên bất nhị của Phật. Hãy gọi thày để thày ban cho con nhận thức thuần khiết của Tâm Phật, là tâm biết tất cả đều là Phật tánh và do đó thấy được sự khác biệt giữa sự thực thuần khiết của Phật tánh và sự không thực của các ảo tưởng Maya luôn đến cám dỗ con – cám dỗ con làm điều gì? Cám dỗ con phản ứng lại cái không thực bằng đủ cách! Bởi vì bất kỳ phản ứng nào cũng khiến con kẹt lại trong vòng xoắn ốc của không thực. Cho nên con hãy là Phật – nhất định không phản ứng, nhất định bước vào con đường tâm linh hầu thày có thể dạy con cách HÀNH ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG từ nhận thức thuần khiết.

Vậy hãy được niêm phong trong an bình của thày, trong sự an bình không hề thụ động, và không là cái an bình mà nhiều người cho là an bình, mà là an bình năng động, vô hạn, không để cho mọi sự đứng yên, không để cho con người bị kẹt trong vòng xoắn ốc nơi họ nghĩ cuộc đời là đau khổ. Và đó là lý do thày đã bước ra khỏi Nirvana – để giảng dạy cho loài người là có một chọn lựa khác hơn là khổ đau. Và thày khuyên CON hãy làm tương tự. Hãy dạy dỗ họ, hãy chứng tỏ cho họ là có một chọn lựa khác hơn khổ đau. Các con đều có khả năng đạt được thanh thản trong tâm, khả năng nhìn cuộc sống với một niềm vui vô biên, bất tận! Hãy được niêm phong trong niềm vui của Phật. Vì khi con thấy được Phật tánh, làm sao con không vui được? Cho nên TA LÀ Niềm vui Bất tận.

Ghi chú: Các bài thỉnh sau đây đã được soạn thảo đặc biệt để được sử dụng cùng với bài truyền giảng trên:
Thỉnh cầu sự phân biện giữa phản ứng và hành động
Thỉnh cầu cách ứng xử đối với tâm thức cáo buộc
Thỉnh cầu bước theo chân Phật để nhận biết thuần khiết

Biết Sứ vụ Thiêng liêng qua cấu trúc kết tinh của sự chỉ đạo thiêng liêng

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Đại chỉ đạo Thiêng liêng qua trung gian Kim Michaels ngày 14/12/2009.

Ê-U-TÂY (ngân đọc 14 lần). Nếu có thể làm được thì ta đã nâng con lên trong tâm thức để con thấy được vũ trụ từ tầm nhìn cao vượt của một sinh thể vũ trụ. Đại chỉ đạo Thiêng liêng TA LÀ, và ta là một sinh thể vũ trụ. Con có hiểu một sinh thể vũ trụ là gì chăng?

À, con hãy kiểm xem phản ứng của con trước câu hỏi đó. Con có chực trả lời là “Có” chăng? Bởi vì nếu con trả lời “Có”, ta phải nói với con là con không thể “hiểu” được một sinh thể vũ trụ. Tâm phân tích đường thẳng không thể thấu hết, không thể trải rộng khắp những vùng rộng lớn của một sinh thể vũ trụ. Cho nên đây không phải là vấn đề hiểu, mà là biết – là chiêm nghiệm, hòa nhập và đạt được cái mà người xưa gọi là ngộ (gnosis).

Cho nên nếu có thể, ta sẽ nâng con lên để con thấy được – dù chỉ là trong khoảnh khắc – cái nhìn của một sinh thể vũ trụ. Ta sẽ nâng con lên cùng với ta, lên cao mãi qua Bản thể của ta, xuyên qua cấu trúc kết tinh (crystalline) mà TA LÀ. Ta sẽ đưa con lên đến tận cùng cho tới chóp đỉnh của kim tự tháp kết tinh của Bản thể ta. Và đỉnh này là một điểm duy nhất, một điểm dị biệt (singularity), con yêu dấu, nằm cân xứng trên khối hình vuông màu trắng ở giữa Alpha và Omega trong Mặt trời Trung tâm Vĩ đại.

Một sinh vật vũ trụ là một sinh vật vũ trụ bởi vì đấng ấy – không phải là nam hay nữ như con có thể hình dung trên trái đất – đã nâng cao tâm thức, khả năng tự nhận biết cho tới mức biết được mình khởi nguồn từ điểm dị biệt, tức là điểm gặp gỡ nơi trung tâm dòng chảy hình số 8 giữa Alpha và Omega. Điểm gặp gỡ này, điểm dị biệt này là cánh cửa, là cổng vào, là cửa ngõ mở ra giữa thế gian hình tướng này với Đấng Sáng tạo đã tạo ra thế gian từ Bản thể của ngài.

Chắc chắn con có thể nói, “Không có ngài thì không có tạo vật nào được tạo ra”. Chắc chắn điều đó có nghĩa là Bản thể Đấng Sáng tạo ở khắp mọi nơi, ở ngay trong thế gian hình tướng, thế nhưng không nơi nào trong thế gian hình tướng, ngoại trừ trong mặt trời trung tâm đó, có một lối mở trực tiếp vào Bản thể Đấng Sáng tạo. Cho nên đây là nơi mà mệnh lệnh của Đấng Sáng tạo được ban phát ra cho thế giới hình tướng: “Hãy có ánh sáng! Hãy làm ra con người theo hình ta và giống ta, và hãy cho con người quyền cai trị trên địa cầu, trên thế giới hình tướng, trên vũ trụ vật chất.”

Một tầm nhìn vũ trụ

Nếu ta có thể đặt con, dù chỉ một giây, ngồi lên khối hình vuông màu trắng và nhìn ra vũ trụ rộng lớn trước mặt – với hàng tỷ dải ngân hà, hàng tỷ tầng lớp, bầu cõi và gian phòng – nếu con có thể thấy được trong một khoảnh khắc thì cuộc sống của con, cái nhìn của con về cuộc sống, sẽ tức khắc thay đổi. Con hãy lưu ý lời ta vừa nói. Cái nhìn của con về cuộc sống CHÍNH LÀ cuộc sống của con – cho đến khi con nhận ra là con nhiều hơn cái nhìn đó, con nhiều hơn bất cứ cái nhìn nào, nhiều hơn bất cứ ý niệm nào về bản ngã mà con đã tạo ra để có thể biểu đạt, chiêm nghiệm trong thế giới hình tướng.

Con không thể chiêm nghiệm được mặt trời trung tâm, khối vuông màu trắng, sự Hiện diện dỗ dành, hàn gắn và hoàn toàn viên mãn của Alpha và Omega, con không thể chiêm nghiệm điều đó với tư cách một con người tự xem mình là con người. Vậy thì làm thế nào con chiêm nghiệm được thực tại tối hậu, điểm khởi đầu của thế giới hình tướng? Con có thể chiêm nghiệm được bởi vì cốt lõi bản thân con là sự nối dài của chính Bản thể Đấng Sáng tạo.

Cốt lõi này của chính con đã được biết đến – đúng hơn, được chứng nghiệm – bởi những nhà thần bí đích thực của mọi thời đại. Con sẽ thấy nó được nói đến và mô tả bằng lời trong kinh Veda cổ, trong Lão giáo, trong Phật giáo, trong Cơ đốc giáo, đôi khi giấu mặt, đôi khi hiển hiện hơn. Nhưng trong mọi lời dạy tâm linh, thần bí của nhân loại – Kabala, Sufi… – đều có nó đến, đó là cái gì nằm ở ngay cốt lõi bản thể con, cái gì đó khiến con ý thức là con hiện hữu như một sinh thể cá biệt. Bởi vì đúng vậy, con là một cá thể, con là một nối dài của Đấng Sáng tạo đã khoác lấy sắc thái riêng.

Con hãy lưu ý sự khác biệt tinh tế đã phát sinh ra một sự lừa dối tinh vi. Cá thể (individuality) không nhất thiết có nghĩa là tách biệt (separation). Con không được sinh tạo như một sinh thể tách biệt, một cái ngã tách biệt. Con được sinh tạo như một cá thể với một cái nhìn đặc thù, nhìn thế giới hình tướng từ một điểm nhìn đặc thù. Nhưng điểm này không là một điểm tách biệt trong không gian hay thời gian. Đó là một điểm dị biệt bởi vì, thật sự, mọi điểm trong không gian đều là một điểm dị biệt nếu nó ý thức được chính nó là sự nối dài của Bản thể Đấng Sáng tạo.

Và đây là tiềm năng của con để nâng cao khả năng tự nhận biết của con, cho tới khi con đạt được sự nhận biết viên mãn của Đấng Sáng tạo. Trái với một vài giáo lý, điều này không có nghĩa là con sẽ mất đi cá thể. Bởi vì ngay cả Đấng Sáng tạo cũng có cá thể – tuy là một cá thể vượt xa mọi con người trên trái đất, vượt cả các chân sư thăng thiên đến độ con không thể mường tượng được.

Thế nhưng Đấng Sáng tại của con đã tạo ra Vũ trụ này là sự biểu hiện của khả năng sáng tạo và cá thể của ngài. Có những cách khác để xây dựng một vũ trụ, và các nhà khoa học của các con đã bắt đầu nhận ra rằng vũ trụ đặc thù của các con tùy thuộc vào một loạt những hằng số (constants) được cân xứng một cách tinh tế đến độ dạng sống cụ thể của con – đặc biệt là dạng sống dựa trên carbon cấu tạo cơ thể vật lý của con – không thể hiện hữu nếu bất kỳ một trong những hằng số cốt yếu đó thay đổi một chút xíu.

Điều này không có nghĩa là nếu các hằng số đó khác đi thì đã không có sự sống, mà có những dạng sống khác. Nhưng Đấng Sáng tạo của con đã chọn cách cân xứng hằng số như thế này để tạo ra dạng sống đặc thù mà con thấy trong vũ trụ của các con. Sự thật là con có thể đi đến các thiên hà và hệ thế giới khác, ngay cả trong thế giới hình tướng của con, nơi con sẽ tìm thấy những dạng sống khác bởi vì ở đó thế quân bình hơi khác đi. Dù sao thì điều ta muốn nói là như sau: Đấng Sáng tạo của con là một cá thể đi ra từ cái Tất Cả của Thượng đế, và con là một cá thể đí ra từ cái Tất Cả của Đấng Sáng tạo của con. Con có tiềm năng nâng cao khả năng tự nhận biết của mình cho tới khi con đạt cùng mức tâm thức như Đấng Sáng tạo, và khi đó con sẽ hội đủ tư cách để sinh tạo vũ trụ hình tướng riêng của con là sự biểu đạt của bản thân con, của cá thể con, khả năng sáng tạo của con. Đó là tại sao con là một vị đồng sáng tạo. Con học hỏi bằng cách đồng sáng tạo với Đấng Sáng tạo của con cho tới khi con trở thành một đấng sáng tạo có khả năng quy định tạo vật của con.

Cốt lõi con người của con

Vậy thì cái gì là cốt lõi trong con có khả năng tăng triển khả năng tự nhận biết? Phải, đó chính là điểm dị biệt, là sự nối dài chỉ to bằng cái chấm của Bản thể Đấng Sáng tạo. Chúng tôi, các chân sư, đã gọi đó là cái Ta Biết, hay cái ta ý thức. Nhưng những giáo lý tâm linh khác thì có thể gọi khác – là “atman” hay bất cứ cái tên nào khác.

Trừ khi con thích chẻ tóc làm đôi thì ngôn từ sử dụng không quan trọng lắm. Điều quan trọng là cho dù tên gọi có là gì, ở trong con có một cốt lõi khiến con ý thức – không phải ý thức về một dạng ngã nào đặc biệt – bởi vì cái Ta Biết này không phải là một cái ngã như loại ngã mà con đã tạo ra để biểu đạt trong thế gian hình tướng. Ngã loại đó có hình tướng vì nó được dùng để biểu đạt. Nhưng cái Ta Biết thì không có hình tướng: đây là sự nhận biết thuần khiết.

Con hãy lưu ý, tâm đường thẳng phân tích không thể nắm bắt được khái niệm cái Ta Biết. Con không thể nắm khái niệm của cái Ta Biết nếu con thấy đó là một khái niệm. Đó không phải là một khái niệm. Nhưng khi chúng tôi giảng dạy cho con thì phải diễn tả bằng lời nói và bị ràng buộc trong giới hạn cùa lời nói. Và khi diễn tả bằng lời nói thì lập tức tâm phân tích đường thẳng sẽ chụp lấy, biến nó thành khái niệm – thành một cái gì mà con có thể mô tả, gói ghém trong lời nói, tranh cãi thuận hay nghịch, hoặc gọi là thật hay giả.

Nhưng con thấy không, chúng tôi giảng dạy cho con về cái Ta Biết vì biết là một số trong các con sẽ hiểu. Các con hiểu vì các con đã chiêm nghiệm chính mình như cái Ta Biết, khác hẳn tất cả mọi cái ngã đặc thù mà các con đã tạo ra, bởi vì cái Ta Biết là sự nhận biết thuần khiết. Và có những người trong số 10% tâm thức hàng đầu trong nhân loại cũng đã chiêm nghiệm được một cách tự nhiên – hoặc qua những cách tu tập như thiền quán, trầm mặc – sự nhận biết thuần khiết này, mà qua đó cái Ta Biết tự chiêm nghiệm mình là nhiều hơn bất cứ cái ngã nào mà nó đã tạo ra trong thế giới hình tướng, và do đó nó chiêm nghiệm là nó tự do. Nó không thể bao giờ bị ràng buộc bởi bất cứ gì trong thế giới hình tướng – trừ khi nó bước vào một cái ngã và tự đồng hoá hoàn toán với ngã riêng biệt đó, và khi làm vậy, nó nhìn thế giới từ bên trong ngã nhìn ra, nhìn thế giới qua phin lọc của ngã đó, và vì vậy nó có thể tạm thời quên đi nó là nhiều hơn, quên đi nó là nhận biết thuần khiết.

Quả là có nhiều người trên hành tinh này, đại đa số trong nhân loại, chưa bao giờ trải nghiệm được nhận biết thuần khiết. Chúng tôi thừa biết là nếu con chưa trải nghiệm nhận biết thuần khiết bao giờ thì những lời dạy về cái Ta Biết sẽ chỉ là thêm một khái niệm cho con, thêm một dịp cho tâm phân tích đường thẳng nhào nặn. Tùy trạng thái tâm thức của con, tùy những tấn tuồng của con, tùy những hiểu biết hay sự thiếu hiểu biết của con, con sẽ phóng chiếu đủ mọi hình ảnh lên trên các lời dạy về cái Ta Biết. Con có thể làm bất cứ gì con muốn với nó, con có thể đóng đinh nó lên cây thập tự, gọi nó bằng tên này hay tên nọ, biến nó thành thần tượng tạc trên đá – thay vì con làm điều lý tưởng mà con cần làm, là nhìn thấu vào chiều sâu của lời dạy tâm linh, tức là đi xa hơn ngôn từ, đi xa hơn lời nói cho tới khi con chứng ngộ Tánh linh ở đằng sau lời nói.

Thượng đế là một Tánh linh, và những ai thờ phượng ngài phải thờ phượng ngài trong tánh linh và sự thật. Muốn biết được Thượng đế thì phải biết ngài trong Tánh linh, bởi vì con không thể biết Thượng đế qua tâm hữu hạn. Thượng đế là vô hạn và không thể hiểu được qua tâm hữu hạn. Đây là một sự thực giản dị, nhưng vẫn còn nhiều người cứ đầu thai đi đầu thai lại trong các cộng đồng tôn giáo – thậm chí đã từng có chân trong các tổ chức tâm linh hay thần bí từ nhiều thập niên – mà vẫn chưa hiểu được ý niệm giản dị này là phải vượt qua giáo lý vỏ ngoài, phải đi thẳng tới Tánh linh và chứng ngộ bằng Táng linh. Và qua đó con biết được, chiêm nghiệm được sự duy nhất đó.

Không thể hiểu được nhận biết thuần khiết

Điều hay ho của cái ta ý thức là sự kiện nó là nhận biết thuần khiết. Đó là lý do nó có thể tự phóng chiếu vào một ý niệm bản ngã giới hạn và thực sự tin tưởng – và chiêm nghiệm như một cái gì hoàn toàn đáng tin cậy – rằng con là một con người giới hạn, một người phàm phu tội lỗi. Nếu con muốn có trải nghiệm này thì con hoàn toàn có khả năng có được, bởi vì cái ta ý thức có thể bước vào một cái ngã như thế và trải nghiệm thế giới từ bên trong ngã đó.

Nhưng sự tuyệt diệu của cái ta ý thức là sự kiện nó luôn luôn chỉ là nhận biết thuần khiết mà thôi, và vì vậy nó cũng có khả năng tự phóng chiếu về hướng kia. Thay vì phóng xuống các độ rung thấp kém, nó có thể tự phóng chiếu y như vậy lên những tầng rung động cao hơn, do đó nó tự phóng chiếu vào hợp nhất với một sinh thể tâm linh, thậm chí vào cả Mặt trời Trung tâm Vĩ đại – và xa hơn nữa để chứng nghiệm Đấng Sáng tạo, vì dù sao nó cũng chỉ như một giọt nước lấy ra từ đại dương tâm thức của Đấng Sáng tạo.

Cho tới khi con vượt ra khỏi tâm đường thẳng phân tích, cho tới khi con vượt ra khỏi ngã tách biệt, thì sự hiện hữu của con như một nối dài của bản thể Đấng Sáng tạo – tức như sự nhận biết thuần khiết – sẽ đơn giản chỉ là một khái niệm lý thuyết. Con có thể tranh cãi chống hay thuận. Có những người đã từng tranh cãi chống lại hay thuận theo đủ loại khái niệm tâm linh hết kiếp này tới kiếp khác. Chúng tôi, các chân sư thăng thiên, kính trọng quyền tự quyết. Nếu người ta mong muốn có trải nghiệm đó mãi mãi thì họ có quyền làm như vậy trong khuôn khổ Định luật Tự quyết. Nhưng chúng tôi sẽ không dùng khả năng chú ý của mình để cố giúp họ, bởi vì họ đã tự đặt mình dưới sự chi phối của luật tác dụng và phản tác dụng – tức là Trường đời Cay đắng.

Họ có thể tự nhận mình là người theo đạo. Họ có thể đã phát triển một thái độ xem mình thánh thiện hơn người khi họ nghĩ mình hiểu biết mọi chuyện hơn mọi ai khác, do mình đã dựng lên một hệ thống tín ngưỡng toàn hảo đến độ mọi thứ và ngay cả Đấng Sáng tạo cũng có thể được nhét vào trong đó. Cho nên định luật đã được lập ra để đảm bảo bất cứ gì họ gửi ra tấm gương vũ trụ sẽ được gửi trả về cho họ y như vậy. Và họ sẽ tiếp tục gặt những gì họ đã gieo cho đến khi họ chán ngán và bảo: “Cuộc sống nhất định phải là gì nhiều hơn những thứ tôi đang trải nghiệm ngay bây giờ.” Và khi con đạt tới điểm đó, khi con muốn nhiều hơn những gì tấm gương vũ trụ gửi trả về, thì ở điểm đó con mới có thể khởi sự con đường tâm linh nơi các chân sư có thể giúp con.

Chúng tôi có thể cho con những lời dạy được thiết kế để nâng tâm thức, nâng hiểu biết của con lên. Chúng tôi có thể cho con những kỹ thuật và dụng cụ được thảo ra để giúp con thỉnh cầu năng lượng tâm linh. Và như vậy con có thể cất bước trên hành trình vén lên tấm màn, vén màn Maya, cho đến khi con bắt đầu nhìn xuyên thấu qua được. Nhưng khi nhìn xuyên thấu tấm màn Maya, con sẽ thấy gì đây? Không phải như một số người kỳ vọng, con sẽ không thấy vương quốc tuyệt diệu của thiên đàng trên đó với tất cả những nét đẹp đẽ mà con đã từng nghe hay từng đọc.

Con hãy để ý điều thày nói ở đây hầu con không lẫn lộn với một số hình ảnh trong tâm đường thẳng. Quả thật đã có những người trên địa cầu có được trải nghiệm đích thực về các cõi tâm linh, và họ đã bước trở xuống để mà kể lại. Nhưng điều ta muốn nói là khi con khởi sự đường tu tâm linh, khi con bắt đầu phá thủng tấm màn Maya đang che phủ tâm con, điều con nhìn thấy không phải là một quang cảnh huy hoàng nào đó của cõi tâm linh nơi tất cả mọi thứ đều đẹp, mặc dù vẻ đẹp là có thực. Không, điều con nhìn thấy trước tiên là những thoáng hiện của nhận biết thuần khiết, của tâm thức thuần khiết, nơi cái ta ý thức của con – mà cho tới giờ nó chỉ ý thức mình là một con người – giờ đây bắt đầu thấy mình là nhiều hơn một con người. Cái ta ý thức bắt đầu trải nghiệm sự nhận biết thuần khiết khiến nó ý thức là nó sẽ không bao giờ có thể bị hạn chế trong thế giới hình tướng này, hay bất kỳ một ý niệm bản ngã nào được tạo ra trong đó.

Không có gì có thể cầm giữ cái ta ý thức của con, và đó là điều mà cái ta ý thức nhận ra khi nó trải nghiệm nó là nhận biết thuần khiết vượt khỏi mọi cái ngã trong thế gian – sự nhận biết trinh nguyên, không chút ô nhiễm. Đây là điều mà con bắt đầu nhìn thấy. Có những truyền thống tâm linh, chẳng hạn như đạo Phật ở phương Đông, với một số kỹ thuật cùng phương pháp đã được thời gian thử nghiệm để giúp hành giả làm cho tâm tĩnh lặng cho đến khi mình trải nghiệm nhận biết thuần khiết.

Sứ vụ Thiêng liêng của con

Mục đích của tất cả các vị thày chân chính ở phương Đông đã là đưa đệ tử tới mức họ trải nghiệm được nhận biết thuần khiết, tâm thức thuần khiết. Nhiều dụng cụ và kỹ thuật như vậy, nhiều hệ thống như vậy, đều chính đáng và giá trị, nhưng chúng chính đáng và giá trị chủ yếu cho những loại linh hồn, những loại dòng sống có xu hướng đầu thai ở phương Đông và nhắm nhiều hơn đến việc trải nghiệm cuộc sống – một hình thức sùng bái của Yoga.

Các dòng sống chủ yếu đầu thai tại phương Tây nhắm nhiều hơn đến cuộc sống năng hoạt. Họ muốn tìm hiểu, họ là những con người thực tế và thực dụng, họ không chỉ ở đây để trải nghiệm mà để đồng sáng tạo – không chỉ để nhận thức mà để phóng chiếu một viễn quan cao hơn lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Nếu con sinh trưởng ở phương Tây, rất có thể đó là vì – ít ra trong kiếp đầu thai này – con đã không chỉ mong muốn trải nghiệm thụ động mà còn đồng sáng tạo chủ động. Đây là một nhận thức quan trọng cho những ai muốn khám phá và hoàn thành Sứ vụ Thiêng liêng của mình trong kiếp hiện thân này.

Sứ vụ Thiêng liêng chính xác là gì? Đó là một kế hoạch được lên khuôn trong một trạng thái tâm thức vượt ra khỏi tất cả mọi đặc điểm thường có nơi con người trên địa cầu. Khi con thiết lập Sứ vụ Thiêng liêng với sự hợp tác của các thày tâm linh của con, con không mang cái ngã mà con đã tạo dựng suốt trong nhiều kiếp sống, con không nhìn cuộc sống từ bên trong một loại ngã như thế. Cái Ta Biết của con đã bước ra ngoài cái ngã biểu cảm mà con đã tạo dựng suốt nhiều kiếp sống. Do đó, con nhìn thấy thật rõ những giới hạn của ngã đó. Con thấy rõ những điểm nó cần cải thiện, nhưng con cũng thấy các tin tưởng mà dần dà nó đã chấp nhận, cũng như cách thức mà các tin tưởng đó phải được thăng vượt trước khi con có thể bước lên một trải nghiệm cao hơn, đặc biệt trước khi con có thể trở thành một vị đồng sáng tạo đích thực sẽ giúp đồng sáng tạo vương quốc của Thượng đế trên địa cầu thay vì một loại biểu hiện nào khác.  

Con có thấy chúng tôi đã nói gì về cái Ta Biết? Cái Ta Biết không thể ngừng biết, và do đó cái Ta Biết không thể ngừng đồng sáng tạo. Cho dù cái Ta Biết tự đồng hóa là con người thấp kém nhất trên địa cầu, con người ích kỷ nhất, thô sơ nhất – một kẻ bệnh hoạn chuyên chú đi xâm hại người khác – thì ngay cả con người đó cũng đồng sáng tạo liên tục bằng cách sử dụng khả năng của tâm phóng chiếu hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Những hình ảnh này thấp kém, hoàn toàn không đồng thuận với viễn quan cao hơn về vương quốc Thượng đế trên địa cầu, nhưng chúng vẫn là một hình thức đồng sáng tạo. Bởi vì cách thức chúng được phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật cũng giống y như một hình ảnh cao đẹp hơn.

Cái ta ý thức của con chính là con người mà nó nghĩ nó là. Nó là con người mà nó đã đồng hóa là như vậy, theo nghĩa là nó đồng sáng tạo xuyên qua ý niệm bản ngã mà nó đang có ngay lúc đó và nó tự đồng hóa với cái đó. Bất kỳ hình ảnh nào mà hiện hữu trong mô thức, trong cấu trúc của ngã, thì đó cũng là hình ảnh mà dòng ánh sáng của cái ta ý thức sẽ chiếu qua. Và những hình ảnh này hình thành cuộn phim của ngã tách biệt được trình chiếu trên màn ảnh của Ánh sáng Mẫu-Vật.

Con đừng bị bề ngoài lừa dối. Trong cách thức, người tâm linh nhất trên trái đất đồng sáng tạo cũng không khác gì người ở mức tâm thức thấp nhất. Cả hai đều có một cái ta ý thức làm cánh cửa mở cho ánh sáng của Hiện diện TA LÀ chảy xối xuống dải tần số của cõi vật chất. Cả hai đều đồng hóa mình với một cái ngã nào đó, một hộp tư duy nào đó, và họ đều phóng chiếu ánh sáng xuyên qua các hình ảnh trong hộp tư duy đó. Điểm khác biệt duy nhất là ý niệm bản ngã đó thanh khiết đến độ nào, đồng thuận đến độ nào với Hiện diện TA LÀ, hay là nó hoàn toàn sai trệch đối với Hiện diện TA LÀ.

Cho nên chắc chắn một người chứng đạt tâm linh cao sẽ có một ý niệm bản ngã đồng thuận hơn hẳn với Hiện diện TA LÀ của mình, và kết quả là khe hở sẽ lớn hơn để ánh sáng có thể chảy xối vào ý thức vỏ ngoài của người đó. Và như thế, người đó cũng sẽ có nhiều uy lực đồng sáng tạo hơn – như Giê-su đã chứng tò khi thày vực người chết sống lại, chữa lành chân tay kẻ tật nguyền, thanh tẩy thân thể người cùi hủi và thực hiện nhiều việc làm khác gọi là phép lạ – và đây là những việc làm mà kẻ ở mức tâm thức thấp nhất trên địa cầu không thể làm được. Nhưng con cần hiểu là tâm thức không khác biệt trong tính chất, mà chỉ khác cường độ, khác khối lượng.

Một bước cần thiết

Khi con đạt tới chỗ con muốn hơn nữa, khi con mong muốn một con đường cao hơn, khi con có được nhận thức là có lẽ đời mình có một chủ ý, có lẽ mình đã lên kế hoạch cho đời mình – và con mong muốn biết kế hoạch đó là gì, con muốn thấy rõ ràng là con có thể thực hiện kế hoạch đó một cách ý thức – thì ở điểm đó, con cần đi một bước tuyệt đối cần thiết. Con sẽ không bao giờ phát hiện được Sứ vụ Thiêng liêng của mình trong ý thức cho tới khi con ý thức được cơ chế của nhận thức.

Nhận thức là cạm bẫy vĩ đại cho cái ta ý thức. Một khi con đã tạo ra một ngã tách biệt, một khi cái ta ý thức của con đã bước vào tạo vật đó, hộp tư duy đó, và đã tự đồng hóa với cái đó, thì nó sẽ tin rằng những gì nó nhận thức xuyên qua hộp tư duy không phải là nhận thức mà là thực tại. Đó không phải là một tấm hình về cách vận hành của thực tại – không, đó chính là thực tại. Chính đó – ở ngay đó – là lằn ranh phân chia những người có thể được chân sư thăng thiên trợ giúp và những người không thể được chân sư thăng thiên giúp đỡ. Lằn ranh phân chia này là sự ngộ ra rằng nhận thức của mình – nhận thức ngay bây giờ của mình về cuộc sống – không phải là cao nhất. Đó không phải là cách nhìn duy nhất về cuộc sống.

Đâu là thực tế mà chúng tôi đã giải thích nhiều lần trong các bài truyền đọc, đâu là điểm chủ yếu mà chúng tôi đã diễn tả và giảng giải? Đó là sự kiện con hiện đang ở một trạng thái tâm thức thấp hơn các chân sư thăng thiên, và để vượt băng qua điểm mấu chốt sẽ dẫn con vào trạng thái thăng thiên, con cần nâng cao tâm thức của con. Con cần thanh tẩy khỏi tâm thức con mọi yếu tố phàm phu không thể đi lọt qua lỗ hổng.

Bao nhiêu lần chúng tôi đã nhắc nhở điều này bằng đủ mọi cách? Liệu có khó hiểu lắm không mối liên hệ giữa nhận thức của con và trạng thái tâm thức hiện thời của con? Liệu có khó nắm bắt lắm không sự kiện là con đang ở trong một trạng thái tâm thức thấp hơn – mà ta tin con nhận chân được – cho nên nhận thức của con mới không tinh khiết. Nó không thể tinh khiết. Nếu nó tinh khiết thì con đã không ở trong một trạng thái tâm thức thấp, vì trạng thái tâm thức thấp của con giống như một cặp mắt kính màu đang tô màu lên nhận thức và cái ta ý thức thì lại nhìn xuyên qua cặp kính màu đó. Và do đó, mọi thứ mà con nhìn thấy trong thế gian này được trang thái tâm thức đó, hộp tư duy đó, tô màu.

Đây là sự nhìn nhận then chốt sẽ đưa một người vào những cõi nơi chúng tôi, các chân sư thăng thiên, sẽ để ý và nói: “À, đây là một học trò mà chúng ta có thể làm việc được.” Con hãy lưu ý rằng việc tìm ra giáo lý chân sư thăng thiên, gia nhập một tổ chức vỏ ngoài hay đọc bài chú bài nguyện nhiều giờ liền, tất cả những thứ đó tự thân nó sẽ không giúp con hội đủ tư cách để trở thành một đệ tử mà chúng tôi có thể làm việc trực tiếp ở mức nội tâm. Rất nhiều thành viên của các tổ chức tâm linh vẫn chưa sẵn sàng cho một mối quan hệ nội tâm, trực tiếp với chúng tôi – đó là vì sao họ vẫn tham gia tổ chức vỏ ngoài và gắn bó với các giáo lý vỏ ngoài. Đó cũng là vì sao họ không thể, hoặc không muốn, nhìn xa hơn giáo lý, để họ trực tiếp nghe được, trải nghiệm được Hiện diện của chúng tôi.

Trở thành một đệ tử chân chính bằng cách tra vấn nhận thức của mình

Vậy thì con cần những gì để trở thành một đệ tử chân chính – một đệ tử có thể nắm bắt Sứ vụ Thiêng liêng của mình một cách ý thức thay vì hoàn thành Sứ vụ đó một cách không ý thức, như nhiều người trong số các con đã làm? Nhiều người là thành viên của các tổ chức tâm linh đã làm vậy, vì họ đã đi theo Sứ vụ của họ ở những mốc quan trọng trong đời, rồi khi phải lấy những quyết định thật quan trọng, họ đã cảm được một sự hướng dẫn giúp họ chon lựa đúng đắn. Chỉ có điều là họ không nhìn thấy toàn cảnh rộng lớn, họ không thấy được hoạch định của họ, họ không hiểu tại sao họ đã chọn lựa như vậy và tại sao nó lại quan trọng đến vậy. Họ đã không hiểu những điều họ có ý định muốn học từ một hoàn cảnh cụ thể, măc dù trong nhiều trường hợp, họ cũng đã học được qua Trường đời Cay đắng.

Tuy nhiên, đối với con là người sẵn lòng tốt nghiệp Trường đời Cay đắng, con phải làm gì và phải nhìn thấy gì đây? Con phải đạt tới mức con sẵn lòng tra vấn nhận thức của con, tức là con sẵn sàng nói: “Giê-su yêu dấu, Mẹ Mary yêu dấu, Đại chỉ đạo Thiêng liêng yêu dấu, Saint Germain yêu dấu, Chân sư MORE yêu dấu” – bất kể vị chân sư nào mà con cảm thấy gần gũi nhất với tim con, con phải nói – “Thày hãy dạy con, thày hãy chỉ con những gì mà con chưa thấy với nhận thức hiện thời của con, với trạng thái tâm hiện thời của con. Xin thày hãy vén lên bức màn mà nhận thức hiện thời của con đã tạo ra để con nhìn thấy xa hơn, để con thấy con là hơn nữa, thấy sự thật là hơn nữa, thấy Tánh linh là hơn nữa, và thày trong cương vị chân sư thăng thiên cũng là hơn nữa, là nhiều hơn cái hình ảnh mà con đang có về thày ngay lúc này. Bởi vì con sẽ biết thày trong tánh linh và sự thật, chứ không qua một hình ảnh nào đó bị nhận thức hiện thời của con hạn chế.”

Con thử nghĩ xem tại sao bao nhiêu chân sư đã nói: “TA LÀ NHIỀU HƠN thế này”? Bởi vì cho những ai trong số các con đã sẵn sàng, đã đến lúc con bước lên cao hơn và nhận ra rằng con là hơn nữa y như các chăn sư là hơn nữa. Con là nhiều hơn nhận thức của mình. Nhưng con sẽ không thấy được con là nhiều hơn nhận thức cho đến khi con mở tâm ra và nhìn nhận: “Có một cái gì đó mà tôi không thấy. Nhận thức của tôi bị pha màu bởi trạng thái tâm thức hiện thời của tôi, thậm chí bởi giới phái, chủng tộc, tôn giáo, xuất xứ, quốc tịch của tôi.”

Ngay cả tâm phân tích đường thẳng của con cũng có thể giúp con thấy rằng nhận thức của con bị tô màu – nếu con xem xét con đã được dạy dỗ như thế nào để nhìn cuộc sống theo một cách nào đó tùy theo tôn giáo, hệ thống chính trị, chủng tộc, quốc gia hay bất kỳ yếu tố nào khác. Và khi con gặp người khác đã lớn lên trong một môi trường khác, con nhận ra là họ nhìn cuộc sống một cách khác – một chút xíu hay có thể rất nhiều – so với cách con đã được dạy dỗ. Và điều này sẽ giúp con nhận ra là cách con nhìn cuộc đời chỉ là một trong nhiều cách – không phải là cách duy nhất và cũng không nhất thiết là sự thật duy nhất.

Làm thế nào con sẽ bao giờ biết được sự thật, sự thật đích thực? Chỉ khi nào con nhìn nhận là những gì con xem là sự thật ngay lúc này không phải là sự thật tối hậu. Đó là một cái gì bị tô màu bởi nhận thức của con, một tâm ảnh, một hình ảnh trong tâm. Đó chính là khởi đầu của minh triết, khởi đầu của con đường tâm linh, là khi con có thể nhận được hướng dẫn của các chân sư thăng thiên. Đó là khi con có thể bắt đầu vén lên bức màn hầu thấy được Sứ vụ Thiêng liêng của con một cách ý thức, con bắt đầu xuôi chảy với Dòng sông sự Sống thay vì cứ mò đường trong đêm tối, đôi khi lạng quạng đụng trúng Sứ vụ của mình, nhưng thường khi thì bị hụt mất những cơ hội quan trọng mà con không nhìn thấy, vì con chỉ thấy được những gì con muốn thấy, những gì tự ngã con muốn con thấy, hoặc chính con trong cương vị cái ta ý thức muốn trải nghiệm.

Làm thế nào con thăng thiên?

Ta đã ban ra một bài chú sẽ mở khóa căn thể của ta cho những ai sẵn lòng muốn biết ta trong cương vị là Đại chỉ đạo Thiêng liêng, là một sinh thể vũ trụ, là cấu trúc kết tinh cứ trải mãi lên cho tới Thượng đế, cho tới Đấng Sáng tạo, cho tới Mặt trời Trung tâm, cho tới khối vuông ở giữa Alpha và Omega. Tuy nhiên, bài chú này không có gì bảo đảm là những ai đọc chú, ngay cả khi họ đọc nhiều lần, sẽ vén được bức màn. Con phải sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi của Omega – là nhìn nhận những giới hạn của nhận thức. Con phải sẵn sàng nhìn xa hơn nhận thức để thấy một cái gì con chưa thấy bao giờ, thấy một cái gì tự ngã con không muốn con thấy, thấy một cái gì mà người thân của con có thể không muốn con thấy – vì họ không muốn mất con, họ không muốn con vươn lên cao hơn họ, họ không muốn con mạnh dạn bước đi về một nơi mà chưa một người nào đã chạm chân, như câu ngạn ngữ thường nói.

Con chẳng thấy hay sao, cách duy nhất mà chúng tôi, các chân sư thăng thiên, có thể giúp con là nếu con sẵn lòng nhìn thấy những gì con không thấy? Chỉ đạo thiêng liêng là gì? Đó có phải là một bộ áo tù trói tay trói chân con? Đó có phải là khi con quyết định con muốn sự chỉ đạo thiêng liêng, thì ta sẽ đòi hỏi con phải trao cho ta quyền tự quyết của con, hầu con trở thành như một người máy hay một con múa rối trên sợi dây mà ta điều khiển?

Con có nghĩ là ta ngồi trên đây giống như một nhà độc tài chỉ muốn chiếm đoạt quyền tự quyết của con và ra lệnh cho con phải làm gì mỗi bước trong đời sống hàng ngày? “Mua bộ quần áo này, làm việc này, ăn món này, không được ăn món kia, đi đây, đi đó.” Con có nghĩ là một sinh thể vũ trụ muốn quản lý từng chi tiết nhỏ nhặt trong đời con và chiếm đoạt quyền tự quyết của con? Con có nghĩ là việc chiếm đoạt quyền tự quyết sẽ giúp con tăng triển trên đường tâm linh? Làm thế nào việc chiếm đoạt quyền tự quyết của con có thể giúp con đi bước cốt yếu để thăng thiên, để con trở thành một bậc thày hay một chân sư – đó là con nắm lấy trách nhiệm toàn diện và cuối cùng về trạng thái tâm của mình và cách con sử dụng quyền tự quyết của mình?

Làm thế nào việc bắt ép con có thể giúp con nhận lấy trách nhiệm cho bản thân con? Con không thể bị ép buộc phải nhận lấy trách nhiệm cho chính mình – vì nếu đúng như vậy thì ác quỷ cũng đã ép buộc được mọi người thăng thiên từ lâu rồi. Bởi vì đó chính là muc đích của y – chứng minh rằng quả thực con có thể thăng thiên bằng vũ lực. Nhưng chuyện đó không thể làm được, vì nếu được thì chính ác quỷ cũng đã thăng thiên, nhưng hẳn là y chưa thăng thiên và sẽ không bao giờ thăng thiên, bởi vì không ai có thể thăng thiên bằng vũ lực, không ai có thể bị buộc phải thăng thiên.

Con chỉ có thể thăng thiên bằng cách sẵn lòng nhận trách nhiệm về bản thân mình, nhìn nhận rằng nhận thức của mình bị ô nhiễm bởi hộp tư duy, bởi tấn tuồng cá nhân, bởi những tấn tuồng cuồng đại mà dần dà con đã chấp nhận. Những tấn tuồng cuồng đại đó là do ác quỷ tạo ra để giữ chặt con trong cái bẫy của tâm thức thấp kém, hầu con không bao giờ có thể nắm bắt thực tại mình là nhiều hơn cái ngã tách biệt cứ đinh ninh là nó phải giao chiến trong vở tuồng cuồng đại.

Con là NHIỀU HƠN tất cả mọi ý niệm bản ngã được tạo ra trong thế gian này vì con là nhận biết thuần khiết. Nếu con là một bản ngã còn dính lại bất kỳ đặc tính thế gian nào, con sẽ không thể, CON sẽ không bao giờ có thể thăng vượt thế gian này. Nhưng con CÓ KHẢ NĂNG thăng vượt thế gian như tất cả những vị đã từng thăng thiên trước con đã chứng minh. Nhưng cái gì thăng thiên chứ? Không phải ngã phàm phu đâu. Không một người nào sẽ thăng trở về thiên đường trừ phi đó là người đã đi xuống từ thiên đường. Và “người” đã đi xuống từ thiên đường chính là cái ta ý thức, là nhận biết thuần khiết.

Thế nhưng khi con thăng trở về thiên đường bằng cách nhận biết cái ta của mình là sự nhận biết thuần khiết, thì con cũng nhận biết các trải nghiệm của mình trong thế giới hình tướng. Và như vậy, con là nhiều hơn khi con thăng lên so với khi con đi xuống, tuy con không khác cái đã đi xuống – con chỉ là nhiều hơn thế. Con mang nhiều hơn cái phẩm cách cơ bản mà con đã được phú cho, tức là cá thể được neo trụ nơi Hiên diện TA LÀ của con.

Thế nào là chỉ đạo thiêng liêng?

Cho nên ta là một sinh thể vũ trụ, TA LÀ một với ngọn lửa chỉ đạo thiêng liêng, nhưng chỉ đạo thiêng liêng là gì chứ? Đó không phải là một lời chỉ dẫn cụ thể phải làm thế này hay làm thế kia, phải tin thế này hay tin thế kia. Chỉ đạo Thiêng liêng là một dòng tâm thức hằng sống. Con đã nghe nói ta từng là đạo sư riêng của Saint Germain nhưng ta không là đạo sư đầu tiên của Saint Germain. Thày từng có nhiều đạo sư khác trước khi thày vươn lên một mức tâm thức sẵn lòng nhận ra những hạn chế nhận thức của thày. Và đó là lúc thày đã có thể tận dụng sự chỉ đạo thiêng liêng mà ta ban cho thày. Hẳn con đã nghe nói là Saint Germain đã thăng thiên bằng cách lấy một triệu quyết định đúng đắn. Ấy nhưng đó không phải là những quyết định kiểu như khi ta bảo thày “Làm việc này đi” và thày cứ nhắm mắt tuân theo. Đó là những quyết định nơi thày phải trực diện với một chọn lựa khi tâm vỏ ngoài không làm sao biết được cái gì đúng, cái gì sai.

Và như vậy, Saint Germain đã hòa điệu vào bên trong – bên trong cái ta là của thày – hòa điệu với Hiện diện mà ta là, với dòng tâm thức mà ta là. Và như vậy, thày đã đọc được rung động mà ta là, và qua việc đọc rung động đó, thày đã có thể nhận ra cái có vẻ là hai chọn lựa khác nhau đối với tâm vỏ ngoài, thực ra chẳng cái nào là chọn lựa đúng đắn. Cả hai chỉ biểu trưng cho đối cực này hay đối cực kia trên nấc thang nhị nguyên của tâm thức. Và như vậy, bằng cách trụ vững trong chỉ đạo thiêng liêng, thày đã có thể nhìn thấy một chọn lựa thứ ba mà trước đó thày không thể. Và thày biết đó là chọn lựa đúng đắn trong hoàn cảnh đặc thù đó.

Con có thấy chăng chìa khóa cốt yếu ở đây? Khi con đối mặt với một tình huống trong thế giới này nơi con nghĩ: “Tôi phải chọn giữa hai đối cực, hai cực đoan, hai hướng hành động”, thì nếu nhận thức của con ô nhiễm, con sẽ nhìn tình huống đó qua nhận thức của con. Nhận thức đó sẽ tối thượng đối với trạng thái tâm của con, con sẽ nghĩ nhận thức của mình là chính xác, cho nên con sẽ chọn lựa dựa trên nhận thức đó, và con sẽ chọn một trong hai cực đoan nhị nguyên. Vì nhận thức của con ô nhiễm, con sẽ không thể thấy bất cứ gì vượt khỏi hai đối cực nhị nguyên đó. Vì vậy mà bất kỳ chọn lựa nào con lấy cũng sẽ không là chọn lựa cao nhất có thể có.

Con vẫn có thể học hỏi từ đó, nhưng con hoc hỏi qua Trường đời Cay đắng chứ không qua Trường Chỉ đạo Thiêng liêng. Bởi vì con đã không bước vào, không đặt chân vào Trường Chỉ đạo Thiêng liêng khi con không sẵn lòng nhìn xa hơn nhận thức của mình và hòa điệu với Hiện diện của ta. Con không hòa điệu với Hiện diện của ta khi con nói: “Thưa Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, con phải làm thế này hay thế khác?” bởi vì ta là một sinh thể vũ trụ không ở trong trạng thái nhị nguyên.

Cho nên con không đến với ta và xin ta chỉ dẫn con chọn lựa cụ thể như thế nào. Thay vào đó, con hãy đến với ta và hỏi ta: “Đại Chỉ đạo Thiêng liêng yêu dấu, hãy cho con thấy Hiện diện chân thực của thày. Con sẽ nhận ra dòng chảy tâm thức của thày, con sẽ nhập một với dòng chỉ đạo thiêng liêng đó, con sẽ đi theo dòng chỉ đạo thiêng liêng đó lên tới cấu trúc kết tinh hình tháp mà thày là, cho đến khi con ngồi trên khối vuông màu trắng ở giữa Alpha và Omega, và như vậy con sẽ có được một tầm nhìn vũ trụ về hoàn cảnh của con trên địa cầu – hầu sau đó con thấy được những gì con hiện không thấy, hầu con nắm bắt được chọn lựa đích thực, chọn lựa Ki-tô trong hoàn cảnh đó. Chọn lựa Ki-tô vượt khỏi các đối cực nhị nguyên – mà con nhận chân là do nhận thức của con tạo ra, cái nhận thức khởi lên từ các tấn tuồng của con, thậm chí còn bị tô màu bởi các tấn tuồng của tâm thức sa ngã, là tâm thức phản Ki-tô khiến con cho rằng con chỉ có hai chọn lựa do nhị nguyên quy định. Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, hãy vén bức màn lên để con nhìn xa hơn nhị nguyên và thực sự thấy được sự minh bạch của chỉ đạo thiêng liêng.”

Thày giả và đệ tử giả

Con yêu dấu, đó là lúc ta có thể giúp con. Đó là lúc ta có thể là đạo sư của con – khi con sẵn lòng nhìn thấy sự lừa dối, thiên vị, nhị nguyên của chính nhận thức của mình, cái mà con đã từng tin chắc là nó chính xác. Con sẵn lòng đón nhận cơn sốc sững sờ khi con chợt nhìn ra nhận thức của mình hạn chế như thế nào, thiên vị như thế nào, sai lạc như thế nào, và xa rời như thế nào so với nhãn quan của chân sư thăng thiên cùng thực tại của Ki-tô. Đây có thể là một cú sốc dữ dội. Và khi con khởi sự tiến trình vén màn, con sẽ kinh qua nhiều cú sốc như vậy.

Khi con sẵn lòng chịu đựng cú sốc nhìn thấy nhận thức của mình bị chất vấn, bị phơi bày là sai lạc, thì đấy chính là dấu ấn của một đệ tử đích thực của chân sư thăng thiên. Ngược lại, những ai chỉ tìm kiếm sự xác nhận rằng nhận thức của mình là xác đáng – những ai chỉ muốn nghe lời xác nhận cái mình muốn thấy, và cái mình muốn thấy là chân lý tuyệt đối, thậm chí còn là chỉ đạo thiêng liêng – thì những người đó không phải là đệ tử, đệ tử của chân sư thăng thiên. Họ là đệ tử của hàng ngũ thày giả, những kẻ phô trương mình là chân sư thăng thiên và hứa hẹn với con là họ sẽ đưa con lên thiên đàng mà con không cần phải lấy cái xà ra khỏi mắt con, cái xà của nhận thức ô nhiễm khiến con nhìn thực tại theo một kiểu nào đó, rồi nghĩ rằng đó chính là thực tại chứ không phải là cái tâm ảnh mà con đã đặt trước Thượng đế chân thực.

Có hằng hà vô số những kẻ mạo danh trong hàng ngũ giả trá đó. Thậm chí còn có những kẻ, một vài người trong số họ, tự nhận mình là Đại Chỉ đạo Thiêng liêng. Nhưng nếu con nhìn họ với cái nhìn nội tâm, nếu con đọc lời họ nói, nếu con chịu đọc rung động của họ, thì con sẽ thấy là họ không rõ ràng. Họ mơ hồ, tối tăm, có cái gì đó che giấu, cái gì đó mà con không thể nhìn ra. Và họ sẽ phóng chiếu lên con rằng con không thể thấy cái đó là vì tâm thức con không tinh khiết, và đó là tại sao con phải nhắm mắt tuân theo sự chỉ dẫn của họ. Nhưng ta nói với con: đó là một lời dối trá!

Cái ta ý thức của con có khả năng – ngay tức thì bây giờ – hòa điệu với Hiện diện của các chân sư thăng thiên chân chính, nếu con sẵn lòng nhìn nhận là nhận thức của mình, nhận thức của tâm vỏ ngoài, chỉ là đúng vậy mà thôi: nhận thức! Và nếu con chịu với xa hơn, cái ta ý thức của con có khả năng trải nghiệm được nhận biết thuần khiết, trải nghiệm nhận biết thuần khiết của chân sư thăng thiên.

Ta không là một sinh thể mờ ám. Không có che đậy. Ta không hề có mong muốn che giấu bất cứ gì khỏi con. Khi con hòa điệu với Hiện diện của ta, con có thể thấy trọn vẹn sinh thể mà ta là, con có thể thấy từng khía cạnh của cấu trúc kết tinh của ta. Không có gì che khuất khỏi con. Và nếu con sẵn lòng xuôi theo dòng chảy tâm thức của ta, con có thể đi tận tới Mặt trời Trung tâm – và xa hơn nữa, tới chính Đấng Sáng tạo. Không có gì ẩn giấu khỏi con trong chỉ đạo thiêng liêng, và nếu con nghĩ là có thì con không đang giáp mặt với chỉ đạo thiêng liêng.

Nếu có điều gì mờ ám, che đậy, một điều gì giận dữ hay sợ hãi, thì đó không phải là chỉ đạo thiêng liêng. Làm sao mà có được giận dữ trong chỉ đạo thiêng liêng? Liệu con nghĩ rung động của ta ngay bây giờ có là rung động giận dữ, hay con nghĩ đó là rung động của thực tế, và đơn giản ta chỉ đang chém xuyên qua sự dày đặc của tâm thức con, và như vậy ta cho con cơ hội hòa điệu với Hiện diện của ta nếu con chịu?

Hiển nhiên, con có thể ngồi đó với nhận thức ô nhiễm của mình, và con có thể phóng chiếu một hình ảnh lên ta, lên lời ta nói, lên rung động của ta. Con có thể thấy đó là giận dữ, con có thể thấy đó là một mưu toan khơi lòng sợ hãi trong con, nhưng đây chỉ là thực tại. Thực tại cho con một sự đồng cảm, để con đồng lượng định cái gì là thực, cái gì là rung động thực của chân sư, cái gì là rung động thực của một sinh thể vũ trụ. Vì ta là Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, TA LÀ một sinh thể vũ trụ, TA LÀ THUẦN KHIẾT, TA LÀ THỰC.

Chính con, cái ta ý thức của con, cũng thực. Và con có thể biết là ta thực – nếu con sẵn lòng nhìn vượt qua nhận thức ô nhiễm, không thực. Liệu con có sẵn sàng biết ta như ta là, hay con sẽ hài lòng với một kẻ giả mạo nói cho con nghe những điều con muốn nghe và quả quyết với con rằng: “Ồ nhất định rồi, nhất định nhận thức của bạn là thực, cách nhìn của bạn là thực”? Nếu đó là điều con muốn, ta sẽ cúi đầu tôn trọng hoàn toàn quyền tự quyết của con. Ta sẽ vui lòng để cho con phóng chiếu bất cứ hình ảnh nào con muốn lên bài giảng này.

Hãy cho ta một tuần cửu nhật

Nhưng từ điểm này trở đi, ta sẽ chỉ nói với những ai sẵn lòng bước xa hơn nhận thức của mình, sẵn lòng tìm biết Sứ vụ Thiêng liêng của mình. Vì ta đến đây với một đề nghị. Nếu con sẵn lòng tìm biết Sứ vụ Thiêng liêng của con, con hãy dành ra một tuần cầu nguyện cửu nhật (novena) cho ta. Con hãy dùng bài chú của ta, đọc chú 14 lần nỗi ngày, nghe bài truyền đọc này nếu con muốn – hay chỉ nghe một vài đoạn nếu con có thì giờ – để con hòa điệu với rung động của ta đang thực sự tuôn chảy như một cấu trúc kết tinh xuyên qua những lời đó. Con hãy hòa điệu với hiện diện của ta. Đọc bài chú, xong ngồi đó với một quyển sổ và một tờ giấy trắng tinh, rồi ghi xuống bất cứ gì khởi lên trong con, bất cứ gì khởi lên mà không phân tích, không xét đoán, không lượng định. Ghi xuống và để yên cho nó chảy.

Nếu con làm vậy trong vòng 33 ngày, con sẽ có được một tầm nhìn khác hơn về bản thân, về đời con, về đường tâm linh và về Sứ vụ Thiêng liêng của con. Những gì được tỏ lộ sẽ tương ứng với sự sẵn lòng của con nhìn xa hơn nhận thức hiện thời của con, sẵn lòng nhận diện các hạn chế trong nhận thức, nhận diện cái cơ chế mà con sẽ cần hầu vượt khỏi trạng thái tâm hiện thời, vượt khỏi nhận thức khởi lên từ một trạng thái tâm cao hơn tức là cái nhìn về cuộc sống từ tầng mức ether, tầng mức bản sắc của con. Hãy sẵn lòng nhìn ra cách tiếp cận cuộc sống sâu xa hơn mà con đang có, xong hãy sẵn lòng nhìn vượt qua đó, nhìn thấy các giới hạn của nó, nhìn thấy rằng có một cách khác để nhìn cuộc sống – một cách Ki-tô để nhìn cuộc sống. Một cách cao vượt hơn hẳn cách của con người, đến độ tâm vỏ ngoài không làm sao hiểu thấu được. Nhưng cái ta ý thức thì có khả năng trải nghiệm cái đó, hợp nhất với cái đó, nhìn xuyên qua cái đó. Và như vậy, con sẽ có thể biểu đạt nó qua tâm vỏ ngoài cùng cơ thể vật lý của con. Con có thể sống nó, con có thể đồng sáng tạo thực tại cao hơn, nhưng trước tiên con phải hòa điệu với nó và trải nghiệm nó, và biết được đó là chính bản thể chân thực của con.

Và như vậy, bài giảng của ta đã xong, chén của con đã ngập, tràn cả ra ngoài. Một số các con, nếu con trung thực, sẽ nhận thấy luân xa của mình đã tràn đấy từ một lúc rồi, đến độ con không thể nào nhận thêm ánh sáng nữa, và vì vậy con đã trải qua nhiều loại cảm giác khó chịu và con chỉ muốn bài này chấm dứt. Thậm chí có cả những người không thể nghe nổi toàn bộ bài giảng này vì ánh sáng sẽ khuấy động chất liệu riêng của họ, khuấy động lên sự miễn cưỡng của họ khi phải nhìn xa hơn nhận thức, và do đó giản dị là họ phải ngừng lại vì không thể chịu nổi thêm nữa.

Trường đời Cay đắng không là một nơi dễ chịu chút nào. Chúng tôi cống hiến cho con một giải pháp khác hơn. Nếu con chấp nhận lời đề nghị của ta, ta sẽ cho con một ý niệm chỉ đạo thiêng liêng. Nhưng con phải nhìn vượt ra khỏi mong muốn thấy hệ thống tin tưởng của mình, thế giới quan của mình, thậm chí cả nhận thực hiện tại của mình, được xác nhận. Và ta cũng phải cảnh báo con, nếu con muốn nhận được chỉ đạo thiêng liêng đích thực, con sẽ phải thăng vượt mọi ham muốn, mọi nhu cầu sử dụng bất kỳ hình thức bói toán nào, bất kỳ phương sách máy móc nào mà con nghĩ sẽ đem lại cho mình câu trả lời, đặc biệt là những phương sách hay kỹ thuật đem lại cho con câu trả lời “có” hay “không”, bởi vì “có” và “không” cần được nhận rõ là thuộc về cõi nhị nguyên.

Nhưng bất kỳ phương sách hay kỹ thuật nào mà qua đó con đặt câu hỏi và tìm cầu trả lời cũng cần được nhận diện là bị giới hạn bởi chính câu hỏi của con. Và câu hỏi của con thì là sàn phẩm của trạng thái tâm cùng nhận thức hiện thời của con. Cho nên làm thế nào con có thể đặt những câu hỏi vượt ra ngoài trạng thái tâm cùng nhận thức? Thực tế đơn giản là con không thể, và do đó những câu trả lời con nhận được qua các loại kỹ thuật đó không thể đưa con vượt khỏi trạng thái tâm cùng nhận thức của con. Và như vậy sẽ có rủi ro rất lớn là chúng sẽ chỉ khiến cho trạng thái tâm cùng nhận thức của con đông đặc lại, cho đến khi con tưởng đó là dạng nhận thức duy nhất, đó là nhận thức cao nhất, là chân lý duy nhất. Và chính khi đó là lúc con bị kẹt vào thế tiến thoái lưỡng nan khi con không thể hòa điệu với bất cứ gì vượt khỏi hộp tư duy của con, và cái hộp này giờ đây giống như cái hầm giữ tiền kín mít của ngân hàng mà không gì từ cõi tâm linh có thể xuyên thủng qua.

Ta, Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, không thể làm việc lâu lắm với một cái tâm không sẵn lòng chất vấn nhận thức của nó mà lại muốn những câu trả lời máy móc từ cõi nhị nguyên. Làm sao một cái tâm như vậy thấu suốt được cấu trúc kết tinh mà ta là, dòng tâm thức mà TA LÀ, tiếng nói vô thinh do cấu trúc kết tinh tạo ra và gửi đến toàn bộ vũ trụ như một dòng tâm thức tuôn chảy?

À, cái này còn vượt cả âm nhạc của những quả cầu. Đối với những ai sẵn lòng hòa điệu, đó là một âm thanh thật tế nhị, thật đẹp đẽ, thật truyền cảm đến độ nó sẽ nâng con bay vút lên đôi cánh của muôn thiên thần, nếu có thể nói như vậy. Và con sẽ bay bổng lên theo tiếng nói vô thinh đó, ngày càng hòa nhập vào những biểu hiện cao hơn nữa, rồì cứ thế nâng lên mãi cho tới cấu trúc kết tinh. Trong chốc lát, con có thể nghĩ là khi lên tới đỉnh sẽ có một hình dạng nào rõ ràng hơn, một sinh thể nào rõ nét hơn, là Đại Chỉ đạo Thiêng liêng hay chăng? Nhưng khi con đến được đỉểm cao nhất là đỉnh chóp của kim tự tháp, con không còn nhìn lên nữa. Con quay lại và con nhìn xuống thấy toàn bộ cấu trúc, và con ngộ ra toàn bộ cấu trúc đó chính là Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, mỗi tầng của nó, mỗi thành phần của nó, bởi vì nó là một tổng thể, một tổng thể không làm sao phân ra được – và đó là sự chỉ đạo thiêng liêng. Con có thể là một phần của chỉ đạo thiêng liêng đó, nhưng chỉ khi con biết được sự nhận biết thuần khiết, khi con tự biết chính mình như điểm gặp gỡ giữa Đấng Sáng tạo và tạo vật của ngài.

Chỉ đạo thiêng liêng là một ngọn lửa đẹp vô ngần, đến độ ta đã thương yêu nó từ những thuở xa xôi không thể nào đếm hết. Thuở đó ta cũng từng là một sinh thể cá biệt, ta cũng từng có một khả năng tự nhận biết cục bộ. Ta đã không đầu thai trên địa cầu hoặc ngay cả trong vũ trụ vật chất hay bầu cõi của con, mà trong một bầu cõi cao hơn. Nhưng ta đã phải nâng cao tâm thức của mình cho đến khi ta nghe được âm thanh tuyệt diệu đó, chẳng khác gì ngọn đèn hải đăng gọi ta trở về nhà. Và khi ta thiền định về âm thanh đó, hòa nhập vào nó và bước theo nó, ta nhận chân đó là ngọn lửa của chỉ đạo thiêng liêng, là rung động của chỉ đạo thiêng liêng, là dòng chảy của chỉ đạo thiêng liêng. Và ta quyết định là ta muốn biết rõ từng khía cạnh, từng cách biểu đạt mà chỉ đạo thiêng liêng có thể có. Và như vậy, ta đã hợp nhất với nó cho tới khi ta thăng vượt giai đọan làm sinh thể cá biệt để đạt đến tầng tâm thức của một sinh thể vũ trụ, cầm giữ trách vụ, ngọn lửa, viễn quan chỉ đạo thiêng liêng cho nguyên cả một vũ trụ. Thế nhưng ta vẫn có khả năng thị hiện sự Hiện diện của mình ở bất cứ nơi nào trong cấu trúc kết tinh đó trải rộng khắp vũ trụ.

Hiển nhiên là có những khu vực dày đặc đến độ không một sinh thể nào ở đó có thể hòa điệu với chỉ đạo thiêng liêng. Tuy nhiên, chỉ đạo thiêng liêng đứng ngoài cả thời gian lẫn không gian, và vì vậy nó có mặt mọi nơi. Con là một cái ta ý thức. Nếu con nhìn xa hơn nhận thức của mình và trạng thái tâm mình, và nếu con hòa điệu vào nhận biết thuần khiết mà con là, thì nhận biết thuần khiết đó có thể hòa điệu với chỉ đạo thiêng liêng. Và con sẽ có thể biết được ta y như ta biết con. Bởi vì kẻ biết với kẻ được biết trở thành một trong định ngộ, tức là trong sự duy nhất giữa Đấng Sáng tạo và tạo vật của ngài, giữa hai khía cạnh nam và nữ của Thượng đế. Nơi đó, những ai ở trong cõi Mẹ, trong cõi của biểu đạt, được tỉnh ngộ để nhận biết mình là nối dài của Cha, và như vậy bên trong họ, cả Cha lẫn Mẹ là một. Ta niêm phong con, con yêu dấu, trong món quà của chỉ đạo thiêng liêng – nếu con chịu bước theo đó cho đến khi về nhà. Bởi vì ta ở nhà.

Bốn tầng của tâm

Một bài giảng của chân sư thăng thiên Giê-su

Ta muốn gửi các con một bài dạy căn bản về ý nghĩa thật của câu ta từng nói về “nhiều gian trong căn nhà Cha ta”. Câu này đã khiến nhiều người bối rối, và ta hoàn toàn thông cảm. Câu này là ví dụ điển hình về những giới hạn trong hiểu biết và từ vựng được sử dụng cách đây 2000 năm. Ta đã có ít cơ hội giảng giải cho người thời đó về một sự thật vô cùng thâm sâu mà mọi người tầm đạo tâm linh cần lãnh hội. Vậy bây giờ ta sẽ dùng hiểu bíết và từ vựng thời nay để làm điều đó.     

Trong thế giới ngày nay, hầu hết mọi người đều biết là có năng lượng. Hầu hết cũng biết năng lượng là một hình thức rung động. Hầu hết đã nghe nói tới thuyết tương đối của Albert Einstein, qua đó mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo bằng năng lượng. Tiếc thay, hầu hết cũng chưa thật sự hấp thụ được những hệ quả to lớn của khám phá này. Và vì vậy, họ đã không có nỗ lực nào để thay đổi thế giới quan của mình hầu đáp ứng với thực tế nơi tất cả đều là năng lượng.  

Sự thật đơn giản là toàn bộ vũ trụ được tạo ra từ một chất căn bản duy nhất. Trong quá khứ, người ta gọi đó là ether. Ý niệm ether đã được đạo Phật cùng một số triết lý biết đến từ nhiều thế kỷ. Vào thời trung cổ tại Âu châu, các nhà giả kim (alchemist) cũng đã có biết đến – và có thể nói trong một số trường hợp, họ đã thực sự là những nhà khoa học thực nghiệm đầu tiên. Có cả những nhà vật lý chấp nhận khái niệm ether, cho tới khi một thí nghiệm đáng tiếc đã không tìm được tác động vật chất nào của ether – nhưng lý do họ không tìm được là vì ether không có đặc tính vật chất nào cả.

Từ đó, đa số nhà vật lý đã bỏ rơi khái niệm ether, một quyết định thật đáng tiếc cho khoa học. Vì quyết định này mà họ không thể hiểu được năng lượng một cách trọn vẹn, Họ thừa biết năng lượng là rung động, nhưng rung động chỉ hiện hữu nếu có một môi thể rung động. Như sóng biển không thể hiện hữu nếu không có biển. Cho nên sẽ không có sóng năng lượng, và cũng không có vũ trụ vật chất, trừ khi có một cái gì đó để rung động.      

Cái gì đó rung động chính là chất căn bản mà Thượng đế đã sử dụng để sinh tạo toàn thể thể giới hình tướng. Chất này được mô tả trong Thánh kinh qua câu “Và Đức Chúa Trời phán, hãy có ánh sáng.” Ánh sáng cũng có thể mô tả là diện nữ của Thượng đế Cha-Mẹ. Ánh sáng là Mẹ Thiêng liêng, thân thể của Mẹ Thiêng liêng, là Đấng sinh ra mọi hình tướng được chiếu hình lên Mẹ bởi ý muốn của Cha qua tâm của Con. Hình tướng được biểu hiện và nuôi dưỡng bởi quyền năng của Thánh linh, như Mẹ Mary yêu dấu có giảng dạy. Ánh sáng Mẹ còn có tên gọi là Ánh sáng Mẫu-Vật.

Như con biết, ánh sáng mà con nhìn thấy là những sóng ánh sáng, rung động trong một dải tần số nhất định. Ánh sáng màu đỏ rung động ở tần số thấp hơn ánh sáng màu xanh hay màu tím. Và con cũng biết, có những tần số thấp hơn hay cao hơn ánh sáng nhìn thấy. Mắt con người không thấy được những tần số này cho dù chúng có thực không kém gì ánh sáng đỏ hay xanh.  

Đặc biệt cho bài này, chúng ta hãy dùng khái niệm căn bản: tất cả đều là rung động. Như vậy thì trong thế giới hình tướng, không hề có hàng rào bất khả xâm phạm nào. Mọi thứ đều là cùng một chất, chỉ khác chúng rung động ở những tần số, hay mức độ, khác nhau mà thôi. Tất cả đều được tạo bằng sóng năng lượng, và khác biệt duy nhất giữa Trời và Đất là độ rung của sóng năng lượng.

Câu “Nhà Cha ta có nhiều gian” thật sự có nghĩa như thế: nhà Cha ta là một tấm thảm năng lượng liên tục, một tấm thảm những rung động liên tục. Tấm thảm liên tục ấy có từng phân đoạn, và mỗi phân đoạn là một nhóm tần số. Mỗi phân đoạn là một gian trong căn Nhà của Thượng đế. Trong số đó, có một phân đoạn được con người gọi là vũ trụ vật chất. Ở ngoài cõi này là cái mà con người gọi là cõi tâm linh, hay Trời. Nhưng ngay trong cõi tâm linh cũng có nhiều phân đoạn nữa.

Bốn thể phàm của con

Qua bài này, ta muốn giúp các con hiểu rằng trong vũ trụ vật chất có mấy phân đoạn như thế. Nói chính xác, có cả thảy bốn phân đoạn, hay cõi, trong vũ trụ vật chất. Cõi mà mọi người đều quen thuộc là vũ trụ làm bằng vật chất. Đây là thế giới mà con có thể nhận biết qua giác quan vật lý của mình. Nó được tạo bằng những rung động trong một dải tần số mà giác quan vật lý có khả năng phát hiện. Lý do phát hiện được là vì cơ thể con được tạo bằng những năng lượng tương tự trong cùng dải tần số. Nói cách khác, cái gì làm bằng vật chất thì phát hiện được rung động của vật chất và chỉ những rung động đó thôi. Điều này giải thích tại sao các nhà vật lý kia đã không thể tìm thấy ether qua dụng cụ vật chất.

Bên trên cõi vật chất có ba phân đoạn nữa vẫn thuộc về cái gọi chung là vũ trụ vật chất. Khi từ cõi vật chất con đi lên phân đoạn trên, con bước vào một cõi có thể gọi là cõi cảm xúc. Ở trên nữa là cõi tư tưởng, và trên nữa là cõi bản sắc.  

Trong nhiều tôn giáo cùng triết lý lâu đời, như Phật giáo, Hy lạp cổ hay giáo lý huyền bí của các nhà giả kim, bốn cõi này được mô tả là bốn góc của Địa cầu, với tên gọi là đất, nước, không khí, lửa. Khái niệm này liên hệ với ý tưởng cổ xưa về hình vuông xuất phát từ hình tròn. Hình tròn biểu tượng cho Trời, vô tận và không có phân chia – nếu chúng ta dùng ý niệm không gian và thời gian. Nó tương ứng với ether.

Còn hình vuông biểu tượng cho Địa cầu, đúng hơn, cho vũ trụ vật chất. Vũ trụ vật chất là cõi của thời gian và không gian, được tạo ra bằng cách lấy cõi vô tận của hình tròn mà chia thành bốn hướng, bốn chiều kích, tức là bốn tọa độ của không gian và thời gian.  

Để con dễ hình dung, ta sẽ nói đến mối tương quan với tâm con người. Ta đã giảng trong trang mạng này là tất cả mọi thứ đều được nuôi giữ duy bằng một dòng năng lượng của Thượng đế tuôn chảy từ cõi tâm linh xuống vũ trụ vật chất. Trong mỗi con người, năng lượng tuôn xuống từ cái ta tâm linh xuyên qua những lớp tiềm thức cho tới khi nó chạm tâm ý thức. Năng lượng chảy xuống từ cõi tâm linh và đầu tiên nó vào cõi lửa. Một số giáo lý huyền bí gọi cõi này là bát cung ether, hay thể nhớ. Ta muốn gọi đó là cõi bản sắc. Đây là phần của tâm con cất giữ ký ức mọi trải nghiệm trong thế giới vật chất. Nó cũng cất giữ ý niệm bản sắc mà con đã xây dựng qua nhiều kiếp sống suốt hành trình của dòng sống con trong thế gian này. Khi năng lượng sự sống lần đầu tiên nhập vào tâm con, tức bản thân con, nó chảy qua bản sắc của con, và do đó nó bị bản sắc tô màu. Bản sắc con cũng bao gồm cách con nhìn thế giới, nhìn Thượng đế, quan hệ của con với thế giới và quan hệ của con với Thượng đế. Cho nên nó là cái nền tảng cho con phản ứng với cuộc đời trong cõi này.

Sau khi chảy qua bản sắc thể của con, nó nhập cõi không khí. Một số giáo lý gọi là cõi trí. Ta muốn gọi đó là cõi tư tưởng. Ở cõi này, năng lượng bị các tư tưởng của con về chính con và về thế giới tô màu. Tư tưởng con phần lớn được định đoạt bởi bản sắc con, nhưng vì chúng nằm ở một tầng thấp hơn trong tâm con, chúng mềm lỏng hơn, dễ thay đổi hơn những hình ảnh vùi sâu nơi bản sắc. Nói cách khác, tư tưởng có thể thích ứng hay bị ảnh hưởng bởi những tình huống cụ thể mà con gặp trong đời. Có thể nói, bản sắc định đoạt cách con nhìn đời rộng lớn, còn tư tưởng là cách con hiểu từng chi tiết trong tấm ảnh lớn đó. Bản sắc quyết định cách con nhìn thế giới, còn tư tưởng quyết định cách con nghĩ tưởng thế giới vận hành làm sao.

Sau khi năng lượng chảy qua thể tư tưởng, nó nhập vào cõi cảm xúc. Đây là cảm thể, chứa đựng cảm xúc của con về chính con và về thế giới. Cảm xúc chỉ đơn giản là năng lượng trong chuyển động, và chúng là tiền thân của hành động thể xác. Cho nên cảm xúc định đoạt cách con biến tư tưởng thành hành động. Có thể nói, một mình tư tưởng không có khả năng dẫn tới hành động. Tư tưởng chỉ đơn thuần là ý nghĩ, và để chuyển ý nghĩ thành hành động vật lý, tư tưởng cần đến hai đặc tính của cảm xúc, là phương hướng và cường độ. Cảm xúc con sẽ hướng tư tưởng con vào một hành động cụ thể, và cường độ cảm xúc sẽ định đoạt sức mạnh của hành động.  

Bước chót là khi năng lượng nhập vào bộ não cùng hệ thần kinh của cơ thể vật lý. Ở tầng này, cảm xúc của con được chuyển thành hành động, và hành động được định đoạt bởi phương hướng và cường độ của cảm xúc đứng đằng sau. Tất nhiên, phương hướng và cường độ của cảm xúc bị định đoạt bởi tư tưởng, và tư tưởng thì bị định đoạt bởi ý niệm bản sắc cùng thế giới quan của con.

Vậy con đã thấy, dòng chảy tự nhiên của năng lượng là tuôn xuống từ cái ta tâm linh qua thể bản sắc nơi nó bị thế giới quan của con tô màu. Năng lượng chảy tiếp vào thể tư tưởng nơi nó bị tư tưởng tô màu. Năng lượng lại chảy nữa vào thể cảm xúc nơi nó khoác lấy phương hướng cùng cường độ do cảm xúc định đoạt. Và cuối cùng, năng lượng chuyển thành hành động vật lý mà bộ não, hệ thần kinh cùng cơ thể đem ra thi hành.  

Người ta có thể ví nguyên tiến trình này như máy chiếu phim. Ánh sáng tuôn ra từ cái ta tâm linh giống như ánh sáng trắng tinh của bóng đèn trong máy chiếu. Các thể bản sắc, tư tưởng và cảm xúc giống như ba cuộn phim, và ánh sáng bị hình ảnh trên ba cuộn phim liên tiếp tô màu. Sau khi đi qua cả ba cuộn, ánh sáng được chiếu lên màn ảnh. Màn ảnh này chính là cái phần của tâm con ngụ trong vũ trụ vật chất. Đây là tâm ý thức của con và một số thành phần của tìềm thức con. Nó neo cứng vào trong não và hệ thần kinh của con.

Bốn tầng của vũ trụ vật chất

Hiểu được năng lượng vận chảy như thế qua tâm con, con cần đem hiểu biết này vào toàn thể vũ trụ vật chất. Vũ trụ vật chất cũng có bốn bát cung, hay tầng mức, khác nhau – bốn thể khác nhau.  Chúng tương đương với bốn tầng của tâm con, bởi vì thật sự vũ trụ chỉ đơn giản là một gian trong căn nhà, trong tâm của Thượng để. Như tâm con, vũ trụ vật chất được tạo bằng năng lượng cơ bản của Thượng đế tuôn chảy qua các cõi bản sắc, tư tưởng và cảm xúc trước khi nó thị hiện trong cõi vật chất.

Khi con hiểu rằng dòng năng lượng cơ bản này chảy xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất, thì con sẽ hiểu tầng thấp nhất, tầng của vật chất, là kết quả của những nguyên nhân tiềm ẩn hiện diện nơi ba tầng cao, là các thể cảm xúc, tư tưởng và bản sắc. Có thể nói vũ trụ vật chất chỉ đơn giản là sự phóng chiếu của hình ảnh nằm sẵn nơi ba tầng cao. Thực sự, vũ trụ vật chất không là gì hơn những hình ảnh được chiếu lên màn ảnh của một rạp chiếu bóng.

Khi con suy ngẫm điều này, con sẽ hiểu ngay rằng con có thể – và con bắt buộc phải – thay đổi vũ trụ vật chất bằng cách thay đổi ba tầng cao của nó. Đối với cá nhân con, nếu con muốn thay đổi hoàn cảnh đời mình, con phải bắt đầu bằng cách thay đổi cảm xúc, tư tưởng và bản sắc của con. Chỉ khi nào con thay đổi những hình ảnh nằm trong ba thể cao thì con mới có thể thay đổi hình ảnh hiện ra trong thế giới vật chất. Cũng vậy, trên bình diện hành tinh, chìa khóa để loại bỏ khổ đau loài người là thanh lọc thể cảm xúc, tư tưởng cùng bản sắc của toàn thể hành tinh, bởi vì hành tinh vật chất chỉ là hình chiếu của những hình ảnh lưu trữ nơi những cõi cao.

Địa cầu đã được tạo ra bởi bảy đấng tâm linh gọi là Elohim. Các Elohim luôn duy trì hình ảnh một địa cầu toàn hảo, và hình ảnh này vẫn còn đó. Tuy nhiên, hình ảnh toàn hảo đó đã bị tạm thời che phủ bởi một hình ảnh bất toàn được phóng chiếu qua các thể bản sắc, tư tưởng lẫn cảm xúc của nhân loại. Đây là cái mà tâm lý học gọi là vô thức tập thể.

Nguyên nhân thực sự của khổ đau

Bây giờ ta muốn chỉ cho con thấy tại sao địa cầu có quá nhiều biểu hiện bất toàn và tại sao con người phải chịu quá nhiều đau khổ đến thế. Lý do là ba thể cao của loài người đã bị ô nhiễm bởi một bản sắc bất toàn, những tư tưởng bất toàn và những cảm xúc không trong sạch.   

Như mẹ yêu dấu của ta giải thích trong bài kế tiếp, mọi điều nơi cõi Trời đều được định ra theo quy luật Thượng đế. Cho nên nếu một sinh thể tâm linh đi ngược lại quy luật Thượng đế thì y sẽ không thể ở lại cõi Trời. Mẹ ta cũng giảng dạy rằng trong vũ trụ vật chất, người ta có khả năng đi ngược lại quy luật Thượng đế. Lý do là vì vũ trụ vật chất được thiết lập như một lớp học cho các dòng sống đang học tập để vươn lên trở thành giống như Thượng đế. Thượng đế đã phú cho các dòng sống này quyền tự quyết và cái khung sườn để họ thử nghiệm năng lượng của ngài.

Vì vậy, các định luật của vũ trụ vật chất cho phép con người đi ngược lại quy luật Thượng đế mà không phải rời cõi này. Nói cách khác, họ có thể dùng quyền tự quyết của họ để chú tâm vào những hình ảnh không phù hợp với các nguyên tắc mà Thượng đế đã sử dụng để thiết lập thế giới hình tướng. Con người có quyền tạo dựng bản sắc riêng, xem mình là một thể sống tách biệt với Thượng đế, là sinh thể vật chất thay vì tâm linh. Họ có quyền tạo ra những hình tư tưởng lệch lạc so với sự thật và thực tại Thượng đế. Họ có quyền nếm trải những cảm xúc là sự tha hóa của cảm thức chân thật của Thượng đế. Và khi họ lao vào những bất toàn như vậy, họ có khả năng biến đổi vũ trụ vật chất và tạo dựng một thế giới biểu hiện bất toàn.

Tuy nhiên khi Thượng đế ban cho con người quyền tự quyết, ngài cũng đặt ra một khuôn khổ có chức năng một chiếc van an toàn, hầu không một ai có thể phá hủy được vũ trụ vật chất. Nói cách khác, tuy con người có toàn quyền làm bất cứ gì mình muốn với năng lượng Thượng đế, họ sẽ bắt buộc phải trải nghiệm chính những hoàn cảnh sống mà họ đã tạo ra với năng lượng đó. Nếu họ tham gia vào tư tưởng hay cảm xúc bất toàn, họ sẽ sinh sản những điều kiện cũng bất toàn như thế trong thế giới vật chất, và khả năng sáng tạo của họ sẽ bị giới hạn bởi những gì họ tạo ra. Làm gì thì chịu nấy.  

Có thể nói, Thượng đế đã thiết kế vũ trụ vật chất như một tấm gương. Nó giống như một màn ảnh chiếu phim, phản ánh những gì được chiếu lên nó xuyên qua tâm con người. Cho nên bất cứ hình ảnh nào con giữ nơi những tầng cao của tâm con, nó sẽ định đoạt các điều kiện đời sống mà con trải nghiệm trong thế giới vật chất. Nếu con có một hình ảnh bất toàn, con sẽ tạo ra một biểu hiện bất toàn mà tự nó nhất định sẽ hủy hoại. Tựa như con xây cất một Tháp Babel vậy, nó nhất định phải sụp đổ do chính sức nặng của nó.

Ở khởi thủy của địa cầu, các sinh thể tự nhận biết mang tâm thức cao hơn con người bây giờ. Trong tâm thức đó, các dòng sống này tiếp xúc một cách ý thức với cái ta tâm linh cùng những vị thày tâm linh của mình. Con người sử dụng quyền tự quyết của mình để thử nghiệm với năng lượng của Thượng đế, và khi làm vậy, họ thường lầm lỗi, tạo ra những biểu hiện bất toàn. Tuy nhiên vì họ biết rõ quy luật sáng thế, họ có khả năng nhận ra bất toàn, thừa nhận sai lầm, và lập tức thay thế kết quả bất hảo bằng kết quả tốt đẹp hơn.  

Nhưng sau khi Con Người Sa ngã, loài người đánh mất liên lạc với cái ta tâm linh cùng các vị thày tâm linh của mình, và vì vậy họ cũng không còn biết gì về quy luật sáng thế nữa. Họ quên mất quy luật rằng bất cứ gì mình tạo ra trong cõi vật chất chỉ đơn giản là sự phóng chiếu những hình ảnh được cầm giữ nơi ba thể cao hơn. Và như thế, họ cũng mất luôn hiểu biết rằng họ có khả năng thay đổi điều kiện vũ trụ vật chất bằng cách thay đổi nội dung các thể cao.   

Thế là con người bắt đầu tin rằng các điều kiện trong thế giới vật chất là vĩnh viễn, vượt ngoài tầm kiểm soát ý thức của mình. Họ bắt đầu xem mình là nạn nhân của những tình huống mà họ không hề gây ra. Họ bắt đầu coi mình là nô lệ của những thế lực ngoài vòng kiểm soát. Nếu nhìn dưới một khía cạnh nào đó thì quả thật là họ không sai. Đúng vậy, vì khi không chịu thay đổi cảm xúc, tư tưởng cùng bản sắc của mình, thì tất nhiên họ không thể thay đổi thế giới vật chất, và họ trở thành nạn nhân của điều kiện đời sống. Kẹt một nỗi là một khi mình đã tạo ra các điều kiện đó thì bây giờ mình phải tháo gỡ nó đi.

Chính vì đã quên, đã từ chối trách nhiệm về hoàn cảnh của mình như vậy mà họ đã tạo cơ hội cho một số sinh thể từ các bầu cõi cao hơn – những sinh thể đã đối nghịch lại quy luật Thượng đế – đầu thai trên địa cầu. Trong bài giảng, đức Mẹ Mary cũng mô tả sự kiện này.  

Con thấy đó, có sự khác biệt căn bản giữa thử nghiệm quyền tự quyết của mình (và lầm lỗi khi mình làm vậy) với cố tình đối nghịch lại quy luật cùng ý chỉ sáng tạo của Thượng đế. Như Mẹ Mary có mô tả, một số sinh thể trong cõi tâm linh đã chủ tâm nghịch lại quy luật cùng ý chỉ sáng tạo của Thượng đế. Xong chúng bị sa xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn, và cuối cùng một số đã đầu thai ở địa cầu.  

Những sinh thể đó đã khuynh loát nhiều người tin vào lời gian dối rằng tự do tối hậu chỉ có thể đạt được khi mình đi ngược lại quy luật Thượng đế. Chúng đã lừa dối tinh vi để gạt gẫm con người vi phạm quy luật Thượng đế, đồng thời tin rằng những hậu quả xấu mà mình gặt hái là không thể tránh được, thậm chí còn do Thượng đế làm ra.

Khi loài người rơi vào tâm thức thấp hơn, đó là khởi đầu cho một tiến trình ô nhiễm nơi bốn thể phàm của mọi người trên trái đất cũng như của tâm thức tập thể. Và điều này dẫn đến những điều kiện bất hảo dưới hình thức khổ đau, thiên tai cùng tai ương đủ loại.

Tất cả những gì con có thể thấy trong thế giới vật chất chỉ đơn giản là sự phản chiếu các thể cao hơn. Cả ba thể cao đó đã bị ô nhiễm và chứa đựng hình ảnh bất toàn. Nhưng có một thể đã hoàn toàn bị tà lực chiếm đoạt là cảm thể. Thể này là thể cốt yếu cho những ai muốn kiểm soát thế giới vật chất, bởi vì đó là cơ quan hoán chuyển tư tưởng thành hành động xác thân.

Bản chất của cảm xúc là lấy hình dạng của bất cứ hình ảnh nào được trí thể chiếu vào nó. Cảm xúc là năng lượng chuyển động, mà năng lượng thì không có ý niệm gì về đúng hay sai. Khi nó được hướng tới một hành động, nó sẽ tuôn vào đó mà không xét tới hậu quả. Cho nên nếu tà lực đã chiếm đoạt cảm thể một người, chúng có thể thao túng cho người đó làm bất cứ gì mà không xét đến hậu quả, không cân nhắc phải trái. Đây là nguồn gốc của hội chứng “Nếu thích thú thì cứ việc làm”, là hội chứng dựa trên lời dối gạt tinh vi rằng nếu mình cảm thấy ưa thích điều gì thì điều đó không thể sai trái.    

Vậy bây giờ con đã thấy, có những thế lực không ngừng ra sức thao túng con người qua cảm thể. Một cách để chúng thực hiện điều này là khiến cho cảm thể con người luôn luôn dao động, rồi dần dần chúng bồi thêm cường độ cho tới khi người đó không thể cưỡng lại năng lực cảm xúc được nữa. Cảm xúc trào ra thành hành động, và đây là hiện tượng khi những cá nhân, những nhóm người, thậm chí cả quốc gia, cảm thấy bó buộc phải làm những hành động mà họ bình thường không bao giờ làm. Đây là nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh. Trong suốt thời gian dẫn đến chiến tranh, con sẽ thấy cảm thể của cả một nước bị kích động tới mức người ta cảm thấy phải làm một cái gì đó, và cái đó là phải chiến đấu chống lại kẻ thù được coi là đã gây ra kích động.

Các sinh thể trí năng trong cả bốn cõi

Có điều quan trọng nữa ta muốn giảng cho con trong bài này là nơi cả bốn cõi của vũ trụ vật chất, có những sinh thể trí năng tự nhận biết. Con người là những sinh thể trí năng sống trong cõi vật chất. Nơi ba cõi cao hơn cũng có những sinh thể trí năng. Một số những sinh thể đó chưa từng hiện thân trong một thể xác vật lý. Còn một số khác thì đã từng đầu thai nhưng hiện đang cư ngụ ở những cõi khác của vũ trụ vật chất.

Tiến trình tự nhiên của các dòng sống là đi xuống một xác thân vật lý để thử nghiệm cõi vật chất, và giúp Thượng đế đồng sáng tạo tầng cấp này của thế giới hình tướng. Một khi đã hoàn thành mục đích hiện thân trong vũ trụ vật chất, dòng sống sẽ thăng lên cõi tâm linh. Nói cách khác, nếu một dòng sống còn ngụ, hoặc bị kẹt lại, nơi bốn cõi vật chất, cảm xúc, tư tưởng hay bản sắc, thì đây không phải là chuyện tự nhiên. Như trường hợp một dòng sống bị mất quân bình khiến cho một hay nhiều thể của mình bị tha hóa, thì dòng sống đó có thể bị kẹt lại trong vũ trụ vật chất, không có khả năng thăng lên cõi tâm linh..   

Bốn thể phàm tương ứng với bốn nguồn lực của Cha, Con, Mẹ và Thánh linh. Cha tương ứng với bản sắc thể, Con với trí thể, Mẹ với cảm thể, và Thánh linh với xác thể. Nếu một dòng sống bị mất quân bình trong cả bốn thể phàm, nó sẽ bị kẹt lại trong cõi vật chất, và nó sẽ mãi tái đầu thai trong một loạt thân xác khác nhau. Nếu một dòng sống đạt được quân bình xác thể nhưng không trong ba thể kia, nó có thể bị kẹt lại nơi cảm thể. Nếu nó đạt được quân bình xác thể và cảm thể, nó có thể bị kẹt lại nơi trí thể, và nếu nó quân bình được cả ba thể thấp thì nó có thể bị ket lại nơi bản sắc thể.

Nếu con muốn thật sự hiểu tại sao ta giảng dạy bài này, con cần nhận rõ rằng cả bốn cõi của vũ trụ vật chất chỉ khác nhau về rung động. Cho nên khi học bài này, con đừng rơi vào cái bẫy của lối suy nghĩ đường thẳng. Chẳng hạn, vì cõi vật chất có độ rung thấp nhất và các cõi kia có độ rung cao hơn, con dễ nghĩ lầm rằng ba cõi kia nằm cao hơn, vượt ngoài cõi vật chất. Nhưng nghĩ vậy không chính xác đâu.      

Ngay trong căn phòng con đang ngồi, có rất nhiều làn sóng vô tuyến đang hiện hữu trong cùng một khoảng không gian. Các sóng vô tuyến này tồn tại trong cùng một không gian với cơ thể con, với tường, bàn ghế và không khí trong phòng. Cũng vậy, những tần số rung động khác nhau có thể tồn tại trong cùng một không gian. Điều ta muốn nói là cõi vật chất tồn tại ở ngay cùng một chỗ với các cõi khác – cảm xúc, tư tưởng và bản sắc.

Điều quan trọng cần nhận rõ ở đây là giữa bốn cõi không hề có hàng rào bất khả xâm nào. Nói cho đúng, các cõi đó còn có thể trùng lấp nhau nữa. Chẳng hạn, rất có thể ở một khu vực nào đó của cõi vật chất, các rung động được biến đổi để chúng cộng hưởng với rung động ở một cõi khác.

Tâm con người có khả năng hoạt động như chiếc máy radio. Như ta vừa nói, có rất nhiều làn sóng vô tuyến xâm nhập vào căn phòng mà con đang ngồi. Nếu con bật máy lên, con có thể bắt được từng làn sóng bằng cách quay cái nút. Máy radio biến sóng năng lượng thành âm thanh nghe thấy, mà con nhận biết là những đài phát thanh khác nhau. Tâm con có khả năng tựa như chiếc máy radio vậy, nó có thể bắt sóng của mọi tầng cấp vũ trụ vật chất. Nó cũng có thể bắt được các tầng cấp trong cõi tâm linh. Nói cách khác, tâm con người có khả năng vượt ra ngoài cõi vật chất để đồng điệu với những sinh thể trí năng ở các cõi cảm xúc, tư tưởng, bản sắc, hoặc cả cõi tâm linh nữa.

Một hệ quả của lời dạy này là nếu con cố bắt liên lạc với sinh thể trí năng ở những cõi khác, con cần biết rằng không phải ai ai ở đó cũng thiện lành. Rất có thể một số đã từng cố tình đối nghịch lại các quy luật của Thượng đế, và họ sẽ cố lôi kéo con làm điều tương tự. Những lý do khiến họ làm vậy được giải thích trong bài giảng của đức Mẹ Mary.

Đã từng có một thời cả bốn cõi đều có những sinh thể thiện lành trú ngụ ở đó. Thế nhưng cõi cảm xúc bây giờ bị ô nhiễm, tha hóa đến độ không còn ai tốt nữa. Tất cả mọi sinh thể nơi cõi cảm xúc đều đã mất quân bình, họ tin rằng mục tiêu có thể biện minh cho mọi phương tiện, và phương châm của họ là “nếu thích thú thì cứ việc làm tới”. Trên địa cầu có nhiều người hiện thân tâm thức này bởi vì cảm thể họ bị mất quân bình do đồng cảm với cõi cảm xúc. Và họ trở thành nô lệ cho bọn thao túng đang hoành hành ở đó.

Cõi tư tưởng cũng bị ô nhiễm nặng nề, nhưng vẫn còn một số sinh thể không ác ý. Tuy vậy, rất nhiều trong số đó còn bị kẹt trong cách suy nghĩ rằng họ có thể hiểu được mọi chuyện bằng lý trí. Thậm chí, một số còn đinh ninh họ thông hiểu thế gian hơn cả Thượng đế và do đó họ hiểu rõ hơn Thượng đế phải vận hành vũ trụ làm sao. Đây là sự kiêu căng của trí thức, và con sẽ thấy trên địa cầu cũng có nhiều người hiện thân lòng tự kiêu này. Lý do là vì trí thể của họ đã đồng tình với những sinh thể tự kiêu nơi cõi tư tưởng. 

Cõi bản sắc là cõi tương đối trong sạch nhất, cho dù cũng bị ô nhiễm bởi một ý niệm bản sắc sai lầm. Ở đây có những sinh thể tự xem mình tách biệt với Thượng đế, và họ phóng chiếu cái nhìn này vào tâm thức loài người. Nhưng song song cũng có những sinh thể trong cõi ether giữ vững được bản sắc đúng đắn rằng mình là sinh thể tâm linh.

Các thày trong Đại đoàn Thăng thiên giáo hóa để phục vụ loài người. Các thày sẵn sàng giao tiếp với bất cứ ai để giúp họ tiến bước trên đường tu tâm linh. Khi địa cầu còn trong sáng, các thày đã có thể hiện ra trước con người trong cõi vật chất, và ai nấy đều có thể gặp gỡ, đàm đạo với các thày. Điều này xảy ra không phải vì các thày đã hiện ra trong một thể xác vật lý, mà vì tâm thức con người thời đó còn trong trắng đến độ có thể nhận biết các thày trong “thân thể” tâm linh của các thày. Với giác quan vật lý, họ nhìn thấy được thân tâm linh của các thày.

Nhưng ngày nay, những sự mất quân bình mà loài người tạo ra đã kéo thấp độ rung của toàn cõi vật chất, và việc nhận biết các thày đã trở nên khó khăn hơn. Con người không thể nhận biết các thày qua giác quan của cơ thể, trừ những trường hợp hiếm hoi khi các thày mượn tạm một thân thể vật chất.

Cho nên muốn giao tiếp với Đại đoàn Thăng thiên trong thế giới hiện đại, con phải nâng cao tâm thức, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của mình. Con chỉ tạo được quân bình bằng cách đạt đến trung đạo của tâm thức Ki-tô. Nếu con không quân bình trong tâm Ki-tô thì con sẽ không liên lạc được với Đại đoàn Thăng thiên. Nhưng tiếc thay, con vẫn có khả năng liên hệ với các sinh thể trú ngụ nơi các cõi phàm. Con đừng quên rằng chúng bị kẹt lại ở đó chính vì chúng đã mất quân bình trong một hay nhiều thể. Cho nên nếu con muốn giao tiếp một cách an toàn với cõi trên, con cần phải vươn lên tâm thức Ki-tô, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của con.

Thiên đàng hay Địa ngục trên địa cầu

Qua bài giảng này ta còn có một mục đích nữa, là chỉ cho con thấy cả bốn tầng của vũ trụ vật chất đều tồn tại chung trong cùng không gian. Khác biệt duy nhất là độ rung. Vì tâm con người có khả năng điều khiển ánh sáng Thượng đế, nó có thể hạ thấp hoặc nâng cao độ rung của ánh sáng. Điều ta muốn nói là con người có khả năng thay đổi những rung động của thế giới vật chất để cộng hưởng với rung động của một trong mấy cõi kia.

Ví dụ, có nhiều khu vực trên hành tinh này, đặc biệt ở các thành phố lớn, nơi một số đông dân cư đã gia tăng sự mất quân bình nơi cảm thể mình đến nỗi toàn khu vực phải rung động ở tần số của cõi cảm xúc. Cõi cảm xúc hiện có những biểu hiện thấp kém nhất trong số các cõi. Một số khu vực của cõi cảm xúc đã thực sự trở thành cái mà người ta xem là Địa ngục. Cho nên trên địa cầu cũng có nhiều nơi với độ rung như cõi cảm xúc. Thực sự đó là những nơi Địa ngục Trần gian.  

Tương tự như vậy, có một số khu vực rung ở cùng tần số với cõi tư tưởng, chẳng hạn các học viện nơi người ta tôn vinh trí thức con người nhưng lại phủ nhận trí tuệ vượt trội của tâm Ki-tô. Và cuối cùng, có những khu vực được cống hiến cho sinh hoạt tâm linh, đồng điệu với cõi ether và cả với cõi tâm linh. Những nơi này chính là Thiên đàng Hạ thế.

Cho nên một lần nữa con thấy đó, con người có khả năng tạo dựng thực tại của mình. Con tạo ra thực tại qua quyền năng của tâm, nhưng để hiểu làm thế nào, con cần phải nhận ra rằng tâm con có đến mấy tầng. Tâm phàm của con rất giống một chiếc radio chỉ biết khuếch đại những tần số vô tuyến để giác quan có thể bắt được. Những gì con sáng tạo trong tâm phàm được định đoạt bởi những gì con tiếp nhận vào trong tâm từ các cõi cao hơn của tâm.   

Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu chiếc radio của tâm con sẽ bắt tần số của đài phát thanh nào? Nó sẽ đồng tần số với cái ta Ki-tô, hay nó đồng tần số với những sinh thể ở các cõi thấp? Ngay hôm nay con phải chọn con phục vụ cho ai. Con phải chọn gian phòng trong căn nhà của Cha ta nơi con muốn sống, và cách con chọn là đặt chú tâm vào một tầng cõi đặc thù nào đó. Nếu con còn mất quân bình nơi một thể thấp, con sẽ chú tâm vào cõi vật chất, cảm xúc hay tư tưởng. Nếu bản sắc thể của con còn mất quân bình, con sẽ chú tâm vào cõi bản sắc mà không lên được cao hơn. Nhưng nếu cả bốn thể phàm của con được quân bình thì con sẽ vươn lên cao hơn cõi bản sắc để hòa điệu với Đại đoàn Thượng thăng. Khi đó con sẽ trở thành cánh cửa mở cho rung động và chân lý nơi Thiên đàng xối xuống địa cầu. Con có khả năng trở thành cánh cửa mở đó để Lời Hằng sống chảy vào thế gian.   

7 | Tia thứ 14 của sự chia sẻ Hiện diện (và tia thứ 15)

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Sanat Kumara qua trung gian Kim Michaels, ngày 10 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Sanat Kumara TA LÀ. Thày đã không khỏi buồn cười khi quan sát một số đệ tử – một số thành viên của phong trào này cũng như những đợt truyền pháp trước – đã dần dà gán cho tên thày một địa vị cao cả nào đó, nghĩ rằng thày có gì đặc biệt hơn các chân sư thăng thiên khác. Sứ giả này đã rất ngạc nhiên khi ông gặp phản ứng như vậy ở Lourdes. Và thành thật mà nói, con yêu dấu, chính thày đây cũng ngạc nhiên. Trên cõi thăng thiên, tất cả các thày đều là một. Các thày giữ những trách vụ khác nhau trong đoàn chưởng giáo nhưng không hề có địa vị. Không hề có ý niệm giá trị là có gì cao trội hay quan trọng hơn những thứ khác.

Thật sự thày không quan trọng đến như vậy. Vì thày là gì? Thày là ông thợ chuyên môn sửa đồ cho vũ trụ. Thày là sinh thể chịu đi xuống hành tinh thấp nhất và giữ quân bình ở đó cho đến khi có ai khác làm được việc này. Đây không phải là điều con có thể gọi là một công việc cao lắm. Theo một nghĩa nào đó, thày là người thợ tân trang vũ trụ, con yêu dấu.

Chắc chắn trên thiên đàng có những sinh thể, chẳng hạn như chính Lucifer, đã không chịu bẩn tay làm những loại công việc mà thày đã và đang làm từ hàng bao nhiêu thiên niên kỷ, tính theo thời gian của loài người. Và như vậy một lần nữa, con thấy “Ai muốn là người cao nhất trong số các con, hãy để y làm đầy tớ cho mọi người.”

7.1. Vượt lên khỏi địa vị

Bởi vì sẽ đến một điểm khi con vượt khỏi sự tìm kiếm địa vị, tìm kiếm vị thế. Như Saint Germain đã trình bày, con vượt khỏi ảo tưởng cho rằng bằng cách đạt được một địa vị tối thượng nào đó – do thành tích đã qua hay do minh triết của mình trên đường tâm linh – thì con được đảm bảo bước vào vương quốc. Nhưng con thấy đó, vương quốc chỉ mở ra cho những ai đã vượt khỏi nhị nguyên. Và khi con vượt khỏi nhị nguyên thì không thể có phán xét giá trị, không thể có bất cứ địa vị nào.

Và như vậy, thày đến đây để trình bày với con về tia sáng thứ 14. Đây là một tia sáng vô cùng khó hiểu đối với tâm đường thẳng, còn đối với tự ngã thì không làm sao thấu triệt được.

Tất nhiên các thày phải dùng từ ngữ để giao tiếp theo hình thức này. Cho nên từ ngữ mà thày mong muốn con quán chiếu liên quan đến tia này là “Chia sẻ sự Hiện diện của mình,” chia sẻ Hiện diện Thiêng liêng của con.

Khi thày xuống trái đất, con yêu dấu, trái đất còn ở một mức thấp kém đến độ không có cả một nền văn minh như con thấy ngày nay. Không có phương tiện truyền đạt mà chỉ có những sinh thể mặc dù mang tiềm năng con người, nhưng lại sống như loài vượn tinh khôn, con yêu dấu. Thày có thể giảng dạy được gì? Không có tôn giáo nào trước đó mà thày có thể viện vào, chẳng hạn như Giê-su còn tìm cách đổi mới đạo Do Thái hay như Phật tìm cách đổi mới đạo Hindu. Hoàn toàn không có gì, tuyệt đối không có gì mà thày có thể viện vào. Không có bất cứ nền tảng nào để dựa vào đó mà giảng dạy tâm linh, bởi vì con không thể giảng dạy cho những sinh thể không có chút ý niệm nào về khía cạnh tinh thần của đời sống, thậm chí không có cả khái niệm về Thượng đế hay một đấng cao cả siêu việt.

Vậy thì thày có thể làm gì đây trên trái đất? À, thày có thể chia sẻ sự Hiện diện của thày, sự Hiện diện Thiêng liêng, qua đó thày cho phép các sinh thể mà thày gặp được trải nghiệm là có gì đó vượt khỏi trạng thái tâm thức hiện thời của họ.

7.2. Cái bẫy của hành động

Vì vậy khi con leo con đường tâm linh, vượt qua khai ngộ của các tia sáng kia, con dần dà thu hoạch được một tầm hiểu sâu xa hơn, một minh triết rộng lớn hơn. Tuy vậy, tầm hiểu lớn hơn này có thể trở thành một cái gông buộc quanh cổ, một gánh nặng đè con xuống, tạo nên những rào cản trong tâm con, qua đó con bắt đầu nghĩ là để đánh thức nhân loại – để đem lại minh triết Thượng đế hay Thời Hoàng kim của Saint Germain vào thị hiện – con phải xông ra ngoài trao cho mọi người những lời dạy phức tạp tinh xảo. Và lời dạy càng tinh xảo bao nhiêu thì con sẽ là một vị thày cao siêu bấy nhiêu. Đây chẳng phải là sự hiểu lầm rất phổ biến hay sao?

Nhưng thực tế ngày nay vẫn giống hệt thời ban sơ đó. Điều sẽ thực sự tạo khác biệt cho mọi người là họ trải nghiệm được Hiện diện Thiêng liêng. Con không thể trao món quà nào khác cho nhân loại – cho người khác, cho đề án của Saint Germain – ngoài việc chia sẻ Hiện diện Thiêng liêng của con.

Nhưng rất nhiều khi, con yêu dấu, vấn đề là tâm đường thẳng chứ không nhất thiết là tự ngã của con. Bởi vì khi con lên đến những tầng cao hơn, không cứ là tự ngã sẽ ngăn cản con mà là sự kiện cái ta ý thức của con vẫn chưa thăng vượt được tâm đường thẳng. Và vì vậy với tâm đường thẳng này, con bị ám ảnh quá đỗi bởi một lời dạy vỏ ngoài và tưởng rằng con phải xông ra ngoài rao truyền chân lý – một chân lý đặc thù nào đó – để khiến mọi người cải theo một giáo lý, một tổ chức hay một đạo sư đặc thù.

Và con thấy chuyện này xảy ra khắp thế giới – những người có thiện ý đã đạt được một mức trưởng thành nào đó trên đường tu tâm linh nhưng vẫn bị kẹt trong tư duy là họ phải thuyết giảng một cách biểu lộ sự thật như là sự thật cao nhất, như là giải pháp cho mọi vấn đề. Và khi họ xông ra ngoài và bị ám ảnh như vậy thì, như Gautama đã nói, họ quá chú tâm vào việc thay đổi người khác đến độ họ quên mất tầm quan trọng của việc LÀ chính mình. Họ quên chia sẻ con người mà họ là, không phải như một ngã tách biệt mà như cái ta Thiêng liêng, như Hiện diện Thiêng liêng.

Con yêu dấu, chắc chắn tâm vỏ ngoài có thể chụp lấy điều Giê-su đã nói về việc thách thức những kẻ nói dối và lời nói dối – thách thức các thày giả, thách thức bọn đổi tiền. Và tâm vỏ ngoài có thể hiểu điều này có nghĩa là con phải phản bác lời dối đó bằng một lời dạy đối chọi lại lời dối, tức là lời thật. Nhưng như các thày đã dạy, lời nói là lời nói. Lời nói chỉ tương đối. Con không có cách chi diễn đạt một sự thật tuyệt đối bằng lời nói.

Con hãy lắng nghe điều thày vừa nói. Không có cách chi diễn đạt một sự thật tuyệt đối bằng lời nói. Bất kỳ lời nói nào cũng có thể được diễn giải theo nhiều hơn một cách. Nếu thày nói ra điều gì đó và có mười người ngồi nghe, thì họ sẽ có mười trải nghiệm khác nhau về ý nghĩa câu nói.

7.3. Sự cần thiết của chứng ngộ

Đó là lý do tại sao, như các thày đã giải thích trong các bài giảng trước, sự chứng ngộ (gnosis) mới thật cần thiết, qua đó người nhận biết trở thành một với cái được nhận biết. Nếu con thực sự muốn hiểu – nắm bắt, rõ biết – những gì thày đang diễn tả, con phải vượt xa hơn ngôn từ và hòa điệu với Hiện diện của thày. Nếu con muốn một người khác hiểu được – nắm bắt được, rõ biết được – sự thật mà con đã ngộ ra, thì thật không đủ nếu con chỉ cho họ những chữ nghĩa, những lời dạy hay những kỹ thuật. Con phải chia sẻ Hiện diện Thiêng liêng của con.

Thày không bảo là con không thể cho họ chữ nghĩa, nhưng chữ nghĩa này không thể bị thấm đẫm với tâm đường thẳng muốn thay đổi họ. Chữ nghĩa phải được thấm đẫm với Hiện diện Thiêng liêng của con, với con người mà con thực là trong Bản thể cao của con đang tỏa rạng xuyên qua hình dạng thấp kém này. Và như vậy nó đánh động sâu thẳm trong tim họ một ký ức mờ nhạt là chính họ cũng đến từ một nơi vượt khỏi thế gian. Và bằng cách trải nghiệm sự chia sẻ Hiện diện vượt khỏi thế gian, trong họ bắt đầu khuấy lên một sự thức tỉnh, một sự hồi tưởng rằng chính họ cũng là nhiều hơn thế gian này.

Con yêu dấu, thật chẳng ích gì mà con xông ra ngoài với tầm hiểu biết mà con có, rồi tìm cách thách thức những người có một hiểu biết khác, hay một hiểu biết thấp hơn, hay một hiểu biết lầm lạc – nếu con chỉ làm vậy từ trình độ của tâm vỏ ngoài, thậm chí từ trình độ của tự ngã và sự phán xét giá trị của nó. Con sẽ chỉ cố xác định một sự thật tương đối như là cao hơn một sự thật tương đối khác, hay thậm chí cao hơn tất cả mọi sự thật tương đối khác. Làm vậy sẽ không giảm bớt mà sẽ chỉ gia tăng tình trạng tranh đấu nhị nguyên.

Thế nhưng nếu con trình bày sự thật của con được thấm đẫm với Hiện diện Thiêng liêng của con, thì quả thực con có thể đánh thức người khác. Con cho họ thấy là có một cách sống khác hơn cuộc tranh đấu nhị nguyên, cuộc tranh đấu muốn nâng một sự thật lên cao hơn mọi sự thật khác.

Con yêu dấu, con hãy sẵn lòng học hỏi từ tấm gương của thày. Đừng phán đoán ai là người sẵn sàng và ai chưa, ai là người xứng đáng và ai không. Đừng đặt ra những tiêu chuẩn hay điều kiện mà người ta phải hội đủ trước khi con chia sẻ sự thật của con với họ. Hãy sẵn lòng chia sẻ Hiện diện của con với tất cả mọi người. 

Sẽ có những người, con yêu dấu, ở trong một trạng thái tâm thức khiến họ chưa sẵn sàng – hay có lẽ tạm thời chưa sẵn sàng – để nhận một lời dạy tâm linh tinh xảo nào đó. Nhưng dù họ ở trong trạng thái tâm thức nào đi nữa – tạm thời hay dài hạn – họ vẫn luôn luôn sẵn sàng nhận lấy Hiện diện Thiêng liêng của con khi con chia sẻ.

7.4. Chia sẻ Hiện diện không bao giờ uổng phí

Việc làm này không bao giờ uổng phí, con yêu dấu. Không bao giờ có thể uổng phí dù người đó là ai. Con đã quá quen nhìn người khác và đánh giá xem họ có tâm linh hay không. Thói quen này đến từ đâu? Nó đến từ sự kiện suốt nhiều kiếp sống, con đã bị chối bỏ bởi những người không chỉ không tâm linh mà lại còn phản tâm linh. Cho nên con đã cho phép các thày giả và học trò của chúng bẻ cong nhận thức của con về lý do tại sao con ở đây. Và cảm xúc của con bị bóp méo đến độ con sợ bị bác bỏ, con sợ ném ngọc trai của mình cho lợn ăn, và con luôn luôn cố lượng định xem người kia có sẵn sàng hay chưa trước khi con mở miệng giao tiếp với họ.

Thày không bảo là con cần không lượng định. Bởi vì như thày đã nói, nếu một người chưa sẵn sàng nhận một lời dạy tâm linh cao siêu thì thật chẳng ích gì mà trao lời dạy này cho họ. Nhưng con luôn luôn có thể cho họ một ly nước lạnh nhân danh Ki-tô qua việc chia sẻ ly nước Hiện diện Thiêng liêng của con. Một số có thể từ chối, một số có thể lên án hay phán xét con. Điều này không can hệ gì đến con, bởi vì chiến thắng nằm ở chỗ con đã chia sẻ Hiện diện của mình chứ không phải là kết quả.

Thế giới này vẫn chưa thăng thiên. Yếu tố sẽ đưa thế giới này gần hơn với điểm thăng thiên là có một số người đang hiện thân trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng của Hiện diện Thiêng liêng chiếu xuyên qua hình dạng vỏ ngoài của họ, đi vào thế giới.

Thật không quan trọng gì nếu người kia không nhận, vì chỉ sự kiện ánh sáng đi vào thế giới thì thế giới đã thay đổi được một chút. Thế giới sáng hơn một chút. Và cuối cùng, nhiều ly ánh sáng nhỏ sẽ tạo được sự thay đổi lớn hơn.

Không một hành động chia sẻ Hiện diện Thiêng liêng nào sẽ uổng phí, bởi vì mục đích không cứ là để thay đổi một con người đặc thù – vì chúng ta phải luôn luôn tôn trọng quyền tự quyết. Nhưng quyền tự quyết không có nghĩa là người ta có thể ở lại trong bóng tối. Cho nên con có quyền hiện diện trong thế giới này để là cánh cửa mở cho ánh sáng, và cuối cùng thì ánh sáng sẽ soi sáng mọi thứ, kể cả tâm thức tập thể, hầu mọi người có thể bắt đầu nhìn ra những gì đã bị che giấu trước đó. Mọi người có thể bắt đầu xoay chuyển tâm thức của mình và có những chọn lựa tốt hơn, những chọn lựa sáng ngộ hơn.

7.5. Một dụng cụ để tâm tĩnh lặng

Vậy con thử nghĩ xem, nếu con thực sự muốn đem lại phụng sự cao nhất mà con có khả năng đem lại, thì con phải đạt tới mức sẵn lòng học hỏi trong tia thứ 14. Và làm thế nào con đạt tới đó? À, như Saint Germain đã nói, con phải chịu chất vấn mọi thứ, ngay cả giáo lý mà con đã thu hoạch qua một hành trình gian nan trên đường tâm linh, một giáo lý mà con cảm nhận là chân thực, tường tận và cao siêu hơn một số khác. Con thấy không, con phải đạt tới mức nhận ra là ngay cả giáo lý cao nhất cũng có thể không là giải pháp cho mọi vấn đề, không là giáo lý thích hợp cho mọi người.

Không có một giáo lý độc nhất nào sẽ tự động đánh thức mọi người. Tuy nhiên có một yếu tố có thể chạm được hầu hết mọi người theo một cách nào đó, đó là sự chia sẻ Hiện diện Thiêng liêng của con.

Con hãy xem xét kỹ lưỡng khái niệm này. Một số các con chưa sẵn sàng chấp nhận nó, nhưng nhiều người trong các con quả thật đã sẵn sàng – nếu con sẵn lòng kinh qua tiến trình tái sinh, là chấp nhận mình đã sẵn sàng chia sẻ phần nào Hiện diện Thiêng liêng của mình. Con đã làm vậy rồi nhưng con có thể làm nhiều hơn nữa bằng cách trở nên ý thức về tiến trình này, và do đó con hòa điệu với Hiện diện Thiêng liêng, thay vì chỉ thỏa mãn với tâm đường thẳng luôn luôn suy nghĩ mình phải nói gì, phải phát biểu những gì cho người khác.

Thay vào đó, con hãy nghe lời Phật, đi vào bên trong và khiến cho tâm tĩnh lặng. Vậy con yêu dấu, thày sẽ cố gắng cho con một phương pháp đơn giản nhưng hữu hiệu để con trải nghiệm sự tĩnh lặng đó. Con có thể áp dụng phương pháp này bằng nhiều cách. Nhưng ý chung chung là con dành một chút thời gian mỗi ngày, hay ít nhất càng thường xuyên càng tốt. Con hãy đi vào một căn phòng yên tĩnh. Ngồi xuống ghế thoải mái và giữ sống lưng tương đối thẳng. Sau đó, con hướng chú ý vào bên trong.

Không thể tránh được có tư tưởng khởi lên. Con đừng rơi vào bẫy cho rằng để tâm tĩnh lặng thì con cần chống lại tư tưởng, ngăn không cho chúng khởi lên. Vì khi con làm vậy thì con gây căng thẳng trong tâm. Và làm sao con có thể an định tâm khi con khiến nó thêm căng thẳng?

Nhiều người đã lãng phí không biết bao nhiêu thời gian cố gắng an định tâm khi thiền định, và qua đó họ chỉ gia tăng sự vật lộn và xáo trộn trong tâm. Thay vào đó, phương pháp thiền này rất giản dị. Con biết là đằng sau mọi hình tướng vỏ ngoài có một thực tại sâu hơn. Nếu con nhìn thân thể vật lý của con thì con biết là bên dưới lớp da mà mắt con nhìn thấy, có nội tạng và xương cốt. Nhưng nội tạng và xương cốt được cấu tạo bởi tế bào. Tế bào được cấu tạo bởi phân tử. Phân tứ được cấu tạo bởi nguyên tử. Nguyên tử giống như thái dương hệ tí hon có hạt electron bay quanh một cái lõi. Nhưng giữa electron và lõi là khoảng trống không.

Như vậy, khi con đi ra sau hình dạng vỏ ngoài càng ngày càng sâu, thì rốt cuộc con sẽ tới cái gì trống không. Trống không. Không có gì ở đó. Không có electron, không có neutron, không có proton. Không có phân tử. Không có “vật” gì.

Con có thể dùng một số cách hình dung khác nhau, có lẽ chính hình dung thày vừa cho con. Con cũng có thể hình dung một dòng sông luôn luôn cuộn chảy, tuy nhiên giữa các phân tử nước là khoảng trống không. Đằng sau dòng nước chảy là sự tĩnh lặng làm nền cho sự chuyển động.

Bởi vì sự chuyển dộng phải chuyển động tương đối với một cái gì, như con cũng biết là giác quan của con không thể phát hiện một chuyển động rất chậm khi không có gì làm mốc so sánh. Cho nên nói cho cùng, mọi chuyển động chỉ có thể có được do có một cái nền tĩnh lặng đằng sau.

Vậy con có thể thiền quán về một dòng sông. Khi tư tưởng khởi lên trong tâm con, con thấy chúng như xoáy nước trong dòng sông. Nhưng khi con đi sâu vào chúng và vượt quá chúng, rốt cuộc con sẽ tới tĩnh lặng. Điều quan trọng mà thày muốn nói là khi tư tưởng khởi lên, con đừng tìm cách đánh đuổi nó. Nhưng con cũng đừng tuôn chảy theo nó. Con đi thẳng vào nó. Con đi xuyên qua nó. Và con tìm cái gì đằng sau nó.

Một tư tưởng khác có thể sẽ khởi lên. Con lại đi vào nó, đi xuyên qua nó, tìm cái gì đằng sau nó. Nếu một tư tưởng khác khởi lên nữa thì con lại đi vào nó, đi xuyên qua nó, tìm cái gì đằng sau nó. Con yêu dấu, con cứ tiếp tục làm vậy thì rốt cuộc con sẽ đạt được một độ tĩnh lặng nào đó.

7.6. Dành thời gian trong tĩnh lặng

Con hãy cứ thực hành thiền quán này mỗi ngày thì con sẽ tới điểm có thể nhanh chóng đi vào tĩnh lặng và trải nghiệm là đằng sau, vượt quá dòng tư tưởng, có sự tĩnh lặng – một sự Hiện diện chính là ý niệm con là ai, ý niệm con đang Là, ý niệm “TA LÀ”. Và chính vì con có ý niệm “TA LÀ” này mà có thể có tư tưởng khởi lên trong tâm con, trong con người con. Do đó khi con vượt quá từng tư tưởng, từng cảm xúc, từng cảm nhận trong tâm, thì con tới cái nền của sự Là, chính là Hiện diện cốt lõi của con, Hiện diện TA LÀ của con.

Khi đó, con hãy trụ trong sự tĩnh lặng đó – không cố gắng, không mong cầu, không cầu xin, không cầu nguyện bất cứ gì. Con yêu dấu, hãy cảm thấy thật đủ khi con giản dị trải nghiệm Hiện diện. Và khi con cảm thấy đã đến lúc ra khỏi thiền, con hãy từ từ và nhẹ nhàng trở về trạng thái tâm thức bình thường của con.

Bài tập thiền này không cần lâu. Khi con đã quen thuộc thì con chỉ cần bỏ ra vài phút mỗi ngày. Sau đó, con giản dị bước ra khỏi thiền và làm công việc hàng ngày của mình, không chờ đợi, không cầu mong, không đòi hỏi gì. Nhưng con sẽ ngạc nhiên nhận ra là việc tiếp cận Hiện diện có thể là chất xúc tác để mang lại ý tưởng mới, tầm nhìn mới, sáng kiến mới khởi lên trong tâm vỏ ngoài của con. Những ý tưởng mà con biết không thuộc về tiếng ồn ào tạp nhạp trong bầu khí quyển của trái đất do tâm thức tập thể tạo ra, mà đến từ một cõi cao hơn, có một tính chất vô biên nào đó – và như vậy con cho phép mình nhập vào dòng chảy sáng tạo đem lại những giải pháp mới, tầm nhìn mới.

Rồi khi con hòa điệu với Hiện diện đó, con cũng có thể mang theo cảm giác tĩnh lặng này với con. Con sẽ tới điểm có thể bắt đầu phát biểu trong tĩnh lặng, để lời nói của con không tuôn ra từ tiếng ồn ào trong tâm con hay trong tâm thức tập thể đang tìm cách chống lại một hình thức ồn ào khác. Thay vào đó, lời nói của con chảy ra từ một tầng thâm sâu hơn, nó được thấm đẫm một cái gì đó. Nó được thấm đẫm với Hiện diện, nó chạm được người kia ở một tầng sâu hơn vì nó đánh động tim họ và giúp họ nhìn vượt lên.

Đôi khi việc thách thức người khác một cách thẳng thắn và đối đầu là một phương thức chính đáng. Đối với một số các con, đây là cách phát biểu tự nhiên, ít nhất ở tầng tâm thức hiện tại của con. Thày không muốn nói là tất cả các con phải tự biểu lộ theo cùng một cách. Thày chỉ giản dị nói rằng tất cả các con đều có tiềm năng chia sẻ Hiện diện của mình một cách nào đó, để lời nói của con có gì hơn ngôn từ và tâm đường thẳng, để nó được thấm đẫm bởi một cái gì chân thực, con yêu dấu.

7.7. Thày kêu gọi sự thực lòng khi biểu hiện tâm linh

Con thử nhìn những người tâm linh và người mộ đạo trên hành tinh này mà xem. Hãy bật tivi vào ngày chủ nhật khi các nhà giảng đạo đang phát sóng. Hãy chú ý khi con nghe những người tâm linh khác nói chuyện về tâm linh và nhìn xem họ phát biểu từ tầng mức nông cạn đó thường xuyên đến chừng nào – từ tâm đường thẳng – hay thậm chí từ tự ngã với tất cả những nỗi sợ hay ham muốn kiểm soát của tự ngã. Xong con hãy nhận ra là để có được một sự thức tỉnh tâm linh mới trong thời đại hôm nay, điều này sẽ không đến từ những kẻ thuyết giảng từ tâm vỏ ngoài. Nó sẽ chỉ đến khi có những người làm cánh cửa mở cho một cái gì thâm sâu hơn, một cái gì chân thực chạm được con tim.

Xong con nhìn nhận đây có lẽ là nhu cầu to lớn nhất mà con có thể đáp ứng trong thời đại này – trở thành một người được biết đến như là người nói chuyện thực lòng về đời sống tâm linh của mình. Con đem lại một tiếng nói mới lạ vào cuộc đối thoại về tâm linh, vào lãnh vực tâm linh và tôn giáo, qua đó con không chỉ đứng về một phe và bênh vực một tôn giáo nào đó, hay đứng về phe kia và tấn công mọi tôn giáo từ một nhãn quan khoa học duy vật, mà con vượt hẳn kiểu tranh luận đó. Con tìm được con đường Trung đạo làm một người chân thực. 

Bởi vì con phát biểu từ tĩnh lặng. Con thấm đẫm lời nói của con với sự Hiện diện mà con là. Bởi vì con biết con là Hiện diện đó. Bởi vì con đã tái sinh vào sự chấp nhận rằng con là một biểu đạt của Hiện diện.

Và như thế, khi con biết mình là ai, làm sao con lại không thể biểu lộ cái đó trong mọi lời mình nói, trong mọi việc mình làm, trong mọi tư tưởng và cảm xúc mình có? Bởi vì đó là điều sẽ cho con niềm vui và sự toại nguyện lớn nhất.

Con yêu dấu, tự ngã tìm sự thỏa mãn nào đó khi nó thuyết phục người khác là nó đúng. Nhưng có một niềm vui sâu hơn gấp bội khi con cảm được dòng chảy của Hiện diện mình xuyên qua con người vỏ ngoài, khi con cảm rõ sự biểu lộ đó, khi con trải nghiệm dòng chảy sáng tạo đó. Và cũng vậy khi đôi khi con thấy người khác hồi đáp với con như thế nào, họ ngạc nhiên như thế nào, vì họ thấy đây là một người nói chuyện tâm linh mà không theo kiểu thông thường. Đây là một tiếng nói khác hẳn.

Và thoạt tiên, họ có thể không biết xử sự làm sao. Nhưng con sẽ thấy là nhiều người đáp ứng theo một cách mới, sâu sắc hơn. Họ sẽ được đánh thức – do con chia sẻ Hiện diện của con – để họ hòa điệu với chính Hiện diện của họ. Và họ sẽ cất bước trên cuộc hành trình, cho đến khi họ cũng đạt tới điểm có thể chia sẻ Hiện diện của họ. Và khi điều này lan rộng như những vòng tròn trên mặt nước, sẽ có nguyên một phong trào tâm linh chỉ giản dị chia sẻ Hiện diện, con yêu dấu. Người ta biểu lộ Hiện diện này mà không chờ đợi kết quả cụ thể nào, mà chỉ mong muốn chia sẻ con người mà mình là, chia sẻ Hiện diện của mình.

7.8. Phần thưởng của phụng sự là phụng sự HƠN NỮA

Vậy thì đây là tinh túy của tia sáng thứ 14. Thày, Sanat Kumara, đã nguyện làm đại diện cho tia này cho các dòng sống trên trái đất. Thày đã nguyện phụng sự để cho con các khai ngộ của tia này.

Nay con đã nhận được, con yêu dấu, một lời dạy vượt hẳn những gì đã được trao truyền trong các đợt truyền pháp trước. Đừng để điều này trở thành một lý do kiêu hãnh hay cao ngạo. Đây là một lời dạy không được trao truyền vì con cao trội mà vì con đã chịu hạ mình xuống, tìm cái xà trong mắt mình, nhìn vượt quá tâm thức nhị nguyên và do đó cũng vượt khỏi mọi ý niệm tự hào, cao cả lẫn vượt trội.

Con đã sẵn lòng dùng bản thân mình giống như thày, Sanat Kumara, đã dùng bản thân thày khi đến trái đất – bước sâu vào vùng dày đặc mà không ngại lấm bẩn tay chân. Và như vậy, con đã xứng đáng nhận được đặc ân là một lời dạy có khả năng đưa con vượt cao hơn, để con trở thành một người phụng sự giỏi hơn nữa cho Đại đoàn Thăng thiên và Saint Germain, cho Giê-su và Phật cùng với nhiều vị khác ở cõi thăng thiên. Phần thường của việc phung sự là phụng sự HƠN NỮA. Và vì vậy mới có lời dạy này về cách phụng sự cao hơn.

Như vậy có bảy tia sáng đã được sử dụng để thị hiện cõi vật chất. Có một tia là tia thứ tám, nằm ở điểm eo nối kết của dòng chảy hình số 8, và có bảy tia đầu hình thành phần dưới của hình số 8. Sự đối xứng, tất nhiên, là đặc tính cố hữu của sáng tạo, cho nên cũng có bảy tia khác hình thành phần trên. Thày vừa giảng về tia thứ 14, nhưng có một tia thứ 15, hoàn tất tấm hình bảy trên, bảy dưới với một ở ngay eo.

Tia thứ 15 là một tia sáng mà tâm đường thẳng không thể nào nắm bắt, dù dưới dạng nào hay trong điều kiện nào. Nó không thể được mô tả bằng ngôn từ. Nhưng thày muốn con biết là nó có thật, và thày sẽ cho con cái gì đó để con quán chiếu. Vậy con hãy quán chiếu sự vô điều kiện. Và vượt cả sự vô điều kiện là sự vô hạn. Vô hạn.

Vô hạn.

Bởi vì ở ngay đỉnh hình số 8 là điểm dị biệt, là chính Đấng Sáng tạo. Đấng Sáng tạo vô hạn, không có điều kiện, không có hình tướng nào mà ngôn ngữ hay hình ảnh có thể tóm bắt. Tuy vậy, vì cái ta ý thức của con là một phần nối dài của Đấng Sáng tạo, cho nên con có khả năng trải nghiệm Hiện diện của Đấng Sáng tạo bằng cách vượt lên khỏi mọi điều kiện.

Bởi vì tương tự như vậy, Đấng Sáng tạo cũng mong muốn chia sẻ Hiện diện của ngài. Và đây là tại sao con hiện hữu, tại sao thế giới hình tướng hiện hữu. Giản dị chỉ là Đấng Sáng tạo đang chia sẻ Hiện diện của mình. Và con có thể dự phần vào đó, nhưng cách hay nhất để dự phần vào Hiện diện của Đấng Sáng tạo – Hiện diện Vô hạn của Đấng Sáng tạo – là con chia sẻ Hiện diện của con, dù có hạn nhưng thiêng liêng, với người khác.

Chính khi con cho đi mà con nhận được. Khi con để cho ánh sáng chảy vào người khác thì con mới trải nghiệm được ánh sáng này đến từ đâu. Khi người khác trải nghiệm ánh sáng đi xuyên qua con, thì con cũng trải nghiệm nguồn gốc tận cùng của ánh sáng – là điểm dị biệt của tâm vô hạn, Tâm Một.

Vì vậy với niềm vui rất lớn, thày niêm phong các bài giảng này đã khởi sự từ hội nghị Tân niên và bây giờ đạt đến một điểm hoàn tất nào đó, nơi con có thể đặt tất cả các bài giảng thành một tổng thể mạch lạc có khả năng giúp mọi người biểu hiện sự chữa lành cá nhân, sự trọn vẹn cá nhân của mình.

Bởi vì đây thực sự là những chìa khóa chủ yếu, con yêu dấu, dành cho những ai có tai để mà nghe – những ai không tìm cách diễn giải qua tâm đường thẳng mà sẵn lòng với vào trải nghiệm nội tâm đó, sự chứng ngộ đó trong Tánh linh là nguồn cội của ngôn từ – để họ có thể trải nghiệm Hiện diện vượt khỏi mọi cách diễn đạt.

Các thày rất biết ơn tất cả các con đã tham gia vào phong trào này và cho các thày một nền tảng để truyền rải lời dạy này.

6 | Tia thứ 13 của dòng chảy sáng tạo

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Saint Germain qua trung gian Kim Michaels, ngày 10 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Saint Germain TA LÀ. Và thày cũng đến trong sự Hiện diện của quả vị Phật mà thày vừa chứng ngộ. Nhưng vì thày chứng ngộ không lâu như Giê-su cho nên thày sẽ đứng. Bởi vì thày thật chưa sẵn sàng ngồi xuống, con yêu dấu, khi thày mang nhiệm vụ trưởng giáo cho Thời đại Bảo bình.

Không phải là thày muốn đổ tội cho bào huynh yêu dấu của thày, Giê-su, là đã ngồi chơi trong công việc, nhưng dẫu sao thày cũng cảm thấy là Hiện diện của thày có thể được biểu đạt tốt hơn qua việc sứ giả này đứng dậy. Và như vậy con có thể nói đùa là có những vị Phật ngồi và có những vị Phật đứng, tuy nhiên các thày vẫn đều là Phật.

Và tất nhiên, đây là một điểm cốt yếu. Bởi vì con đừng rơi vào bẫy mà nghĩ rằng con có thể áp đặt bất cứ hình tư tưởng nào lên Phật cũng như sự biểu hiện quả vị Phật, con yêu dấu. Tất nhiên đây là cái bẫy của tâm đường thẳng, cái bẫy của ngã tách biệt, của tâm thức nhị nguyên và các thày giả. Ngay khi các thày đưa ra một khái niệm, ngay khi các thày trao truyền một lời dạy, ngay khi các thày gửi xuống một người sẽ biểu hiện tâm thức cao hơn, thì chúng sẽ muôn kéo nó xuống tầm mức của tương đối, rồi tầm mức của nhị nguyên và áp đặt một hình tượng khắc lên đó. Đó chính là tại sao khi Môi-se lên núi, hai điều răn đầu tiên mà ông nhận được là: “Con không được có Thượng đế nào trước ta. Con không được làm tượng khắc nào cho mình.”

6.1. Khác biệt giữa sáng tạo và luật lệ

Con thấy đó, con yêu dấu, các điều răn nguyên thủy được trao cho Môi-se là những điều răn sáng tạo, nhưng khi ông xuống núi và nhận thấy mọi người không thể giữ tâm thức mình ở một tầng cao trong khi ông vắng mặt thể xác, thì ông ngộ ra là họ chưa sẵn sàng cho những lời răn này. Vì vậy ông phải lên núi trở lại, nhận một bộ lời răn mới, thô thiển hơn, tương đối hơn theo kiểu “phải làm cái này, không được làm cái kia.”

Con yêu dấu, đến một điểm trên đường tu tâm linh con phải vứt bỏ tất cả mọi luật lệ, mọi quy định, mọi giá trị “phải hay không được,” “được làm hay không được làm”. Và điểm này xuất hiện khi con vươn tới mức của tia sáng thứ 13, chính xác là tia của dòng chảy sáng tạo.

Sáng tạo, con yêu dấu, chỉ có thể được diễn tả như một dòng chảy. Nó không thể đứng yên. Nó là một chuyển động thăng vượt không ngừng. Nó thực sự là dòng chảy của sự sống.

Nếu nó dừng lại thì sự sống cũng dừng lại. Bởi vì điều gì nằm sau dòng chảy sáng tạo? À, đúng vậy, đó là Đấng Sáng tạo đang hướng chú ý của mình vào thế giới hình tướng – trong tư cách là Đấng Sáng tạo và đồng thời cũng qua trung gian những phần nối dài tự nhận biết của ngài. Tất cả mọi người, tất cả mọi sinh thể tự nhận biết ở bất cứ nơi đâu trong thế giới hình tướng chỉ có thể có được khả năng tự nhận biết là do có một dòng chảy chú ý liên tục của Đấng Sáng tạo xuyên qua bản thể họ.

Nhưng nếu con không nhận biết điều này thì thật ra con không có khả năng tự nhận biết đích thực, và vì vậy con không thể nói cùng với Giê-su: “Ta và Cha ta là một. Cha ta đã làm cho đến nay và ta cũng làm.”

Con nghĩ mình là một sinh thể tách biệt. Tuy nhiên vẫn có một dòng chảy chú ý nào đó từ Đấng Sáng tạo, vì nếu không thì giản dị con đã không tự nhận biết. Cho nên khi con vươn lên cao hơn trạng thái mê ngủ này, mà Giê-su gọi là chết, và nhận ra là mình đang sống – con là một sinh thể sống vì con là sự biểu hiện của chính nguồn sống, ngọn suối của sự sống – thì tất nhiên con có thể là cánh cửa mở cho một lưu lượng lớn hơn của dòng chảy đó. Và con sẽ có thể biểu đạt dòng chảy sáng tạo ngay cả trong vũ trụ vật chất dày đặc này, ngay cả trên hành tinh trái đất dày đặc này. Và do đó con có thể chứng minh rằng việc vượt qua mọi hạn chế và mọi vấn đề bằng cách liên tục sáng tạo cái HƠN NỮA, là chuyện khả dĩ.

6.2. Từ bỏ những định kiến lớn

Như các thày đã nói nhiều lần, con không thể giải quyết vấn đề bằng trạng thái tâm thức đã tạo ra vấn đề, chính vì khi con làm vậy, con chỉ buộc mình chặt hơn vào cuộc giao tranh nhị nguyên. Con bảo là vấn đề do một đối cực nhị nguyên gây ra, cho nên con phải đi vào đối cực nhị nguyên ngược lại và dùng cái này để hủy diệt đối cực đầu. Nhưng tất nhiên, cả hai đối cực nhị nguyên xuất hiện cùng một lúc, vì đó là cách duy nhất cái vô hạn có thể phân chia để tạo ra ảo tưởng tách biệt.

Và vì vậy, con yêu dấu, con không thể nào dùng một đối cực nhị nguyên để hủy diệt đối cực kia. Cái gì tùy thuộc vào cái khác thì không thể hủy diệt cái khác đó. Hai cái sai không thành một cái đúng. Hai cái tiêu cực không thể tiêu trừ lẫn nhau.

Đó là tại sao giải pháp duy nhất cho bất kỳ vấn đề nào là phải với ra khỏi trạng thái tâm thức đang trải bày điều kiện mà con cố thay đổi. Xong con đưa ra một giải pháp, một nhãn quan HƠN NỮA – một sự biểu đạt sáng tạo vượt ra ngoài cách biểu hiện cũ và trạng thái tâm thức cũ.

Đấy thật sự là uy lực của tia sáng thứ 13. Nó vượt ra khỏi cả bảy tia sáng đầu mặc dù có một số điểm tương đồng. Nhưng con thấy đó, để thực sự vượt qua các khai ngộ của tia thứ 13, con phải thực sự vứt bỏ mọi quy luật, mọi thành kiến, mọi ý tưởng sẵn có.

Hôm qua thày đã truyền cảm hứng cho sứ giả này tìm kiếm gì đó trên internet, và ông đã đọc được câu trích dẫn như sau: “Giải pháp cho những vấn đề lớn đòi hỏi sự từ bỏ những định kiến lớn.”

Vì con thấy đó, con yêu dấu, vấn đề được tạo ra từ một định kiến đã giới hạn tâm thức của con người, do đó hạn chế sự biểu đạt sáng tạo của họ. Cho nên trừ khi họ sẵn lòng từ bỏ định kiến, từ bỏ giới hạn cùng tin tưởng nhị nguyên đã tạo ra vấn đề, thì làm sao họ có thể mở tâm ra để nhận được giải pháp? Mỗi vấn đề đều sinh ra từ việc chặn nghẽn luồng sáng tạo, từ nỗ lực tóm bắt luồng sáng tạo trong một hình tướng xong duy trì hình tướng này.

Con yêu dấu, con nhìn trái đất và có thể thấy một số biểu hiện mà con sẽ dán nhãn là xấu xa, nhưng cũng có những biểu hiện khác con dán nhãn là tốt đẹp hay con không chất vấn là cần thay đổi. Nhưng cuộc sống là một tiến trình tụ thăng vượt không ngừng. Mức thành đạt của ngày hôm qua sẽ không đủ cho ngày hôm nay, bởi vì nếu một biểu đạt không thăng vượt thì con sẽ chặn nghẽn dòng chảy sáng tạo – vốn luôn thăng vượt bất kỳ biểu đạt nào để trở nên HƠN NỮA. Vì vậy khi con tìm cách bám giữ một hình tướng nhất định và hưởng thụ nó một thời gian, đó là lúc con chặn đứng dòng chảy sáng tạo. Đó là lúc con bước ra ngoài dòng chảy sáng tạo.

6.3. Dòng chày sáng tạo và thời gian

Bây giờ con cần hiểu là con đã được ban cho quyền tự quyết. Trong tư cách một người đồng-sáng tạo, con có quyền tạo ra một hình tướng nào đó và bảo: “Hình tướng này thật tuyệt vời. Tôi muốn tận hưởng nó trong hình dạng này thêm một chút nữa. Tôi muốn tận hưởng nó một thời gian.” Phải, con có quyền quyết định như thế, nhưng khi con làm vậy, không những con sẽ đem sáng tạo của con mà cả ý niệm cái ta của con vào cõi thời gian. Bởi vì trong dòng chảy sáng tạo, không có thời gian.

Thời gian không ý nghĩa gì trong dòng chảy sáng tạo, bởi vì trong cốt tủy, thời gian là khi con lấy một dòng đang chảy và chia nó thành nhiều khúc nhất định. Nhưng cái vô hạn không thể chia thành từng khúc, con yêu dấu. Đó là một dòng chảy không bao giờ ngừng chảy, cho nên thời gian hoàn toàn không mang cùng ý nghĩa khi con xuôi theo dòng chảy sáng tạo. Bởi vì con không tìm cách đứng yên một chỗ, con không tìm cách giữ nguyên một hình dạng nhất định dù là một khoảnh khắc. Tức khắc con cho phép hình dạng này thăng vượt, con tự cho phép mình thăng vượt hầu tạo ra một hình tướng cao hơn.

Chuyện này cũng giống như khi ở tuổi 11, con bỗng nhiên quyết định là con không muốn thân thể mình phát triển quá tuổi đó, vì vậy con gắng sức chặn đứng không cho nó lớn lên. Đấy, hiển nhiên chuyện này không thể làm được.

Bởi vì một lần nữa, có một vẻ đẹp nào đó khi con dõi nhìn sự phát triển của mọi thứ đang trải bày ra. Điều này không có nghĩa là những gì được tạo ra sẽ bị mất đi ngay lập tức, mà chỉ có nghĩa là nó nở ra như một đóa hoa đang nở. Nó sẽ không dừng lại giữa chừng. Không phải giống như mặt trời mọc lên vào buổi sáng bất thình lình quyết định ngừng lại khi đang nửa chừng trồi lên khỏi chân trời. Tất cả mọi thứ đều chuyển động trong dòng chảy sáng tạo và trở nên HƠN NỮA. Cho nên con xuôi chảy theo dòng trải nghiệm liên tục cái HƠN NỮA, thay vì tìm cách nắm lấy một trải nghiệm nào đó, ngừng dòng chảy, để mà có thể hưởng thụ trải nghiệm này một thời gian. Khi làm vậy thì con cũng tự đặt mình ra ngoài dòng chảy, con tạo ra một sự tách biệt, một khoảng cách giữa nơi con đang đứng trong tâm thức với nơi đáng lẽ con sẽ tới nếu con đã tiếp tục xuổi chảy theo Dòng sông sự Sống. Chính điều này tạo ra ảo tưởng thời gian.

Con yêu dấu, đây là điều mà đấng Mẹ đã nguyện cho phép con làm. Phật ban cho con không gian để con thử nghiệm với quyền tự quyết, còn Mẹ thì cho phép con thể hiện một hính tướng cụ thể, nhưng Mẹ cũng cho phép con quyết định liệu con có muốn duy trì hình tướng này trong một thời gian. Tất nhiên, Mẹ cũng đã gài sẵn lực co lại trong bản thể Mẹ, là lực sẽ rốt cuộc làm tan vỡ bất kỳ hình tướng nào mà con cố duy trì. Nhưng điều này cho con thời gian để mà trải nghiệm một hình tướng đặc thù cho đến khi con quyết định là con đã chán nó, con yêu dấu.

Đây là sự trải bày của Luật Tự quyết. Toàn bộ vũ trụ vật chất, ở mức tiến hóa hoàn vũ hiện thời, cho phép điều này xảy ra, tức là các sinh thể tự nhận biết có thể bước ra ngoài dòng chảy và mưu cầu sự duy trì hình tướng trong một thời gian, thay vì cứ liên tục thăng vượt hình tướng đó, thăng vượt ý niệm cái ta.

6.4. Ngã tách biệt không thể đưa con xa hơn bảy tia sáng

 Vì vậy một lần nữa, các thày ủng hộ quyền tự quyết như Phật đã giải thích. Khi con đi qua các khai ngộ của bảy tia sáng, con vẫn có thể duy trì một khía cạnh nào đó của ngã tách biệt. Và con có thể làm vậy bao nhiêu lâu con muốn. Nhưng một khi con bước vào cái mà trước kia gọi là tia bí mật, con không thể tìm cách duy trì ngã này được nữa mà đồng thời vượt qua khai ngộ của các tia bí mật. Con không thể ăn hết bánh mà vẫn còn bánh. Con phải sẵn lòng làm như câu nói: “Đứng dậy Peter, hãy giết và ăn.” Con phải giết chết cái ta cũ và trầm mình vào Dòng sông sự Sống, xuôi chảy với nó, và mỗi giây cho phép mình trở nên HƠN NỮA.

Con yêu dấu, con có thể nghĩ là sẽ nhàm chán biết mấy nếu cứ phải kinh qua cùng một trải nghiệm hết lần đến lần khác. Nhưng con hãy nhìn hành tinh này đi, nhìn xem biết bao người đã giữ cùng một việc làm suốt 30, 40 năm trời, mỗi ngày theo cùng một thông lệ, sáng thức dậy uống tách cá phê, xem tin tức hay đọc báo, đi làm cùng một công việc, chuyện trò với cùng những người đó, nói cùng những lời lẽ, trở về nhà ăn cùng một bữa cơm, bàn cùng một chuyện với người phối ngẫu, xem cùng một chương trình TV rồi đi ngủ. Và hôm sau lại lặp lại y như thế.

Làm đúng như vậy suốt mấy chục năm trời, con có thể nghĩ là họ sẽ chán ngấy. Nhưng con thấy không, họ không chán ngấy vì tự ngã của họ đã đặt họ vào đúng nơi nó muốn. Và chính họ cũng đang ở đúng nơi họ muốn, theo nghĩa là họ muốn trải nghiệm cảm nhận an toàn thoải mái kia. Tất nhiên theo quyền tự quyết, đây là quyền của họ.

Nhưng thày đang ở đây để nói với con là quả thật có một niềm vui lớn hơn rất nhiều khi con lại trầm mình vào Dòng sông sự Sống, quay trở về dòng chảy sáng tạo và cho phép mình trở nên HƠN NỮA. Con trải nghiệm là sự sống dồi dào chỉ có được khi con ở trong dòng chảy sáng tạo đó nơi tất cả mọi thứ đều trở nên HƠN NỮA. Bởi vì dồi dào là gì chứ? Là cái HƠN NỮA! Khi một điều gì dừng lại ở một mức nào đó thì nó hết là dồi dào, nó chỉ là một khối của cải nhất định hay là sự thiếu thốn của cải.

Dồi dào là một dòng chảy, dồi dào là sự lưu chuyển. Nếu ngừng lại, nó sẽ bắt đầu chết đi tức thì. Không có cách nào khác. Đây là định luật thứ hai của nhiệt động học, là lực co lại của Mẹ, là lực của Shiva làm tan vỡ tất cả những gì đứng yên và do đó đã chết về mặt tâm linh.

Con thấy đó, con yêu dấu, thật không có gì sai trái khi con muốn trải nghiệm một hình tướng nào đó trong một thời gian. Như thày đã nói, đó là quyền của con vì con có tự quyết. Nhưng vấn đề là để trải nghiệm một hình tướng trong bất kỳ khoảng thời gian nào, con sẽ phải chấp nhận hay tự xem mình là một bản sắc đặc thù, một cái ta đặc thù trong khoảng thời gian đó. Và tất nhiên ý niệm cái ta này phải được định nghĩa trong cõi tách biệt, tức là cõi của các đối cực nhị nguyên.

6.5. Tại sao trong thời gian luôn luôn có đối chọi

Cho nên luôn luôn sẽ có gì đó chống lại ý niệm cái ta của con, chống lại sự duy trì hình tướng, chống lại cảm nhận an toàn và thoải mái của con, con yêu dấu. Tại sao con thấy cuộc khủng hoảng tài chánh xảy ra gần đây? Bởi vì có quá nhiều người trở nên thoải mái quá đỗi với tình trạng tài chánh của họ, tưởng rằng mọi chuyện sẽ tiếp diễn như vậy mãi mãi. Và rồi phải đến một điểm khi lực co lại đập đổ các tòa tháp Babel đã được dựng lên trong nền kinh tế, thì bỗng chốc người ta mới bắt đầu cảm thấy là có lẽ tương lai kinh tế của mình không an toàn như mình nghĩ, có lẽ tương lai hưu trí của mình không đảm bảo như mình tưởng. Thế là đùng một cái, lựa chọn của họ là gì?

À, hoặc họ có thể bó tay và trông cậy vào chính phủ, hoặc họ có thể trở nên sáng tạo và nhờ vậy thị hiện sự dồi dào mà họ mong muốn. Cho nên con thấy đó, như luôn luôn, sự thoải mái, sự bằng lòng tự mãn chính là kẻ thù lớn nhất của tăng trưởng. Con có thể nghĩ kẻ thù lớn nhất của tăng trưởng là tà lực và ác quỷ, nhưng kỳ thực sự thoải mái – sự bằng lòng tự mãn, cảm nhận yên ổn cho rằng mọi chuyện như thế này đã tốt đủ – đây mới là kẻ thù lớn nhất của tăng trưởng.

Những ai quá hài lòng sẽ không thấy nhu cầu thăng vượt, do đó họ không thể tăng trưởng và được tự do. Vì họ bị giam trong mong muốn giữ nguyên một trạng thái nhất định, cho nên chú ý của họ, năng lượng sống của họ bị cuốn hút vào việc duy trì cái không thể duy trì. Bởi vì cái đó sẽ bị phá vỡ bởi chính sức mạnh của sự sống, nó sẽ bị đe dọa bởi một đối lực nhị nguyên.

Con thấy đó không phải là tự do, con yêu dấu. Họ có thể cảm thấy mãn nguyện vì tự ngã không ngừng dội bom vào lòng họ niềm tin rằng cuộc sống đang xảy ra đúng như nó phải xảy ra và họ phải bằng lòng. Nhưng tánh linh của họ thì vô hạn, nó không thể nào thực sự bằng lòng. Cho nên họ có thể tạm thời bỏ qua tiếng kêu của tánh linh vô hạn muốn trở nên HƠN NỮA, nhưng họ không thể làm vậy mãi mãi. Tới một điểm sẽ có một điều gì lay họ, đánh thức họ dậy khỏi cảm giác bằng lòng đó, thế là họ quyết định tăng trưởng, họ quyết định với lên cao hơn, với lên một cái gì sáng tạo hơn. Và đây, tất nhiên, là toàn bộ mục đích của tia thứ 13.

Tia thứ 13 nhằm trợ giúp những ai đã sẵn sàng, đã sẵn lòng bước trở lại vào dòng chảy sáng tạo, vứt bỏ những xiềng xích cuối cùng còn ngăn cách họ khỏi dòng chảy, con yêu dấu. Theo một nghĩa nào đó, con vẫn đang vứt bỏ xiềng xích khi con leo qua tất cả mọi tia sáng, kể cả bảy tia đầu, nhưng chắc chắn sẽ tới một điểm khi – như thày vừa nói – tất cả mọi luật lệ, mọi quy định, mọi mong muốn ngăn nắp trật tự phải được cho phép trôi đi.

Nói cho cùng, con không thể sáng tạo nếu con nghĩ là trong thế gian có bất cứ luật lệ nào hay điều kiện nào sẽ giới hạn sự biểu đạt sáng tạo của con. Không có cách chi con có thể xuôi theo Dòng sông sự Sống một cách trọn vẹn mà lại nghĩ rằng sự biểu đạt của mình phải được quy định bởi các điều kiện hiện hành trong vũ trụ vật chất. Bởi vì như thày đã nói, các điều kiện hiện hành trong vũ trụ này được quy định bởi sự kiện có quá nhiều người đồng-sáng tạo quyết định bước ra ngoài Dòng sông sự Sống, tìm cách ngăn chặn Dòng sông sự Sống, tìm cách tạo dựng một hình tướng cố định và duy trì hình tướng này trong chiều dài thời gian.

Và như vậy thì họ đứng ra ngoài dòng chảy sáng tạo. Thành quả biểu đạt của họ – tức là các điều kiện hiện hành – không phải là biểu đạt của dòng chảy sáng tạo mà của tâm thức nhị nguyên, của tư duy phản sáng tạo. Do đó nếu con nghĩ sự sáng tạo đích thực sẽ thích nghi được với phản sáng tạo, thì con không thể trầm mình vào sáng tạo đích thực. Con không thể nhập một với dòng chảy sáng tạo. Con yêu dấu, chuyện này không thể.

Cho nên con phải đạt tới điểm sẵn lòng vứt bỏ tất cả mọi thứ mà con nghĩ đã cho con một nền tảng vững vàng, kể cả cái nhìn của con về con đường tâm linh, về ý nghĩa của con đường tâm linh đối với con, về thế nào là thiên đàng, thế nào là Thượng đế.

6.6. “Đêm đen của linh hồn”

Con yêu dấu, có người đã nói đến đêm đen của linh hồn (dark night of the soul), đêm đen của tánh linh. Nhưng đêm đen là kết quả khi con đạt tới mức phải chất vấn những niềm tin thiêng liêng nhất của mình, những điều con xem là đương nhiên không cần tra vấn. Nếu con bám giữ những thứ này thì Tánh linh của con sẽ kéo con buông chúng ra. Nhưng nếu tâm vỏ ngoài của con không chịu buông thì con sẽ bị xé thành từng mảnh bởi những lực đối lập trong bản thể con.

Ý niệm cái ta, sự nhận biết ý thức của con sẽ có cảm giác bị giằng co theo hai hướng, tuy nhiên nó không thể động đậy, nó bị tê liệt. Và con sẽ không thể chuyển động chừng nào con còn nghĩ mình phải làm gì đó, bởi vì điều con cần làm là buông bỏ, con phải nhả cho nó ra đi. Con đơn giản phải sẵn lòng được tái sinh, và khi con tái sinh, khi con chấp nhận một ý niệm cái ta mới, thì con cũng chấp nhận đây là một cái ta đang chảy theo dòng sáng tạo và đang biểu lộ dòng sáng tạo – cho nên cái ta này đang ở đây để đem lại những giải pháp mới mẻ.

Giê-su có nói về mong muốn của thày cho những ai đạt đến một mức quả vị Ki-tô nào đó là họ có thể bước ra ngoài và thách thức các ảo tưởng của tâm thức nhị nguyên và các thày giả. Đó quả là một việc phụng sự và một khai ngộ vứa chính đáng vừa cần thiết. Nhưng có một công việc khác – không cứ là cao hơn mà đi song song – là thay vì con chỉ thách thức ảo tưởng và lời dối bằng cách chỉ ra tính không thực của nó, con đem lại một giải pháp sáng tạo cũng sẽ thách thức lời dối. Nhưng con đưa ra một cái gì vượt xa hơn hẳn – bởi vì mọi lời dối chẳng phải là một hạn chế, một điều được xem là đương nhiên không thể chất vấn, một sự giới hạn cho tư tưởng và sáng tạo hay sao?

Vì vậy khi con cho phép mình nhập vào dòng chảy, con có khả năng đem lại những góc nhìn mới, những giải pháp mới, những sáng chế mới sẽ thách thức cách người ta vốn làm mọi chuyện.

Con yêu dấu, không nhất thiết đó phải là một công trình gì hoành tráng. Thày muốn lưu ý con là khoảng hơn một thế kỷ trước, có hai anh em – sống không xa đây lắm – ngồi trong căn chòi gỗ thô sơ, thử nghiệm một số hình dạng cánh máy bay khác nhau trong đường hầm gió mà họ đã tự tay xây dựng. Họ muốn tìm xem hình dạng nào cho họ đủ lực nâng sẽ cho phép họ chế tạo một cỗ máy biết bay.

Con yêu dấu, hai anh em nhà Wright không phải là những người mà bình thường con sẽ gọi là anh hùng hay vĩ nhân. Trước khi họ cất cánh, họ chẳng được ai công nhận mà chỉ có vẻ là hai kẻ tầm thường sống trong những điều kiện khá thô sơ. Nhưng họ mang niềm khao khát muốn đập tan một trong những giới hạn lâu đời của loài người để khởi đầu một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho công nghệ máy bay. Đối với con đã lớn lên xem máy bay là chuyện hiển nhiên, con không thể thực sự tưởng tượng được sự xoay chuyển to lớn xảy ra trong tâm thức tập thể khi ai nấy nghe tin có người vừa chế ra một cỗ máy biết bay. Nó giống như một làn sóng chấn động chạy xuyên qua tâm thức tập thể, con yêu dấu.

Nó đã tạo ra một cuộc xoay chuyển địa chấn trong tâm thức tập thể vì bỗng nhiên, chỉ do sự kiện đơn giản là có người đã chứng minh được một chuyện mà mọi người bảo là bất khả thi, thì người ta bắt buộc phải tự nhìn mình một cách khác. Con thử nghĩ xem người ta thường nói: “Nếu Thượng đế muốn chúng ta bay thì ngài đã ban cho chúng ta đôi cánh rồi.” Không, con yêu dấu, ngài đã ban cho con một tâm trí có khả năng sử dụng dòng chảy sáng tạo. Nếu con dùng được tâm này thì sẽ không có giới hạn nào cho những gì có thể xảy ra. Kỷ nguyên của máy bay có thể đã đem lại nhiều thay đổi lớn lao, tuy nhiên nền công nghệ hiện hành để thực hiện chuyến bay vẫn còn vô cùng thô sơ so với những gì thày đã thiết kế trong phòng thí nghiệm của cõi ê-the. Công nghệ này tiên tiến hơn rất nhiều những gì con đang có, sẵn sàng để được trao cho nhân loại. Một vài chi tiết lẻ tẻ đã được tiết lộ nhưng chưa hoàn toàn bắt rễ.

6.7. Sáng tạo không có giới hạn

Và một lần nữa, dòng chảy sáng tạo có mặt ở đó, như một tiềm năng đằng sau mọi thứ. Không có giới hạn trong những giải pháp có thể được đưa ra, là những giải pháp sẽ không chỉ triệt tiêu một vấn đề cụ thể, mà còn cho phép nhân loại thăng vượt chính tầng mức đã sinh ra vấn đề.

Tương tự như vậy, con yêu đấu, cũng có một số loại công nghệ có khả năng cách mạng hóa lãnh vực chữa bệnh. Nhưng những loại công nghệ này không thể được rải truyền cho đến khi có một số lượng tới hạn những người sẵn lòng nhìn vào sự thật rằng một căn bệnh vật lý là cách biểu hiện của một trạng thái tâm thức, và vì vậy sự chữa lành không thể hoàn tất – tình trạng trọn vẹn không thể hồi phục – cho đến khi có sự thay đổi trong tâm thức. Và sự thay đổi tâm thức này không thể, không bao giờ có thể được chế tạo bằng một thiết bị máy móc. Không một công nghệ nào, một công nghệ máy móc nào có thể chế tạo một sự xoay chuyển tâm thức, bởi vì đây là một tiến trình sáng tạo, con yêu dấu.

Nhưng có một số loại công nghệ có thể được truyền rải – và đã từng được truyền rải trong các Thời Hoàng kim đã qua – đem lại khả năng tạo ra sự rung động thích hợp để loại trừ nguyên nhân của nhiều bệnh tật, ít ra là nguyên nhân vật lý. Tuy vậy, trừ khi một người thay đổi tâm thức của mình thì, đấy, cơ thể vật lý sẽ lại trải bày ra một dạng bệnh khác, con yêu dấu, ngay cả khi con dùng một thiết bị máy móc để tiêu trừ các triệu chứng của một căn bệnh. Việc tiêu trừ triệu chứng qua máy có thể tạm thời đem lại khuây khỏa và lành lặn, nhưng nếu con không lợi dụng sự khuây khỏa này để thay đổi tâm thức thì con đã không thực sự loại bỏ nguyên nhân của căn bệnh. Nguyên nhân này nằm trong tâm thức.

Cho nên con thấy là cho tới khi có một số lượng quần chúng tới hạn, và một sự nhận biết tới hạn, về nhu cầu chữa lành không chỉ cơ thể mà cả tâm nữa, thì các thày sẽ không truyền rải loại công nghệ sẽ đưa lãnh vực chữa lành và ngành y khoa lên một tầng mức cao hẳn một bực. Tương tự như vậy với nhiều loại cộng nghệ khác, phải có một sự tăng trưởng về nhận biết, qua đó con nhận ra – nhân loại cần bắt đầu nhận ra – rằng thế giới nơi con sinh sống không máy móc chút nào.

Thế giới không phải là một cỗ máy, không phải là một cỗ máy tinh xảo, mà là một sự biểu đạt của tâm thức, bao gồm cả chính trạng thái tâm thức của con. Chỉ khi đó thì loài người mới có chọn lựa, hoặc họ sẽ kéo dài tình trạng khốn khổ hiện tại, hoặc họ sẽ mở ra cho dòng chảy sáng tạo ngay trong họ, và như vậy gia tốc địa cầu vượt ra khỏi tình trạng hiện nay của khốn khổ, bất bình đẳng, vật lộn và đau đớn.

6.8. Khai ngộ của tia thứ 13

Chính thày, Saint Germain, đã đề xướng lời dạy này. Thày đã bảo trợ cho việc đề xướng lời dạy này về tia thứ 13 của dòng chảy sáng tạo, con yêu dấu. Con có thể thỉnh thày để học những gì con cần học hầu chứng ngộ tia thứ 13.

Con hãy để ý thày được biết đến như là Chân sư của Tự do. Con hãy để ý thày đã nói gì về việc từ bỏ các luật lệ, các quy định, các thành kiến của con. Con hãy sẵn lòng chất vấn tất cả mọi thứ.

Thày là một chân sư bận rộn. Là chủ xướng Thời đại Bảo bình hầu đem lại Thời Hoàng kim, thày lại còn làm việc với các đệ tử tâm linh. Cho nên thày không có thì giờ làm việc với những đệ tử nào vẫn còn đủ loại hộp tư duy trong tâm mà họ không chịu vượt qua, khiến họ không chịu chất vấn tất cả mọi thứ. Có những chân sư khác sẽ sẵn lòng làm việc với con nếu con vẫn ở mức mang theo một hộp tư duy mà con không chịu tra vấn. Nhưng thày, Saint Germain, thì không mong muốn, thày không sẵn lòng làm như vậy – vì thày sử dụng quyền tự do chọn lựa của mình để quyết định là thày không sẵn lòng làm việc với những đệ tử không sẵn lòng chất vấn mọi thứ. Thày sẽ không làm việc với những đệ tử mà, khi thày đến nói với họ “Con hãy xem xét chuyện này” thì họ phản ứng: “Ồ không được, tại sao con phải làm chuyện này chứ? Con không muốn suy nghĩ kiểu đó, vì trong một đợt truyền giáo trước có dạy rằng con không cần chất vấn niềm tin đó!”

Thái độ này, con yêu dấu, không đáp ứng yêu cầu của thày về một người làm đệ tử của thày. Thày không lên án con có thái độ đó, mà thày chỉ giản dị bảo con nên tìm một chân sư khác sẵn lòng làm việc với con – vì thày thì không. Đây là sự chọn lựa tự quyết của thày. Thày nói rõ thày là ai và thày chọn gì. Con hãy đến với thày khi nào con chịu chất vấn mọi thứ, còn nếu không, con hãy tìm một chân sư khác. Có những vị sẽ chịu làm việc với con, mặc dù khả năng của họ làm việc với con sẽ bị hạn chế bởi chính những điều con không chịu chất vấn.

6.9. Lucifer như đại thiên thần của tia thứ 13

Vậy thì con yêu dấu, bây giờ hãy để thày trình bày theo một hướng hơi khác là sự kiện Lucifer đã được gọi là đại thiên thần thứ 13. Thật vậy trong một bầu cõi cao hơn, Lucifer đã từng là một đại diện của tia thứ 13. Lucifer đã sa ngã qua một sự tha hóa của tia thứ 13, tia của tự do sáng tạo, của dòng chảy sáng tạo.

Có thể cần đến mấy tha hóa vi tế – rất vi tế – để đến mức đó. Nhưng một tha hóa vi tế là ý tưởng bảo rằng: “Nếu tôi có tự do sáng tạo hoàn toàn thì tại sao tôi lại không thể tạo ra một hình tướng xong duy trì hình tướng đó?” Như các thày có nói, con có quyền tìm cách duy trì một hình tướng, nhưng con không thể làm vậy trong dòng chảy sáng tạo. Bởi vì khi con ngừng lại ở một hình tướng nhất định, con không đang xuôi chảy nữa và do đó con phải tách mình ra khỏi dòng chảy.

Tha hóa kia, tất nhiên, là ý tưởng cho rằng quyết định của Thượng đế ban quyền tự do cho con người không thể nào dẫn đến kết quả chung cuộc là sự thị hiện của vương quốc Thượng đế. Bởi vì người ta sẽ lạm dụng quyền tự do này để làm bất cứ gì, kế cả chuyện chống đối lẫn nhau. Vì vậy tự do cần phải hạn chế, tự do cần phải ép buộc. Con người phải bị ép vào một khuôn khổ, nơi ác quỷ nghĩ là y có thể đảm bảo sự cứu rỗi của họ nếu họ cứ tuân theo con đường cứu rỗi đích thực độc nhất mà y đã vạch ra. Nhưng đây là con đường tách biệt, con yêu dấu.

Con đường chân chính dẫn đến cứu rỗi, con đường chân chính dẫn đến sự thị hiện của vương quốc Thượng đế trong bầu cõi thấp, quả thực là dòng chảy sáng tạo đem lại những giải pháp cao hơn.

Con thấy đó, con yêu dấu, thật không quan trọng nếu một bầu cõi thấp kém, dày đặc đến đâu khi nó được tạo dựng lần đầu. Nếu các sinh thể tự nhận biết trong bầu cõi này sẵn lòng tự thăng vượt không ngừng, thì cuối cùng họ sẽ đưa bầu cõi của họ lên cao. Không thể nào khác được.

Tự thăng vượt sẽ dẫn đến sự biểu hiện của vương quốc Thượng đế. Luôn luôn đã từng như vậy và sẽ mãi mãi như vậy. Đó là cách duy nhất để thị hiện vương quốc Thượng đế khi con nhận ra rằng Thượng đế chính là Thượng đế Hằng sống đang tự thăng vượt chính mình.

Sẽ đến một điểm, con yêu dấu, con cần nhập vào dòng chảy sáng tạo đó khi con nói: “Tôi sẽ là cái tôi sẽ là!” có nghĩa là con sẽ, trong mọi lúc, là nhiều hơn cái con vừa là trước đó. Tha hóa là khi con nói: “Tôi sẽ là cái tôi đang là, tôi sẽ ở lại nơi tôi đang ở ngay bây giờ. Tôi sẽ ở lại đây một thời gian.” Khi đó con đã tách mình ra khỏi dòng chảy.

Và điều này phù hợp với những gì Phật đã nói, bởi vì một lần nữa, chính Lucifer đã được yêu cầu vượt qua khai ngộ mà Phật đã có nhắc đến, tức là khai ngộ khi con đang ở một bầu cõi cao hơn và phải bỏ lại đời sống của mình cùng thành đạt của mình cho những sinh thể ở bầu cõi kế tiếp. Nhưng Lucifer thì không muốn làm vậy, bảo rằng: “Tôi muốn ở lại trong địa vị cao trội này, nơi tôi được người cấp dưới ngưỡng mộ. Tôi không muốn xuống thấp, hy sinh đời sống cho những người chưa đạt đến trình độ có thể công nhận thành đạt của tôi.”

Và như vậy con thấy ý muốn chặn đứng dòng chảy sáng tạo, bước ra ngoài và giữ nguyên một vị thế nào đó. Bởi vì một lần nữa, con không thể giữ nguyên một vị thế trong dòng chảy, con yêu dấu.

6.10. Không có chuyện đứng yên trong dòng chảy sự sống

Bản thân Đấng Sáng tạo đã sẵn lòng để cho bản thể của mình bị “nhốt” trong thế giới hình tướng, để các sinh thể tự nhận biết có thể làm bất cứ gì họ muốn với bản thể của ngài. Cho nên đây chính là cốt lõi của dòng chảy sáng tạo, và con cũng phải sẵn lòng làm điều tương tự.

Không có vị thế nào, không có ý niệm cái ta cố định nào mà có bất cứ giá trị tối hậu nào, hay thậm chí có thể sống còn, con yêu dấu. Bất cứ lúc nào con cũng là con người mà con nghĩ con là, và bất cứ lúc nào con cũng có thể thay đổi con người mà con nghĩ con là.

Lời dối gạt là bảo rằng con người mà con là trong lúc này phải tùy thuộc vào con người mà con đã là trong quá khứ. Đây là lời dối gạt mà Lucifer đã truyền bá lúc đầu và được các thày giả truyền bá tiếp từ đó trở đi. Đây là lời dối của tự ngã. Đây là lời dối mà Peter đã trình bày với Giê-su khiến Giê-su quở mắng: “Hỡi Satan, hãy lui ra sau ta!” qua đó Peter bảo Ki-tô phải thích nghi với sự chờ đợi, hay với các luật lệ, các điều kiện sẵn có trong thế gian, thay vì biểu hiện tính siêu việt. Đây chính là sự tha hóa của dòng chảy sáng tạo.

Dòng chảy sáng tạo chỉ chảy thôi. Nó chảy. Nó chảy. Thày đã nói điều này bao nhiêu lần rồi? Thày cần nói thêm bao nhiêu lần nữa trước khi có gì đó trong tâm con ngộ được? Và con nhận ra bản chất của tâm thức tách biệt chính là một cố gắng chặn đứng dòng chảy, hầu bám lấy một trải nghiệm, một trạng thái tâm thức, một điều kiện vật chất nhất định. Đó là chết!

Sống là chảy. Sống là chuyển động. Sống là tiến lên. Sống là thăng vượt. Con yêu dấu, nếu con thành thật, nếu con chịu nhìn thật sâu vào chính mình và quán chiếu điều này, con sẽ phát hiện những lớp sâu thẳm vô cùng tinh tế của tự ngã đang muốn duy trì một điều gì đó, muốn ôm giữ những gì nó cảm thấy con đã đạt được. Thậm chí có cả cảm nhận vi tế là những gì con đã trải nghiệm và kinh qua trên con đường tâm linh sẽ cho con một loại địa vị nào đó. Và khi con đạt được một địa vị đủ cao thì bỗng nhiên, thiên thần thổi kèn sẽ xuất hiện và cổng ngọc sẽ mở ra, và con sẽ được chào đón vào vương quốc thiên đàng nhờ địa vị của con. Nhưng Giê-su đã chẳng nói hay sao, trừ khi con trở thành giống như trẻ nhỏ thì con không thể bước vào vương quốc. Trẻ nhỏ có gì đáng nói?

Đối với trẻ nhỏ, tất cả mọi chuyện đều mới. Con có thấy không? Trong dòng chảy sáng tạo, mỗi ngày là một ngày mới, một khởi đầu mới. Không phải lả sự tiếp nối của ngày hôm qua mà là một ngày mới.

Nó có thể có một số yếu tố của ngày hôm qua nhưng nó mới. Nó tươi. Nó sống động. Và trừ khi con sẵn lòng chảy xuôi theo thì con sẽ không thể bước vào vương quốc. Con sẽ buộc mình phải đứng bên ngoài, nơi con tìm cách bảo vệ một vị thế nào đó, tưởng rằng nếu con đạt được một địa vị tối thượng trong thế giới này thì con sẽ được bảo đảm bước vào thế giới kia.

Nhưng con không thể bước vào thế giới kia chừng nào con còn cầm giữ trạng thái tâm thức của thế giơi này, thế giới của tách biệt. Không thể nào được!

Các thày đã nói điều này quá nhiều lần, con yêu dấu. Nhưng các thày vẫn tiếp tục nói vì các thày biết là mỗi lần nói lên như vậy, một số người sẽ hiểu ra. Nhưng người khác thì sẽ vẫn mang rào cản trong tâm ngăn họ nhìn thấy, ngăn họ trải nghiệm được thật sự. Cho nên các thày lại cố thêm một lần. Các thày cố thêm một lần vì các thày đang thăng vượt chính mình, luôn luôn tìm những cách diễn tả mới hơn – nói lên cùng một chuyện nhưng trong những bối cảnh khác nhau cho những người khác nhau ở những mức tâm thức khác nhau.

Cho nên một lần nữa, con hãy xét thật kỹ lưỡng sự sống là một dòng chảy liên tục. Không phải là một kết quả chung cuộc. Cứu rỗi không là một kết quả chung cuộc. Thăng thiên không là một kết quả chung cuộc. Quả vị Ki-tô không là một kết quả chung cuộc. Quả vị Phật không là một kết quả chung cuộc. Vì một khi con đạt đến kết quả chung cuộc thì mọi chuyện sẽ đứng im. Nhưng không phải vậy.

Bởi vì Đấng Sáng tạo không đứng im. Cho nên khi con là một với Dòng sông sự Sống thì có nghĩa là con cũng không đứng im. Đây là tại sao con sẵn lòng trở nên HƠN NỮA bằng cách chất vấn điều con đã nghĩ là cách biểu đạt cao nhất của sáng tạo. Bởi vì nếu con không chịu chất vấn cái đang là, làm sao con có thể mở cửa cho cái HƠN NỮA? Làm sao con có thể cởi mở với cái mới nếu con không đặt vấn đề cái cũ?

Sự tăng triển bắt đầu với một câu hỏi. Thày là chân sư của tự do, và vì thế, một lần nữa thày nói rõ là thày đón chào tất cả những đệ tử nào sẵn lòng chất vấn tất cả!

5 | Tia thứ 12 của tái sinh

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Giê-su qua trung gian Kim Michaels, ngày 10 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Thày là Giê-su. Thày đến đây đàm đạo với con như một khách mời trong loạt bài giảng này của Phật Gautama. Thày không đến như nhân vật Giê-su được hình dung trong thế giới Cơ đốc mà trong bản thể trọn vẹn mà thày LÀ ngày hôm nay, như một sinh thể đã đạt quả vị Phật sau khi thày thăng thiên. Và như vậy, thày đến để giảng cho con về tia sáng thứ 12 – tia thứ 12 của sự tái sinh.

Tái sinh, con yêu dấu.

Vì như con đã nghe, tia thứ 11 là tia khai ngộ về sự buông bỏ, sẵn lòng buông bỏ cái cũ – thăng vượt. Con thấy đó, con yêu dấu, buông bỏ mà không biết có gì theo sau là một sự khai ngộ cần thiết. Nhưng điều này không có nghĩa là nếu con buông bỏ thì tự động một cái ta mới sẽ xuất hiện. Bởi vì sau khi con từ bỏ cái cũ, điều cần xảy ra là con – cái ta ý thức, ý niệm cái ta của con – được tái sinh.

Và điều này xảy ra như thế nào? Nó xảy ra khi con, cái ta ý thức, chấp nhận là chính nó được tái sinh, chấp nhận chính nó như một bản sắc mới, con yêu dấu. Và đây có thể là một bước khó khăn cho nhiều người đã đi trên con đường tâm linh từ lâu năm. Bởi vì con đã quá quen nhìn vào chính mình, nhìn vào cái xà trong mắt mình, tìm kiếm xem có gì cần buông bỏ, có gì cần hàng phục. Tất nhiên đây là một điều cần thiết, một bước cần thiết trên đường tu, con yêu dấu, vì nếu con nhìn nhiều người trên thế giới, con sẽ thấy là họ bị quá đồng hóa với tự ngã của họ, quá cả tin vào lời dối của tự ngã, đến độ họ thấy không cần phải buông bỏ bất cứ thành phần nào của bản sắc giả hiệu của mình. Họ chỉ cần đi theo con đường vỏ ngoài, con đường tự động, thì họ sẽ đảm bảo được cứu rỗi.

Nhưng con là người tâm linh, con đã vươn lên cao hơn mức tâm thức này. Con không phủ nhận trong mắt mình có cái xà, có gì đó phải được phát hiện, phải được hàng phục, phải được từ bỏ trước khi con có thể thoát khỏi nó. Con không phủ nhận là con có quyền tự quyết – con đã dùng ý chí tự quyết của mình để chấp nhận một số ảo tưởng nhị nguyên, thì như vậy con là người phải nhìn xuyên thấu chúng và buông bỏ chúng. Nhưng một số các con vẫn thấy khó lòng chấp nhận là sau khi đã buông bỏ một thành phần của cái không-ta, thì con, cái ta ý thức, được tái sinh vào một ý niệm bản sắc cao hơn. Con không thể chấp nhận là con được tái sinh, giờ đây con là một sinh thể khác.

5.1. Trở thành một sinh thể mới trong Ki-tô

Và điều khiến con vấp ngã trong nhiều trường hợp lại chính là sự sẵn lòng tìm kiếm cái xà trong mắt mình, sự sẵn lòng nhìn nhận là có gì đó phải được buông bỏ. Do đó con chú tâm vào việc nhìn thấy vấn đề, khắc phục vấn đề và suy nghĩ như thể mọi chuyện đều là vấn đề, đến độ con không thể buông được ký ức mình đã từng là ai trong quá khứ, mình đã từng bất toàn và mình đã phải từ bỏ nhiều đến chừng nào. Cho nên con không thể luôn luôn chấp nhận là bây giờ sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ đó, con không còn là sinh thể với những vấn đề đó nữa.

Con có thấy không, con yêu dấu? Khi con tái sinh, con trở thành một người mới, một sinh thể mới trong Ki-tô. Nhưng con có quyền tự quyết. Con không thể chấp nhận con là một sinh thể mới – con không thể chấp nhận điều này trong tâm ý thức của con – trừ khi con sẵn lòng nhìn nhận con không là con người đã phạm phải lỗi lầm kia, hay đã có niềm tin kia mà con phát hiện hôm qua và đã buông bỏ.

Con yêu dấu, nếu con nhìn đời thày trong tư cách Giê-su, thày đã vượt qua mấy cuộc khai ngộ khi thày phải chấp nhận một bản sắc cao hơn. Con có thể đọc được điều này giữa các hàng chữ trong kinh thánh chính thức. mặc dù một số chi tiết trong đó đã bị cắt bỏ, và một số khác thì không được ghi lại vì các tác giả phúc âm không có sự hiểu biết đầy đủ về bản thể của thày, về con đường dẫn tới quả vị Ki-tô cũng như các khai ngộ mà thày đã đi qua. Dẫu vậy, sự thật là thày đã trải qua mấy cuộc điểm đạo qua đó thày đã phải nhận lấy một ý niệm bản sắc cao hơn hầu đưa sứ vụ của mình lên tầm mức kế tiếp.

Nếu thày không sẵn lòng làm vậy thì sứ vụ của thày đã bị trì trệ ở một mức nhất định. Và thày cũng đã không đi muốt tới điểm rốt cuộc bị treo trên thập tự giá và bỏ lại hồn ma của những hạn chế cuối cùng – và nhờ vậy được phục sinh. Cho nên con thấy đó, con yêu dấu, đây là khai ngộ mà tất cả chúng ta phải đối mặt khi bước chân trên con đường đạt đến điểm thăng thiên.

5.2. Sự thăng thiên không tự động

Thăng thiên là gì, con yêu dấu? Thế nào là quá trình thăng thiên? À, đó là con phải chấp nhận mình không còn là một con người hữu diệt nữa, mà giờ đây con là một sinh thể tâm linh bất diệt. Nếu con không chấp nhận được điều này thì con không thể thăng thiên.

Có thể con đã quen suy nghĩ – dựa trên lời dạy mà các thày đã trao truyền trong các đợt truyền pháp trước – rằng thăng thiên là việc đáp ứng một số đòi hỏi nhất định, và một khi con hội đủ các yêu cầu này thì đùng một cái, một ngày kia con được thăng thiên. Không phải vậy đâu, con ạ. Có những yêu cầu phải đáp ứng, chắc chắn điều này cũng đúng. Nhưng thăng thiên không phải là một quá trình tự động, máy móc, mà là một tiến trình sáng tạo. Có nghĩa là nó bao hàm một số chọn lựa mà con phải lấy.

Và đâu là những chọn lựa mà con phải lấy? Ý của thày là gì khi thày nói “Hãy chọn sự sống thay vì sự chết?” À, chọn sự sống có nghĩa là con chọn chấp nhận một bản sắc mới. một ý niệm cái ta mới, và cái ta này thì NHIỀU HƠN cái ta mà con đã có trước đó, thậm chí chỉ một giây trước đó.

Cho nên con thấy đó, con yêu dấu, tự ngã muốn tha hóa toàn bộ khái niệm đường tu tâm linh để con nghĩ rằng con phải bước chân trên một con đường thật dài về hướng một mục tiêu chót cùng. Tự ngã đạt được hai lợi điểm khi nó làm vậy. Bằng cách khiến con chấp nhận là con đang bước trên một con đường dài, nó cũng khiến con chấp nhận là mục tiêu chót cùng nằm ở xa tuốt trong tương lai – giống  như rất nhiều đệ tử trước đây của chân sư thăng thiên quả thực đã tin là họ sẽ thăng thiên, họ sẽ trở thành Ki-tô, nhưng chỉ trong một tương lai xa tít. Chắc chắn không phải bây giờ, và nhất định không phải là ngay bây giờ và ngay ở đây. Con thấy đó, đây chính là tự ngã đang cố khiến cho cái ta ý thức tin rằng nó không có khả năng chỉ giản dị xoay chuyển ý niệm bản sắc của mình trong một khoảnh khắc và là Ki-tô trong một khoảnh khắc.

Và lợi điểm thứ nhì mà các thày giả cùng tự ngã có được nhờ cách suy nghĩ này là ý tưởng về một giai đoạn tối hậu, về một khai ngộ tối thượng nào đó mà con sẽ đi qua. Và khi đó con sẽ đạt được một trạng thái trường cửu bất biến nào đó.

5.3. Ở cõi thăng thiên vẫn có tăng triển

Con yêu dấu, khi sứ giả này lần đầu tiên nghe nói về khái niệm chân sư thăng thiên, ông đã tỏ ra rất nghi ngờ, vì khái niệm này lúc đầu được trình bày với ông như thể chân sư thằng thiên là những sinh thể toàn hảo, và trên cõi tâm linh không có tăng trưởng gì nữa. Trong bản thể thâm sâu của ông, ông bác bỏ khái niệm này, ông biết rõ là đơn giản nó không đúng. Vì vậy chỉ khi ông dần dần hiểu ra là ngay cả các chân sư thăng thiên cũng tăng triển và thăng vượt ý niệm cái ta của mình, thì ông mới có thể chấp nhận đây có thể là một con đường chính đáng do các chân sư đưa ra sẽ dẫn đến thăng thiên.

Như vậy con có thể thấy là thày đây đã thăng thiên ở một trình độ chứng ngộ Ki-tô nào đó. Giờ đây thày đã đạt được chứng ngộ Phật, cao hơn chứng ngộ Ki-tô, vì từ khi thăng thiên thày đã không đứng yên một chỗ. Thày đã tiếp tục nhân thêm ta-lăng cùng vốn liếng của mình và tiến tới, con yêu dấu.

Nhưng thày đã làm vậy như thế nào? Bằng cách cho phép ý niệm cái ta của mình tái sinh rất nhiều lần. Vì thày nói với con, để đi từ mức chứng ngộ Ki-tô lên mức chứng ngộ Phật, một sinh thể phải tái sinh ít nhất một vạn lần. Cho nên con có thể nghiệm xem cũng tương tự như thế, để đi từ mức tâm thức của đại đa số con người trên hành tinh này đến trạng thái thăng thiên, con sẽ phải tái sinh rất rất nhiều lần. Thật ra Saint Germain có nói là để hội đủ tư cách thăng thiên, thày đã phải lấy một triệu quyết định đúng đắn. Thế nào là một quyết định đúng đắn? Đó là một quyết định thuận theo SỰ SỐNG, qua đó con chấp nhận con đang được tái sinh vào một ý niệm cái ta cao hơn.

Vì vậy con yêu dấu, liệu con có thể bằng một bước nhảy độc nhất vượt qua khoảng cách giữa trạng thái tâm thức nơi nhân loại đang đứng và tâm thức Ki-tô hay không? Không, không thể nào. Trong quá khứ đã không thể và trong tương lai cũng sẽ không thể. Nhưng dẫu vậy, cái ta ý thức của con bất cứ lúc nào cũng có khả năng xoay chuyển ý niệm bản sắc của mình lên một ý niệm bản sắc cao hơn, một ý niệm cái ta cao hơn, và quả thực đây chính là tiến trình con đi qua.

Con yêu dấu, cách đây 2000 năm [thánh] Paul có nói: “Tôi chết mỗi ngày,” có nghĩa là mỗi ngày ông đã để cho một phần của cái ta hữu diệt của ông chết đi và được tái sinh vào một ý niệm cái ta cao hơn. Nhưng thày nói với con này, mặc dù việc chết đi mỗi ngày như thế rất tốt, sẽ tốt hơn gấp bội nếu con chết đi nhiều lần mỗi ngày để gia tốc bước tiến của mình.

5.4. Từ bỏ giấc mộng về một khai ngộ tối hậu

Con yêu dấu, con hãy từ bỏ ý tưởng là có một cuộc khai ngộ tối hậu nào đó, một mục tiêu tối thượng nào đó trong tương lai xa tít. Thay vào đó, con hãy chấp nhận thực tế rằng Dòng sông sự Sống là một tiến trình, một dòng chảy luôn luôn chuyển động của sự tự thăng vượt liên tục, không ngưng nghỉ, bất tuyệt. Như Phật đã giải thích, chính nỗ lực bám vào một ý niệm cái ta nhất định mới đem con vào tâm thức chết, tâm thức nhị nguyên.

Trong trạng thái thăng thiên, con không có một ý niệm bản sắc trường tồn bất biến, mà con thăng lên không ngừng. Thật ra, con yêu đấu, sẽ xây dựng biết bao nếu thay vì xem các thày là chân sư đã thăng thiên, con xem các thày là chân sư đang thăng lên. Bởi vì các thày không ngừng thăng lên, các thày không ngừng tái sinh vào một ý niệm cái ta cao hơn. Thật vậy, đây chính là nguyên lý mà thày tượng trưng cho trái đất sau khi nhận trách vụ đại diện cho tia sáng thứ 12 của tái sinh. Đây là điều thày đã đến 2000 năm về trước để đem lại cho địa cầu, và bây giờ trong sự trọn vẹn của cái thày LÀ, thày đã nhận lãnh trách vụ đại diện cho sự tái sinh này. Quả thật đây là cơ hội tuyệt hảo cho người tìm kiếm tâm linh trưởng thành có thể gia tốc bản thể của mình vượt quá một trình độ nhất định, qua đó họ trút bỏ lớp da rắn của bản sắc cũ và được tái sinh vào một ý niệm cái ta mới.

Nhưng con yêu dấu, để có thể tái sinh hoàn toàn, con phải chấp nhận là giờ đây con chính là cái ta mới này. Cái ta mới này không phải là một khái niệm lý thuyết ở xa tuốt ngoài kia mà một ngày nào đó con có thể khoác vào. Không, nó ở ngay đây. Nó ở đây ngay bây giờ. Nó chính là con. Đây chính là cái tôi là.

Có thể hôm qua con đã làm lỗi, nhưng nếu con thấy lỗi lầm đó, con thấy cái tâm thức đằng sau lỗi lầm và con để nó ra đi, thì con được tái sinh vào một cái ta mới. Và cái ta mà con là hôm nay không phải là cùng cái ta đã lầm lỗi hôm qua hay mười ngàn kiếp trước. Do đó con không cần phải bám giữ những cảm xúc mà con từng có trong cái ta cũ. Kỳ thực, con không cần bám giữ ngay cả ký ức về chuyện đó.

5.5. Cảm giác tội lỗi không có chức năng xây dựng

Và đây là điểm nhiều các con bị vấp ngã. Bởi vì tất nhiên, con có thể nhớ được ngày hôm qua con là ai và ngày hôm qua con làm gì. Thậm chí một số các con còn nhớ được mình đã làm gì hàng mấy kiếp trước. Nhưng con thấy không, con yêu dấu, con không còn là con người đó nữa một khi con đã từ bỏ tâm thức đã khiến con hành xử như vậy trong quá khứ. Và vì vậy con phải đi qua một giai đoạn – như sứ giả này đã di qua, là khi khi tự ngã của ông và các thày giả phóng chiếu ký ức về một lỗi lầm vào tâm ông, thì ông nói một cách ý thức: “Nhưng tôi không còn là cái ta đã làm chuyện đó. Tôi đã không làm chuyện đó. Cái ta mà tôi là ngay bây giờ đã không phạm lỗi đó, vì vậy tôi không cần phải cảm thấy tội lỗi về việc đó.”

Thật không khác gì khi con nghĩ lại thời con mới tập đi. Liệu con phải cảm thấy tội lỗi vì mình đã loạng choạng té ngã khi mình là đứa bé mấy tháng mới tập đi? Tại sao con phải cảm thấy tội lỗi kia chứ? Vậy thì tại sao con lại cảm thấy tội lỗi về những lỗi lầm con đã mắc phải như một người lớn hay trong tiền kiếp?

Thật không có mục đích xây dựng nào trong cảm giác tội lỗi. Đó là một rung động thấp, một rung động của phãn tình thương. Đó là một phóng chiếu của sa nhân và của chính tự ngã của con khi chúng tìm cách ngăn cản con chấp nhận con đã tái sinh vào một ý niệm bản sắc mới. Nó không mang chức năng nào có tính xây dựng.

Con chỉ BUÔNG-NÓ-RA, CON-YÊU-DẤU! Bởi vì con là nhiều hơn thế.

Không có thế lực nào trên thiên đàng muốn giữ con lại trong một ý niệm cái ta cũ kỹ. Do đó bất kỳ toan tính nào nhằm giữ con lại như vậy chỉ có thể đến từ dưới thấp, từ các thày giả, từ sa nhân, từ tự ngã của con, từ tâm thức đại chúng, từ người khác. Nhưng dù đến từ đâu thì nó cũng không thực. Và cái gì không thực thì không thể ảnh hưởng cái thực – cái ta ý thức của con.

Chắc chắn các thày đều hiểu, đây không nhất thiết là một sự xoay chuyển dễ dàng. Thày có thể nói với con điều này, thày có thể nói với con bằng lửa để lay con ra khỏi trạng thái tâm thức cũ, nhưng thày nhìn nhận là mặc dù con có thể được ngọn lửa của thày nâng lên, con vẫn có thể dễ dàng rơi xuống trở lại khuôn nếp cũ khi bước khỏi môi trường này. Và sau đó, điều gì xảy ra khi con rơi trở lại khuôn nếp cũ? Liệu con sẽ nghĩ lại và bảo: “Ồ, tôi vừa làm một chuyện mà Giê-su bảo tôi đừng làm. Tôi phải cảm thấy tội lỗi là mình đã không làm theo chỉ dẫn của Giê-su.” Thấy không? Con vừa quay trở về khuôn nếp cũ rồi đó.

5.6. Tự ngã cần một ý niệm bản sắc cố định

Con thấy đó, con yêu dấu, thực tế ở đây là như sau: Tự ngã của con không thể xuôi chảy với Dòng sông sự Sống vì nó không thể sống – nó không thể tồn tại, không thể duy trì một ý niệm cái ta, một cảm nhận liên tục – mà không có một bản sắc cố định. Tự ngã không thể hiện hữu khi con cứ không ngừng thăng vượt chính con. Và đây là điểm thày yêu cầu con lưu tâm. Chắc chắn khi con bước ra ngoài, con sẽ chạm trán với một động lượng cũ. Con hãy giản dị buông nó ra và chấp nhận là con được tái sinh.

Bất cứ gì quay trở lại với con, con hãy buông nó ra. Hãy chấp nhận là con được tái sinh. Bất cứ khi nào có sự phóng chiếu từ một trạng thái tâm thức thấp hơn, con hãy nhìn nó nếu con cần phát hiện một lời dối trá, nhưng con đừng đắm chìm vào trong đó. Đừng chui vào trong đó mà phân tích quá đáng. Con chỉ nhìn và thấy – bởi vì trong nhiều trường hợp, con yêu dấu, con đã nhìn thấu sự dối trá rồi.

Con phải hiểu là mặc dù cái ta ý thức của con có thể đã nhin thấu lời dối trá, nhưng con vẫn phải chạm trán với cái trớn hay ngay cả sự phóng chiếu từ tâm thức đại chúng. Cho nên có thể con sẽ tự nhủ: “Nhưng tôi tưởng là tôi đã buông bỏ chuyện này rồi, thế mà bây giờ tôi lại trải nghiệm nó nữa. Chuyện gì xảy ra vậy?”

À, thực tế là chừng nào con còn đầu thai, chừng nào con còn bước chân trong những bầu cõi dày đặc này, thì con sẽ phải đương đầu với cái trớn và sự phóng chiếu từ tâm thức đại chúng. Nhưng một khi con đã nhìn thấu lời dối, con cần nhận ra một cách ý thức là sự phóng chiếu này đang nhắm vào con, xong con chỉ đơn giản buông nó ra và chấp nhận là mình đã tái sinh, rằng cái đó không phải là mình vì mình là hơn vậy. Con thấy không, nếu mỗi lần tự ngã phóng chiếu điều gì vào con và con dùng chính điều này để tái sinh và đón nhận một ý niệm bản sắc cao hơn, thì cuối cùng tự ngã sẽ bị phân tán – nó sẽ bực bội, nản chí và tan vỡ trước sự tự thăng vượt bất tận này – đến độ nó không thể tiếp tục bám víu vào “thực tại” được nữa, nó không thể duy trì một ý niệm bản sắc liên tục được nữa.

Và như vậy thật đơn giản, con gia tốc vượt khỏi tầm tay của nó. Có thể sẽ vẫn còn chút tàn dư của ngã tách biệt, bởi vì chừng nào con còn hiện thân thì một số tàn dư sẽ vẫn còn. Nhưng cái ta ý thức của con không còn đồng hóa với nó nữa, vì cái ta ý thức không còn mang một ý niệm bản sắc trường tồn bất biến dựa trên những thứ của thế gian.

Con ngộ ra con là một sinh thể tâm linh. Và con ngộ ra là một sinh thể tâm linh không mang bản sắc cố định nào, mà trái lại không ngừng xuôi theo Dòng sông sự Sống, không ngừng thăng vượt ý niệm cái ta của mình. Và vì thế, con không cần đến cái ý niệm bản sắc cố định kia, dù trường tồn hay bán trường tồn, dựa trên những thứ của thế gian. Con thấy mình là HƠN NỮA và con không ngừng xuôi chảy với cái HƠN NỮA – con không bám vào cái ta đó nữa. Bất cứ khi nào con nhận thấy một sự hạn chế trong ý niệm cái ta hiện thời của mình thì con chỉ việc buông ra và được tái sinh. Con chấp nhận mình được tái sinh như là HƠN NỮA. Và như vậy, giản dị là tự ngã sẽ không thể theo kịp con nữa, ông hoàng của thế gian sẽ không thể bắt kịp được con, con yêu dấu.

5.7. Ông hoàng của thế gian là một sinh thể hữu hạn

Con có thấy chăng ông hoàng của thế gian không phải là một sinh thể vô hạn? Y là một sinh thể hữu hạn, có nghĩa là mặc dù có người cho rằng ác quỷ có quyền năng to lớn, nhưng y chỉ có sức mạnh giới hạn, vì y chỉ có một ý niệm cái ta hữu hạn và do đó một nhận thức hữu hạn.

Con có thấy chăng, con yêu dấu, điều ác quỷ mong muốn là y có thể đến với con, khiến con nhận lấy một ý niệm bản sắc cố định sẽ giam con lại ở một mức nào đó, để y có thể chạy ra nơi khác vận dụng người khác hầu khiến họ cũng chấp nhận một bản sắc cố định? Và y muốn là khi y đi hết một vòng và quay trở về con thì con vẫn đứng nguyên ở bản sắc cố định cũ.

Nhưng con thấy không, nếu con đã thăng vượt bản sắc này rồi thì khi y quay trở lại, y sẽ bị cú sốc: “Ủa, anh chàng này không còn đây nữa, anh ta đi đâu rồi?” Thế là y phải cố đuổi bắt con trong bản sắc mới của con để cố biến bản sắc này thành một bản sắc cố định. Và điều này khiến y bị chia trí, không tập trung vào mọi người khác mà y phải đánh bẫy. Và bỗng nhiên, khi có đủ số người thăng vượt cái ta cũ của mình thì ác quỷ sẽ bị phân tán quá mỏng, ông hoàng của thế gian sẽ trở nên quá bối rối đến độ y không còn giữ cảm giác chủ động được nữa. Và như vậy một cách nào đó, ngay cả ông hoàng của thế gian cũng phải thăng vượt bản sắc cũ của mình hầu theo kịp mọi người khi ai nấy đều cứ gia tốc, con yêu dấu. Và con thấy không, thế là tất cả đều được kéo lên cao hơn.

“Nếu ta được thăng lên thì ta sẽ kéo mọi người lên với ta.” Câu này cũng có nghĩa là kéo tâm thức đại chúng đi lên – vì tâm thức đại chúng chỉ là một trong nhiều cách diễn tả cái thường được gọi là ác quỷ. Bởi vì như Gautama đã giải thích năm ngoái trong bài giảng đầu năm của thày, khi con đi vào đền thờ của chúa tể bóng tối, con tìm ra là ở đó không hề có chúa tể bóng tối, mà chỉ có một cái vỏ rỗng, một cái vỏ không chút hiện thực tối hậu nào cả.

Nhưng con có thấy sự tự thăng vượt liên tục là bí quyết để con gia tốc, kéo mình ra khỏi trọng lực của tâm thức đại chúng hay không? Mục đích là cho dù chúng có phóng gì vào con thì con cũng có thể dùng chính cái đó để thăng vượt ý niệm bản sắc của con, để tái sinh. Con chấp nhận là mình được tái sinh, và như vậy con là một sinh thể mới trong Ki-tô. Và tự ngã của con, các thày giả, hay tâm thức đại chúng, hay người khác, sẽ phải mất thì giờ đuổi bắt con. Và khi cuối cùng chúng bắt kịp – một điều có thể xảy ra trong khi con còn hiện thân trong một cơ thể vật lý – thì con chỉ lập tức cho phép mình tái sinh thêm lần nữa. Và chúng sẽ lại phải chơi tiếp trò chơi đuổi bắt.

Cho nên con đạt tới mức khiến chúng luôn luôn phải chạy theo con, con yêu dấu. Bởi vì giờ đây con đã lật bàn của bọn đổi tiền, khiến chúng trở thành những kẻ phải đuổi theo con. Con không còn cho phép mình ở lại trong ý niệm bản sắc cố định kia nơi chúng nghĩ là chúng kiểm soát được con.

Và như vậy con thấy đó, chuyện này trở thành một trò mèo đuổi chuột, mà thậm chí trong một thời gian con còn có thể cảm thấy vui thú khi con nhận ra là mình không còn chơi trò nhị nguyên tìm cách tiêu diệt đối cực ngược lại nữa, mà con chơi một loại phiên bản cao hơn, là dùng mưu chước để qua mặt, bỏ xa, thăng vượt các thế lực của thế gian, ông hoàng của thế gian.

Và con có thể làm vậy rất dễ dàng một khi con neo trụ thật sự vào tiến trình tái sinh. Tất nhiên, rốt cuộc con sẽ được tái sinh tới một mức con không còn cảm thấy vui thú là mình cao trí hơn ông hoàng của thế gian, bởi vì rõ ràng y đã trở nên vô nghĩa đối với ý niệm cái ta của con. Và giờ đây con tập trung vào nhiều chuyện khác, con chú tâm vào việc nâng cao mọi người, đánh thức mọi người để họ thoát khỏi tâm thức chết. Bằng cách chứng tỏ cho họ thấy tái sinh là một việc khả dĩ, con dạy họ là chính họ cũng có thể được tái sinh khi họ thách thức ý niệm cái ta hiện thời của họ.

5.8. Các khai ngộ của tia thứ 12

Vậy con thấy, con yêu dấu, đó là các khai ngộ của tia thứ 12, là con không nghĩ tằng việc tái sinh là một chuyện chỉ xảy ra đúng một lần rồi sau đó con sẽ ở trong một bản sắc cố định mãi mãi. Trái lại, con ngộ ra tái sinh là một tiến trình không ngưng nghỉ, con yêu dấu.

Như các thày đã nói, thế giới được tạo ra bởi một hình tư tưởng phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Và các thày đã so sánh hình tư tưởng này với một bộ phim được trình chiếu lên màn hình qua rất nhiều hình ảnh đơn lẻ được chiếu lên màn hình mỗi giây, khiến giác quan vật lý của con không thể theo dõi mỗi chuyển động đơn lẻ. À, con có thể đạt tới điểm khi ý niệm cái ta của con được tái sinh đến mức con nhận ra là toàn bộ hành tinh trái đất – trong tình trạng mất cân bằng, thiếu thốn và nghèo khó hiện thời của nó – chỉ đơn giản là một hình tư tưởng. Và nếu hình tư tưởng này thay đổi, trái đất sẽ lập tức trình chiếu ra một thực tại cao hơn.

Tuy nhiên con yêu dấu, điều này không có nghĩa là trái đất sẽ tức khắc xoay chuyển và biểu hiện vương quốc Thượng đế, bởi vì nếu chuyện này xảy ra, quá nhiều người sẽ thấy ý niệm bản sắc của mình tan vỡ. Họ không thể thích nghi với sự biến đổi và sẽ trải qua một cuộc khủng hoảng bản sắc trầm trọng. Và đây là tại sao trái đất phải xoay chuyển từ từ và được nâng lên lần hồi.

Con yêu dấu, con thấy chăng là các thày, các chân sư thăng thiên, quả thực có đủ uy lực – các Elohim có đủ uy lực vì đã tạo dựng trái đất – để lập tức gửi nhiều ánh sáng vào trái đất đến độ ánh sáng này sẽ phá tan bóng tối, phá tan các hình ảnh và năng lượng bất toàn, và trái đất sẽ tức thì thoát xác trở về độ tinh khiết của thiết kế nguyên thủy. Nhưng nếu các thày làm vậy thì hầu hết những ai trên hành tinh này đã bước xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn, sẽ không thể thích ứng và do đó bị loại khỏi địa cầu. Họ sẽ chết theo nghĩa đen, họ sẽ chết vật lý, vì ý niệm cái ta của họ không thể thích nghi với sự biến đổi, và như vậy họ sẽ phải dời đến một hành tinh khác. Nhưng bởi vì trái đất đã được tạo ra như một phương tiện để loài người tăng trưởng, các thày không thấy ích lợi gì nâng cao tự thân trái đất, mà trái lại cần nâng cao tâm thức của các cư dân trên trái đất. Và đó là tại sao sự thay đổi phải xảy ra lần hồi.

Cho nên con thấy đó, các thày phải tìm được một thế cân bằng rất tinh vi, qua đó các thày có thể truyền rải một lượng ánh sáng nào đó nhưng không truyền rải quá nhiều đến độ làm tan vỡ ý niệm cái ta của quá nhiều người trên địa cầu. Và đây chính là lý do các thày cần đến các con, những người đang hiện thân, để con hòa điệu với tía thứ 12 và vượt qua khai ngộ của tia này, để con cho phép mình được tái sinh liên tục, được tái sinh mỗi ngày, mỗi giây mỗi phút. Mỗi khi con nhận được sự phóng chiếu từ một cái ta thấp hơn, từ một rung động thấp hơn, con hãy đơn giản nhận ra nó đúng là như vậy, và con cho phép mình tái sinh như một sinh thể không còn bị tác động bởi trạng thái tâm thức thấp đó.

5.9. Những gì một người đã làm, mọi người đều làm được

Khi con chứng tỏ điều này cho người khác, ngay cả chứng tỏ là con có thể cho phép mình, cho phép ý niệm cái ta của mình được tái sinh – như khi con không còn là người mắc phải một chứng bệnh thể xác nào đó, hay một bệnh trạng tình cảm hoặc lý trí, dù là phân rẽ thế này hay thế kia trong nhân cách – thì con có thể chứng tỏ, con yêu dấu, rằng những gì con làm được thì chính họ cũng có khả năng làm được.

Bởi vì phương châm của các chân sư thăng thiên từ lâu đã là: “Việc gì một người làm được thì mọi người đều có khả năng làm được.” Và câu này phải được chứng minh, nhưng trong thời đại hôm nay, thật không đủ chỉ có một người chứng minh như trường hợp của thày 2000 năm về trước. Chúng ta cần có đông người chứng minh, để ai ai cũng thấy là những gì nhiều người đã làm được thì chính mình cũng làm được. Và đây là điều cần xảy ra trên ngưỡng cửa của giai đoạn chuyển tiếp vào tâm thức Thời đại Bảo bình – thời đại của tự do, con yêu dấu, và cũng thật sự là thời đại của tự do sáng tạo.

Đây là tự do tái sáng tạo, không chỉ tái sáng tạo ý niệm cái ta – nói chung là điều con làm khi con tái sinh, con tái sáng tạo ý niệm cái ta – mà còn là tự do tái tạo môi trường của con, thậm chí tái tạo môi trường vật lý của hành tinh này, mà cho tới giờ đối với quá nhiều người dường như vẫn do những thế lực vượt khỏi tầm kiểm soát của họ tạo ra. Và do đó, họ không có uy lực – nhân loại không có uy lực như một tập thể – để cùng nhau tái tạo lại, con yêu dấu.

Cho nên con sẽ thấy là cả tôn giáo truyền thống (khi tôn giáo củng cố hình ảnh là con tách biệt khỏi Thượng đế, con cần đến một vị cứu tinh từ ngoài hay một tôn giáo vỏ ngoài để được cứu rỗi) lẫn nền khoa học duy vật truyền thống (khi khoa học quả quyết con chỉ là một con thú thông minh), cả hai phong trào này đều củng cố cho hình ảnh rằng loài người không có sức mạnh tập thể để thay đổi môi trường vật lý của mình, ngoài những gì mình có thể làm với cơ thể của mình.

5.10. Ý niệm cái ta của nhân loại phải được tái sinh

Con có thấy chăng, con yêu dấu, ý niệm cái ta của nhân loại có thể được tái sinh. Quả thực điều này đã xảy ra rất nhiều lần suốt chiều dài lịch sử, như con xem xã hội thời Trung cổ ở châu Âu khi người ta tin là trái đất phẳng. Phải mất một thời gian để thay đổi cái nhìn này. Không phải là một buổi sáng đẹp trời mọi người thức dậy thốt lên: “Ừ nhỉ, bây giờ tôi thấy trái đất tròn.” Không, chuyện này đã mất thời gian. Sự thật là một số người đã phải chết đi rồi tái đầu thai trong một môi trường mới trước khi họ có thể chấp nhận trái đất tròn.

Nhưng dẫu vậy, điều xảy ra là ý niệm cái ta tập thể dựa trên một trái đất phẳng, đã phải chết đi để cái ta của nhân loại được tái sinh trên căn bản một nhận thức mới về trái đất tròn. Cho nên con sẽ thấy nhiều cuộc xoay chuyển như thế, con yêu dấu. Thời Phục hưng là một giai đoạn với nhiều xoay chuyển như vậy. Cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng khoa học đã đem lại nhiều xoay chuyển tương tự. Và ngày nay khoa học, ở một mức độ nào đó, vẫn tiếp tục giữ vai trò đem lại xoay chuyển mặc dù khoa học cũng lại rơi vào vị thế mà Giáo hội Công giáo đã nắm giữ vào thời Trung cổ, là kềm hãm con người trong một tư duy chủ nghĩa duy vật.

Tuy nhiên con sẽ thấy trong những thập kỷ sắp tới, chính khoa học sẽ được đẩy mạnh để vượt ra khỏi chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa này không thể duy trì mãi mãi sự thống trị trên khoa học, y như tư duy cũ chỉ có thể duy trì trong một thời gian sự thống trị trên tôn giáo và người tâm linh. Như con thấy, biết bao người tâm linh ngày nay đã vượt xa lối suy nghĩ đã từng giam giữ người dân châu Âu vào thời Trung cổ trong vòng kiềm tỏa của Giáo hội Công giáo.

5.11. Ý định nguyên thủy của phong trào Ki-tô

Ngay cả Giáo hội Công giáo cũng đã được tái sinh vào một ý niệm cái ta cao hơn, tuy vẫn còn rất xa tầm mức khả dĩ đại diện chính đáng cho Ki-tô trên trái đất. Nhưng thực tế là sẽ không bao giờ có một tổ chức nào có thể đại diện được cho Ki-tô. Bởi vì Ki-tô là gì? Là tiến trình tái sinh không ngừng! Một cơ quan hay một tổ chức nhất thiết phải có một sự liên tục nào đó, nếu không thì đã không là một tổ chức. Vì vậy con thấy chính ý tưởng cho rằng Ki-tô và các lời dạy cũa Ki-tô có thể được thể chế hóa, đơn giản chỉ là một sáng chế nhị nguyên mà thôi. Kỳ thực ý tưởng này xuất phát từ tâm phản Ki-tô, bởi vì Ki-tô không ngừng chuyển động.

Chẳng phải là thày đã nói là thày sẽ cho con một Đấng an ủi khác, rằng thày sẽ cầu nguyện để Cha gửi xuống cho con một Đấng an ủi khác là Thánh linh hay sao? À, Thánh linh thổi nơi nào nó muốn. Và cách đây 2000 năm thày đã đến để khởi xướng một phong trào sẽ được tái sinh liên tục, sẽ tự đổi mới liên tục, con yêu dấu.

Tuy nhiên như luôn luôn, những ai đã đồng hóa với tự ngã của mình sẽ không thể xử lý trạng thái dường như hỗn loạn của sự tái sinh liên tục này, và họ cũng không thể xử lý những điều dường như mâu thuẫn mà một số giáo lý gnostic đưa ra. Trong số đó có những giáo lý không đồng điệu với Đại đoàn Thăng thiên mà lại đồng điệu với các linh thể thấp hơn, giống như con thấy nơi những nhà đồng cốt tân thời. Dẫu vậy, đạo Ki-tô vẫn có tiềm năng trở thành một phong trào sinh động, năng nổ, không ngừng thăng vượt chính mình bằng cách giữ cho Thánh linh tuôn chảy – mà thời nay chúng ta sẽ gọi là tiến trình tiết lộ tuần tự.

Và thật vậy, có tiềm năng và có nhu cầu thật sự là đạo Ki-tô có thể được tái sinh thành một tôn giáo đầy sinh khí, tương tự như đạo Phật có thể được tái sinh, bởi vì Phật cũng đã đến để khởi xướng hay duy trì một sự biểu đạt không ngừng mới mẻ trong lời dạy cùng như trong nhận biết, con yêu dấu. Con có thấy chăng sự mỉa mai khi các Phật tử tân thời vẫn còn học những bản văn đã được đưa vào cõi vật lý cách đây 2500 năm, hay hơn 2000 năm về trước? Con chẳng thấy điều này trớ trêu hay sao, con yêu dấu? Con chẳng thấy sự trớ trêu khi các tín đồ Hồi giáo cứ ngoái nhìn về kinh Qur’an, được đưa ra từ nhiều thế kỷ trước, trong khi lại chối bỏ truyền thống Sufi – tức đạo Hồi thần bí – vốn đem lại một cái hiểu không ngừng đổi mới về các bí ẩn thâm sâu. Con nhìn thấy sự thể này trong mỗi tôn giáo, con nhìn thấy nó trong khoa học, con nhìn thấy nó khắp mọi nơi – sự từ chối không muốn tái sinh, sự bám víu vào bản sắc cũ.

5.12. Con có sẵn lòng tái sinh?

Nhưng con yêu dấu, con là người tâm linh, con thấy nó quá rõ khắp thế giới – vậy bây giờ con hãy quay lại, con hãy soi gương, con hãy nhìn vào chính mình, nhìn xem đôi khi con có bám víu vào ý niệm bản sắc cũ đó hay không? “Dễ gì mà tôi có thể tái sinh, để hôm nay tôi hết là con người tồi tệ mà tôi đã là hôm qua? Làm sao chuyện này xảy ra dễ dàng được như vậy?” Thế là con rơi vào lối suy luận vi tế của ông hoàng thế gian và của tự ngã, qua đó tự ngã sẽ bảo, như các thày đã giải thích qua các bài giảng trước trong loạt bài này: “Ồ, bạn không thể chỉ giản dị bước xa khỏi tôi, bạn không thể nào bỏ tôi một mình, bạn không thể nào từ bỏ tất cả.” Nhưng con thấy đó, con yêu dấu, con có thể.   

Con có thể. Mỗi khi tự ngã đến gặp con với một ý niệm cái ta thấp kém nào đó, con có thể nhìn nó và bảo: “Ta bỏ mi đây. Ta buông mi rồi đây. Và ta chấp nhận TA LÀ, ta được tái sinh!” Và nếu con cứ làm như vậy một cách liên tục, nếu con xây dựng một thói quen và một động lượng hàng phục và chấp nhận sự tái sinh của con, thì con sẽ, như thày vừa nói, bước nhanh hơn tự ngã và ông hoàng thế gian. Bởi vì chúng không thể theo kịp sự tái sinh không ngừng. Chúng không thể bắt kịp, con yêu dấu. Cho nên con sẽ được gia tốc vượt khỏi chúng. Con sẽ, theo nghĩa đen, gia tốc ý niệm cái ta của mình vượt khỏi tầm tay của tự ngã, và con sẽ ngừng nuôi ánh sáng của con cho nó. Thế thì nó sẽ chết và bị tiêu hủy. Giông như khi con đọc bài thỉnh, con cũng không ngừng thỉnh cầu ánh sáng để tiêu hủy tự ngã cùng với năng lượng đang nuôi dưỡng nó.

Cho nên bằng cách loại trừ tự ngã cá nhân của con ra khỏi phương trình của trái đất, con cũng sẽ nâng cao tâm thức đại chúng. Và bằng cách chứng tỏ cho người khác thấy là họ có thể làm giống như vậy, con sẽ góp phần vào một nhận thức mới – một sự thức tỉnh mới, con yêu dấu – rằng con người có khả năng vươn lên trên quá khứ và chấp nhận không những chính mình được tái sinh, mà nhân loại được tái sinh, xã hội được tái sinh. Hành tinh trái đất được tái sinh. Và thực sự chúng ta có thể tái sinh khỏi ý niệm bàn sắc cũ đã gây ra, đã biểu hiện ra, đã trình chiếu ra, sự mất cân bằng và nghèo đói hiện thời, tất cả mọi bệnh tật của cơ thể vật lý cùng tất cả mọi giới hạn khác, chẳng hạn như chiến tranh, xung đột và tranh chấp.

5.13. Ngừng nuôi dưỡng vấn đề

Con yêu dấu, như Phật đã giải thích, con không thể gỡ bỏ tâm thức nhị nguyên bằng chính tâm thức nhị nguyên. Con không thể giải quyết một vấn đề bằng cách nghĩ rằng con có thể phân tích nó và khắc phục nó. Con chỉ khắc phục được nó bằng cách tái sinh, hầu vấn đề không còn chạm tới con được nữa. Bởi vì vấn đề đã được tạo ra từ một trạng thái tâm thức nào đó, cho nên khi con được tái sinh ra khỏi trạng thái tâm thức này thì con cũng dứng cao hơn vấn đề. Và như vậy, vấn đề không được con cung cấp thêm thức ăn nữa.

Và khi càng ngày càng có nhiều người từ chối cung cấp ánh sáng của mình cho trạng thái tâm thức này, rốt cuộc nó sẽ biến thành một vỏ rỗng. Tới một điểm một sinh thể Ki-tô sẽ xuất hiện – vì giờ đây đã có đủ túc số, có đủ số người tới hạn đã từ bỏ trạng thái tâm thức này – và một sinh thể Ki-tô sẽ xuất hiện, sẽ thách tức nó công khai. Nó sẽ sụp đổ và không còn quyền lực gì trên tâm con người, vì bây giờ mọi người đã thức tỉnh và ngộ ra: “Ồ, chuyện này sao quá hiển nhiên.”

Thực tế ở đây là gì? Hiển nhiên cách nhìn cũ là một dối trá. Ngày nay sự kiện trái đất tròn thật là hiển nhiên vì đã có một sinh thể ở một mức chứng đạt Ki-tô nào đó cả gan trang bị ba con tàu vượt đại dương rồi trở về tuyên bố: “Tôi đã khám phá ra vùng đất mới, tôi đã chứng minh là trái đất tròn.” Và cũng vậy, con thấy nhiều người như thế suốt lịch sử đã xuất hiện dưới một hình thức cải trang nào đó, thường với một số nhược điểm con người khiến cho việc nhận ra họ là sinh thể Ki-tô khá khó khăn. Tuy vậy, họ đã đạt được một mức chứng ngộ Ki-tô nào đó, và như vậy họ trở thành những công cụ để thách thức một ảo tưởng đặc thù trong tâm thức đại chúng.

Do việc đánh động công khai và thẳng thắn như vậy mà nhiều người khác đã tỉnh ngộ để nhìn ra ảo tưởng, con yêu dấu, chẳng hạn như con thấy William Wilberforce ở Anh đã thách thức ảo tưởng về chế độ nô lệ, và ông đã tiếp tục làm vậy trong nhiều năm trời cho đến khi có sự đột phá. Ngày nay người dân nước Anh nhìn lại và nói: “Ủa làm sao chuyện bãi bỏ nô lệ lại có thể là một vấn đề to lớn đến vậy khi hiển nhiên chuyện đó không phải?” Nhưng con thấy không, chuyện đó không có vẻ gì sai trái cho tới khi có một người với chứng ngộ Ki-tô đập vỡ ảo tưởng, lật bàn của bọn đổi tiền, để nhiều người hơn có thể nhìn thấy vấn đề với tâm vỏ ngoài, rồi đột nhiên họ chấp nhận xoay chuyển – một cuộc xoay chuyển địa chấn trong tâm thức nơi mọi thứ đều mới và tầm nhìn cũng mới.

5.14. Giúp người khác thấy những gì họ không thể thấy

Bởi vì tầm nhìn đã đổi khác và giờ đây người ta thấy được những gì không thể nhìn thấy trước đó. Và điều này thì quá hiển nhiên, mặc dù trước đó người ta không có khả năng nhìn ra. Cũng vậy, đây là con người mà con có thể trở thành khi con kinh qua trải nghiệm này trong chính bản thể con.

Và thật vậy con yêu dấu, nhiều người trong các con đã bước vào hiện thân này, đã chuốc lấy một số bệnh tật trong thể xác mình, để chứng tỏ là con có thể vượt lên trên. Con chẳng thấy hay sao là đã có một thời điểm không xa lắm, bệnh ung thư được xem là một bản án tử hình mà gần như không có ai sống sót? Nhưng bây giờ đã có một nhận thức mới và nhiều người chấp nhận việc qua khỏi bệnh ung thư là một điều khả dĩ. Và con chẳng thấy hay sao là cuối cùng đã có một sự xoay chuyển tâm thức, và xoay chuyển này sẽ tới mức người ta xem ung thư chỉ là một chứng bệnh có thể chữa lành y như mọi bệnh khác. Con có biết, con yêu dấu, là trước khi thuốc penicillin được phát hiện, bệnh viêm phổi được xem là bệnh hiểm nghèo mà rất ít người sống sót? Nhưng một lần nữa, một sự xoay chuyển đã xảy ra trong tâm thức tập thể dẫn đến việc tìm ra phương cách chữa trị, và ngày nay người ta xem đó là một chứng bệnh thông thường mà hầu hết mọi người đều khỏi.

Đây là điều xảy ra với bất kỳ điều kiện gây giới hạn nào, kể cả các điều kiện giới hạn tâm con. Kể cả những lời dối của tôn giáo truyền thống bảo rằng con là một kẻ có tội và con cần đến một vị cứu tinh bên ngoài đến cứu con, bởi vì con không thể chạm được vương quốc Thượng đề ở trong con – cho dù Ki-tô đã nói rõ như vậy rất nhiều thế kỷ trước đây.

Có quá nhiều ảo tưởng như vậy cần được thách thức, con yêu dấu. Và con nên nhìn lại chình bản thân mình và bắt đầu tự hỏi một cách nghiêm túc liệu con đã tình nguyện, như một phần trong Sứ vụ Thiêng liêng của mình, bước vào hiện thân để làm sao thách thức một trong những ảo tưởng đó đang kềm hãm con người.

Sau đó con cần nghiêm túc đạt tới điểm có thể chấp nhận là giờ đây mình đã tái sinh, chấp nhận là giờ đây mình đã có mức quả vị Ki-tô cần thiết để thách thức một ảo tưởng đặc thù. Và do đó, con sẽ không cứ đứng đó mà phân vân bất tận liệu mình sẽ lên tiếng về vấn đề này hay không. Bởi vì con sẽ được thôi thúc bởi ngọn lửa nội tâm đến độ lời nói và hành động sẽ tự nhiên tuôn ra từ bên trong. Con không phân tích: “Tôi có nên làm chuyện này không, tôi có quyền làm chuyện này không, tôi có đủ chứng đạt để làm chuyện này không?” Không, con chỉ làm mà thôi.

Con chỉ đơn giản đặt thân mình ra đó, và con tuôn chảy với ngọn lửa từ bên trong bản thể mình, ngọn lửa luôn luôn ở đó nhưng không sao chảy được cho đến khi con chấp nhận là con đã tái sinh vào ý niệm bản sắc cao hơn đó, rằng con có quyền bước vào các đền thờ của thế gian và lật bàn của bọn đổi tiền, nói thẳng tận mặt là họ không có quyền chiếm giữ vị trí đó trong đền. “Đền” ở đây là biểu tượng cho tâm con người cũng như tâm tập thể của tâm thức đại chúng.  

Họ không có quyền ngồi đó kềm giữ mọi người ở lại trình độ cũ, và vì vậy con lật đổ bàn ghế của họ, con thách thức họ và nói: “Hỡi Satan, hãy lui ra sau ta, vì đối với ta ngươi là một sự xúc phạm. Ngươi không thích những thứ của Thượng đế mà thích những thứ của người phàm. Nhưng ta thì vui sướng trong những gì thuộc về Thương đế, cho nên ta tuyên bố là ngươi không thực. Người không có quyền ở trên hành tinh này, bởi vì ta có quyền khẳng định và đòi lại hành tinh này như là vương quốc Thượng đế.”

5.15. Hãy làm những công việc thày đã làm

Trong cốt yếu đó là mục đích sứ mệnh của thày – là chứng minh sự dối trá, thách thức sự dối trá, chứng tỏ là con có khả năng vượt lên trên dối trá. Và khi thày nói là những ai tin thày, những ai bước theo con đường mà thày đã theo, thì họ cũng sẽ làm những việc mà thày đã làm, thậm chí những việc còn lớn hơn nữa, thì đó chính là viễn quan cao nhất mà thày có trong tâm. Không phải là con sẽ thực hiện một số phép lạ không còn thích hợp trong thời đại khoa học tiến bộ hôm nay, mà điều thày cần con làm là thách thức bọn đổi tiền của thời hiện đại, những kẻ đang kềm hãm loài người, những thày tế trong đền thờ, những kẻ đang giam giữ con người trong sự dối trá, giữ họ xa rời khỏi Thượng đế, giữ họ bên ngoài vương quốc Thượng đế ở ngay trong họ.

Và con, ngày nay, có thể làm công việc này ở một mức độ vượt hẳn những gì thày đã có thể làm 2000 năm về trước. Bởi vì nhân loại đã tiến bộ về nhận thức lẫn hiểu biết, cho nên một giáo lý tinh vi gấp bội có thể được trao truyền hôm nay. Con có khả năng phơi bày nhiều dối trá hơn, là sự đánh lừa trong tâm lý khi chính tự ngã trở thành con đường xâm nhập cho ông hoàng của thế gian cùng các thế lực bên ngoài bước vào kiểm soát con người qua kẻ thù bên trong. Con có nhiều dụng cụ hơn hẳn, nhiều cơ hội hơn hẳn để phơi trần gian dối này.

Tất cả các con đều có tiềm năng thực hiện điều này. Nhưng con cần chấp nhận là con đã tái sinh vào một trình độ Ki-tô mới, con có khả năng thách thức một lời dối đặc thù, bước ra ngoài đời và chứng tỏ – trước hết cho một nhóm nhỏ nhưng có thể sau đó cho những nhòm lớn hơn – rằng lời dối đó không thực. Đó là một sự lừa dối, và con chứng tỏ là con đã tái sinh, đã gia tốc vượt khỏi tâm thức của lừa dối. Đó chỉ là tâm thức khởi lên từ cái không thực, cho nên nó không có sự sống trong nó. Ngay từ đầu nó đã dựa trên một sự dối trá.

Vì vậy đây là viễn quan mà thày giữ cho con. Thày xem con đã tái sinh rồi. Liệu con sẽ xem mình đã tái sinh chưa? Liệu con sẽ chấp nhận như vậy và sau đó biểu hiện sự tái sinh của mình trong hành động? Đó là câu hỏi mà thày sẽ để yên cho con suy ngẫm, con yêu dấu.

Bởi vì thày, Giê-su, chấp nhận con như con là ngay bây giờ. Nhưng thày cũng chấp nhận con như cái HƠN NỮA mà thày có thể thấy được, cái HƠN NỮA mà con đã vốn là ở Trên. Nếu con có thể chấp nhận nó ở dưới này, thì con có thể là dưới này tất cả những gì con là ở Trên.

Suy ngẫm đi con, con yêu dấu, con hãy suy ngẫm điều này. Cho tới khi con cho phép mình tái sinh, con chấp nhận bản sắc mới này mà giờ đây con là. Và con chấp nhận là không ích gì mà quay trở lại cái cũ hay tái tạo lại cái cũ. Bởi vì con là một sinh thể mới trong Ki-tô.

4 | Tia thứ 11 của thăng vượt

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 9 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Thăng vượt là từ mấu chốt cho tia thứ 11. Thăng vượt điều gì? Thăng vượt ý niệm cái ta hiện thời của con. Bất kể ý niệm cái ta này là gì, con luôn luôn có thể thăng vượt và trở nên HƠN NỮA, như ngay cả Đấng Sáng tạo của con cũng trở nên HƠN NỮA qua việc tạo ra con.

Cho nên con thấy đó, một lần nữa thăng vượt là một khái niệm mà tâm đường thẳng không thể làm sao phân loại và đặt vào một hộp tư duy, vì nó muốn đi đến cùng cực và bảo: “Phải đến một điểm không thể thăng vượt thêm được nữa. Phải đến một điểm kết thúc khi người ta đạt tới một trạng thái toàn hảo không thể nào vượt hơn được nữa.”

Thật vậy sao, con yêu dấu? Tâm đường thẳng không thể thấu suốt là sự tự thăng vượt không bao giờ có kết thúc. Và đây chính là tại sao tâm đường thẳng phải được bỏ lại đằng sau bởi người đệ tử đã đạt tới mức muốn HƠN NỮA, muốn nhiều “cái ta” hơn là những gì mình đã trải nghiệm cho tới giờ.

Trên cõi tâm linh không hề có tuyến tính đường thẳng mà có một thực tại quả cầu. Và một khi con bước ra khỏi tâm đường thẳng, một khi con thăng vượt nó, thì việc liên tục tự thăng vượt trở thành một hiện thực sống. Con không lo lắng chuyện gì có thể xảy đến trong tương lai mà con xuôi chảy với Dòng sống sự Sống, con hiện hữu trong Hiện tại vĩnh cửu – tức là liên tục tự thăng vượt. Con không phóng chiếu vào tương lai điều gì phải xảy ra hay không được xảy ra. Con không phân tích quá khứ để xem chuyện gì đã phải xảy ra hay đã không nên xảy ra. Con chỉ đơn giản trôi theo Dòng sông sự Sống, và đây là điều tự ngã không thể làm được vì nó muốn sở hữu và nắm giữ.

Cho nên câu hỏi trở thành: “Con có vẫn muốn trải nghiệm việc sở hữu một vật gì, sở hữu một trải nghiệm, một ý niệm cái ta đặc thù hay không?” Khi làm vậy, con cũng sẽ bị sở hữu bởi tạo vật của ngã tách biệt đó, và sẽ đến lượt ngã tách biệt muốn sở hữu con – nó muốn con, trong tư cách một sinh thể tâm linh vô biên và vô hạn, tự giới hạn cái ta của con, giới hạn ý niệm bản ngã của con, ý niệm bản sắc của con trong cái tin tưởng giới hạn đặc thù mà từ đó tự ngã đã sinh ra.

4.1. Rơi xuống nhị nguyên

Con yêu dấu, cuộc sa ngã xuống nhị nguyên đã khởi sự như thế nào? Như Maitreya có giải thích, sa ngã đã khởi sự khi một bầu cõi đạt tới điểm thăng thiên, qua đó nó có thể thăng thiên và trở thành một phần của cõi tâm linh. Nó đã đạt được cường độ ánh sáng tới hạn cho phép toàn bộ bầu cõi gia tốc vào các rung động cao hơn của cõi tâm linh, rung động của tình thương, rung động của sự vô điều kiện. Tuy nhiên, để việc gia tốc này hiện thực thì cần đến điều kiện gì? Con thấy không, con yêu dấu, có một số lớn sinh thể đã cần mẫn tập trung nỗ lực để nâng cao bầu cõi của mình cho đến mức này. Họ đã cố gắng vượt bực. Họ đã tận tụy làm việc một cách bất vụ lợi để nâng cao tất cả mọi sinh thể trong bầu cõi cho đến mức này.

Nhưng ngay cả khi làm vậy, một số vẫn còn giữ lại tàn tích của ngã tách biệt. Họ nghĩ khi mình đã nỗ lực khó nhọc như thế để nâng cao bầu cõi của mình, họ sẽ nhận được điều mà họ xem là phần thưởng tối hậu của Thượng đế cho công lao của họ. Cho nên, thật là một cú sốc to lớn khi tất cả các sinh thể đã đi tiên phong trong công cuộc nâng cao bầu cõi được triệu tập, thì họ được chỉ ra là bước lô-gíc kế tiếp của họ không phải là được vào cõi tâm linh như một loại siêu anh hùng, mà thay vào đó, là họ phải hy sinh đời sống, thành đạt và tự nhận biết của mình. Họ phải hiến tặng nguyên động lượng, thành đạt và tự nhận biết này để đặt nền tảng tạo lập bầu cõi sắp tới, và bầu cõi này thì sẽ khởi sự như một bầu cõi vô minh, được cư ngụ bởi những sinh thể với một khả năng tự nhận biết hạn chế. Nghĩa là các sinh thể thật tinh xảo của bầu cõi đang thăng thiên sẽ phải – nếu có thể nói như vậy – cho phép bản thể mình tụt hậu. Và giờ đây họ trở thành những kẻ cho cư dân của bầu cõi mới toàn quyền sử dụng ánh sáng của họ.

Đây là một bước lô-gíc vì chính bầu cõi đang thăng thiên đã được sinh tạo từ bản thể của những sinh thể trong một bầu cõi cao hơn, và do đó những ai đang đứng đầu bầu cõi đang thăng thiên chỉ giản dị được yêu cầu làm cho người khác những gì người khác đã làm cho họ. Rất nhiều người đang sẵn sàng thăng thiên – để rũ bỏ tàn dư cuối cùng của ngã tách biệt – đã hoan hỉ đón nhận cơ hội này. Và đây là tại sao bầu cõi kế tiếp đã được sinh tạo, dẫn đến bầu cõi của con. Con sẽ không có mặt ở đây nếu không có ai tình nguyện từ bỏ mạng sống của mình để cho con cơ hội có một bầu cõi nơi con có thể tăng triển tự nhận biết. Cho nên chỉ thật hữu lý khi con đã tận dụng cơ hội này thì con được yêu cầu mở rộng cơ hội đó cho người khác, con yêu dấu.

Thế nhưng có một số ít trong số những người có cơ hội thăng thiên đã không muốn từ bỏ tàn dư cuối cùng của ngã tách biệt, cho nên họ đã chống đối kế hoạch của Thượng đế. Họ muốn tiếp tục nắm giữ điều họ xem là địa vị cao trọng trong bầu cõi của họ, một địa vị mà họ tin là mình xứng đáng, mình có quyền hưởng thêm một thời gian nữa. Vì vậy trong khi bầu cõi của họ thăng thiên thì họ đòi hỏi được miễn trừ, được đứng riêng ra. Và tất nhiên khi làm vậy thì họ tự động rơi xuống bầu cõi kế tiếp được sinh tạo, bởi vì họ không thể duy trì hiện hữu của mình trong bầu cõi thăng thiên mà chỉ có thể đi vào một bầu cõi chưa thăng thiên nơi còn có chỗ cho ngã tách biệt tiếp tục tồn tại.

Tuy nhiên các sinh thể này vẫn không bị tước mất thành tựu của mình. Cho nên thật vậy, họ đã bước vào bầu cõi tiếp theo với một mức thành tựu và nhận biết cao hơn hẳn những sinh thể mới khởi sự lần đầu trong bầu cõi. Lẽ tự nhiên, họ tự xưng mình là kẻ lãnh đạo, đúng như điều Giê-su đã gọi là kẻ mù lãnh đạo những người mù theo chân. Trong những người theo chân này có một số đã đi theo họ từ bầu cõi thăng thiên nơi họ đã giữ nhiều chức vụ chỉ đạo, và như vậy, những người không chịu buông bỏ khuôn nếp tuân hành cấp trên cũng đã phải sa ngã giống như họ.

4.2. Các khai ngộ của tia thứ 11

Cho nên khi con đến tia thứ 11, thử thách mà con đối mặt chính là thăng vượt, là buông bỏ những tàn dư cuối cùng của ngã tách biệt, để con đạt đến điều chúng ta có thể gọi là một cảm nhận thực tế tối hậu, hiện thực tối hậu, biết rõ ngã tách biệt là không thực. Và chỉ khi nào con biết ngã tách biệt của con là không thực, chỉ khi con nhìn thấy điều này từ trong quả cầu cái ta của con, thì con mới có thể nhìn ra là mọi thứ sinh ra từ nhị nguyên cũng không thực như thế.

Vậy đây là trạng thái thực tế, trạng thái hiện thực, khi con tự hỏi: “Tại sao tôi lại ở đây?” Cho tới giờ, đặc biệt trong các khai ngộ của bảy tia đầu, có thể con cũng đã tự hỏi câu này nhiều lần rồi, chẳng hạn như: “Tại sao tôi lại đến địa cầu? Tại sao tôi đã tình nguyện xuống đây? Tại sao tôi đã trở lại địa cầu?” Và câu trả lời đã luôn luôn là con ở đây để làm gì đó, để đem lại gì đó, để đạt được một kết quả nào đó. Nhưng con thấy không, khi con đến tia thứ 11, con cần thăng vượt chính khái niệm rằng con đang ở đây để thực hiện bất cứ kết quả cụ thể nào.

Đây sẽ là một chấn động cho tự ngã, một chấn động cho tàn tích của ngã tách biệt. Và đây chính là tại sao thày trao cho con lời dạy này theo cách sẽ gây sốc cho ngã tách biệt để khiến nó phản đối lời dạy, và nhờ vậy con có cơ hội nhìn ra những tàn tích đó của ngã tách biệt.

Con thử nghĩ xem, đã mấy lần rồi các thày đã nói là những gì đã đưa con đến một điểm nào đó sẽ không đưa con xa hơn. Vậy thì con không thể vươn cao hơn thử thách của tia thứ mười trừ khi con sẵn lòng xem xét câu hỏi “Tại sao tôi lại ở đây?” từ một tầm nhìn hoàn toàn mới. Con cần tự hỏi, không phải “Tại sao tôi ở đây,” mà “Cái tôi đang ở đây là gì?”

Liệu có phải đó là cái tôi đang thấy nó tách biệt với nguồn cội của nó, tách biệt với những sinh thể tự nhận biết khác? Liệu con có đang nghĩ mình ở đây để làm gì cho Thượng đế, hay cho các chân sư thăng thiên, hay ngay cả cho người khác – cứu độ họ, giải thoát họ, đánh thức họ hay bất cứ gì khác? Tại sao con cần xem xét điều này, con yêu dấu? Bởi vì chỉ có ngã tách biệt mới mang ý niệm là nó đang làm gì đó ảnh hưởng đến người khác.

Con có thấy điểm vi tế ở đây chăng? Biết bao người tâm linh có thiện ý tin rằng họ ở đây để đem lại sự thay đổi tích cực cho hành tinh này. Biết bao người mộ đạo tin rằng mục đích của họ là cải đạo người khác theo tôn giáo của họ. Nhưng ngay cả những ai đã thăng vượt nhu cầu cải đạo người khác theo một tôn giáo vỏ ngoài cũng có thể bị cuốn hút vào ý muốn đánh thức người khác vào con đường tâm linh, ý muốn thay đổi họ, ý muốn thay đổi xã hội, ý muốn thay đổi cả trái đất cùng với nhân loại.

Nhưng con thấy đó, con yêu dấu, tại sao thế giới cần thay đổi chứ? Tại sao người ta cần được cứu rỗi? Họ cần được cứu rỗi vì họ bị kẹt trong ý niệm bản ngã tách biệt. Thế giới cần thay đổi vì loài người đã đồng-sáng tạo vô số vấn nạn xuyên qua ý niệm bản ngã tách biệt, và như vậy họ củng cố cho ảo tưởng là ngã tách biệt có một thực thể nào đó, một sự trường tồn nào đó, một sự sống thực nào đó. Vậy con có thấy chăng là đến một điểm trên đường tu khi con bước vào các tia sáng bí mật, thì con cần ngộ ra, con cần đạt được một cảm nhận hiện thực tối hậu, rằng con không thể hoàn thành mục tiêu đích thực nhằm nâng cao bầu cõi của con chừng nào con còn duy trì một tàn dư – cho dù mờ nhạt, cho dù chỉ là cái bóng – của ngã tách biệt? Con sẽ không thể làm vậy chừng nào con nghĩ là con, như một ngã tách biệt, đang ở đây để tạo tác một thay đổi nào đó trên ngã tách biệt của người khác.

4.3. Thời Hoàng kim sẽ thật sự như thế nào?

Con có thấy cái bẫy không? Khi con vẫn còn tàn tích của ngã tách biệt, con nghĩ là ngã tách biệt của con có lý và biết hết mọi chuyện, và do đó nó cũng biết điều gì nên xảy ra trên hành tinh, kế hoạch của các chân sư thăng thiên là gì. Con nghĩ là con biết Thời Hoàng kim của Saint Germain sẽ ra sao, ý định của Thượng đế là gì, vương quốc của Thượng đế cho trái đất là gì. Và như vậy con cho là con cần xông ra ngoài kia, khiến cho người khác phải công nhận tính ưu việt của quan điểm này, để họ có thể xác nhận và đồng ý với nó, thậm chí còn nâng con lên một chức vụ lãnh đạo. Hoặc nữa, công nhận con là một bậc thày tâm linh với nhiều trí tuệ hơn bình thường.

Nhưng con thấy đó, vấn đề nằm ở ngã tách biệt cùng tất cả những tà thể đã được tạo ra xuyên qua các ngã tách biệt của loài người. Những ngã tách biệt này sẽ không bao giờ công nhận thực tế là chúng không thực. Vì vậy chúng sẽ không bao giờ công nhận một vị thày chân chính phát biểu từ thực tại lớn hơn. Đó là tại sao biết bao người đã không nhận ra Phật, đã không nhận ra Ki-tô, nhưng lại xem Phật và Ki-tô là mối đe dọa cho cảm giác thoải mái của mình. Vậy nếu con vẫn còn ước mơ đạt được một sự công nhận nào đó, một sự công nhận rộng rãi từ quần chúng về thế giới quan tâm linh hay về giáo lý của mình, thì giấc mơ này chỉ có thể là một tàn tích của ngã tách biệt mà thôi. Và như vậy, con đang hành xử một cách mất cân bằng, con đang bồi thêm cho cuộc tranh đấu và những năng lượng nuôi dưỡng tranh đấu.

Con hãy lưu ý một sự khác biệt vi tế. Con đang ở đây để giúp mục đích thật sự của Thượng đế, cụ thể là nâng cao bầu cõi này cho đến khi nó thăng thiên và trở thành một phần của cõi tâm linh, nhưng thử thách là thấy được con không thể hoàn thành mục tiêu này bằng cách hành xử như một ngã tách biệt đang cố thay đổi những ngã tách biệt của người khác. Con chỉ có thể nâng cao bầu cõi này bằng cách khiến cho một số lượng người tới hạn thức tỉnh để vượt khỏi ngã tách biệt. Và làm thế nào con có thể giúp người khác thức tỉnh? Chỉ bằng cách trước tiên con cũng thức tỉnh.

Bởi vì khi con bước vào cõi của các tia bí mật, không có chuyện lẩn trốn. Làm sao con có thể lẩn trốn trong sự trong suốt? Cho nên con nói thế nào thì con phải làm thế nấy. Con phải trở thành những gì con nói. Hay đúng hơn, lời nói của con phải trở thành sự thể hiện của Bản thể chân thực của con, chứ không phải một giáo lý vỏ ngoài con đã vay mượn và tìm cách ép uổng lên người khác.

Điều gì cuối cùng sẽ thay đổi được thế giới? Không phải là thật nhiều giáo lý được trao qua một ngã tách biệt cho những ngã tách biệt khác. Điều rốt cuộc sẽ thay đổi thế giới là sự đem lại ánh sáng, và điều này chỉ có thể xảy ra khi con người phàm của con trở thành một cánh cửa mở trong suốt, hầu ánh sáng chiếu xuyên qua trong dạng thuần khiết đến độ cái ta ý thức của người khác có thể thấy được. Họ thấy ánh sáng này vượt quá tất cả những gì họ có thể nhìn thấy xuyên qua ngã tách biệt của họ, và như vậy họ thức tỉnh với tiềm năng trở nên HƠN NỮA.

4.4. Cẩn thận ham muốn được người khác công nhận

Con hãy kiểm lại chính mình, kiểm lại các ý định, các động lực của mình. Con có mong muốn được người khác công nhận chăng? Con có sợ bị người khác chế giễu hay làm ngơ? Con có sợ hành tinh này sẽ phải gánh chịu một tai họa tột cùng trừ khi ai nấy công nhận thế giới quan của con, giáo lý của con?

Chỉ có ngã tách biệt mới có thể sợ hãi. Chỉ có ngã tách biệt mới mong muốn, đòi hỏi gì đó từ những ngã tách biệt khác. Cho nên nếu con thấy bất kỳ yếu tố nào của những rung động này trong bản thể con, thì con biết là chúng phải được thăng vượt hầu con có thể vượt qua khai ngộ của tia thứ 11.

Nhưng điều thực sự phải được thăng vượt là ý niệm cái ta. Tất nhiên, điều này một lần nữa là một bước khổng lồ cho những ai đã đi trên con đường tâm linh suốt nhiều năm hay nhiều kiếp, đã xây dựng một cái trớn và nghĩ rằng mình đã thu hoạch rất nhiều kiến thức và minh triết. Bây giờ bỗng nhiên, hình như tất cả là… con số không hay sao? Con có thể cảm thấy như vậy vì giờ đây con được yêu cầu từ bỏ tất cả. Nhưng con thấy đó, không phải là không được gì đâu. Bất cứ gì con đã học hỏi và đã trải nghiệm đều đã đưa con đến mức tâm thức hiện tại của con. Không có gì sai trái trong chuyện này vì đây chỉ là sự trải bày của con đường cá nhân của con khi con, vì nhiều lý do khác nhau, đã mong muốn một số trải nghiệm nhất định nào đó.

Con toàn quyền, con yêu dấu, tiếp tục có một số trải nghiệm như một đệ tử tâm linh ở một địa vị nào đó – có lẽ ngay cả một sự cao trội nào đó – bao lâu con muốn. Nhưng thày không ở đây để nói với con là những gì con đã làm là sai trái hay vô giá trị. Đây là con đường con đã chọn, và thày ủng hộ quyền tự quyết của con. Thày chỉ ở đây để nói rằng nếu con muốn vượt qua khai ngộ của tia thứ 11 thì con cần thăng vượt. Con cần sẵn lòng từ bỏ cuộc sống của mình để vươn lên cao hơn, vì con không thể vươn lên cao hơn trong ý niệm cái ta hiện thời của con cho dù nó là gì.

4.5. Sự hàng phục vô điều kiện

Cho nên ở tia thứ 11, con cần suy ngẫm thật nghiêm túc liệu có còn tàn dư nào của ngã tách biệt đang muốn con hoàn thành một điều gì trong thế giới này nữa không, trước khi con cảm thấy mình có thể bỏ thế giới này lại đằng sau. Đây là khai ngộ mà sứ giả này đã vượt qua mà ông đã mô tả, là ông tới điểm cảm thấy nếu mình qua đời ngay lúc này thì mình có thể bỏ trái đất lại đằng sau mà không hề luyến tiếc hay còn sót lại việc gì chưa xong.

Đối với tự ngã, đó là sự mất mát tột cùng. Nhưng đối với cái ta ý thức, đó là cơ hội tột cùng. Liệu sứ giả này có cảm thấy ông đã mất gì trong trải nghiệm hàng phục toàn diện và trọn vẹn đó không? Không, ông đã thu hoạch một cái gì đó lớn hơn gấp bội những gì ngã tách biệt của ông có thể hình dung. Cho nên con thấy là nhiều người trong các con đã đến một điểm trên đường tu nơi con sẵn sàng bước lên cao hơn trong việc phụng sự cuộc sống, nhưng con không thấy được việc phụng sự này là gì với cái ta hiện thời của con. Và để vượt quá ý niệm cái ta này, con phải buông bỏ nó mà không biết trong nhận biết vỏ ngoài những gì sẽ hiện ra thay thế.

Con thấy không, con yêu dấu, tia thứ 11 tượng trưng cho một khúc rẽ cốt yếu là con phải từ bỏ – sẵn lòng từ bỏ – mà không thấy rõ cái gì sẽ ở đó, cái ta nào sẽ ở đó sau khi con từ bỏ cái ta hiện tại. Nếu con biết cái gì sẽ ở đó thì con đã không cảm nhận mình từ bỏ gì, phải không con? Khi con đi mua một vé số với giá một đô-la thì con từ bỏ một đô-la. Nhưng nếu con biết chắc tuyệt đối là con sẽ trúng lô độc đắc thì con sẽ không có cảm giác là mình đã từ bỏ bất cứ gì.

Vì vậy, tia thứ 11 của sự thăng vượt tượng trưng cho trải nghiệm từ bỏ mà không biết chuyện gì sẽ tiếp nối theo, trải nghiệm từ bỏ như là sự biểu đạt tối hậu của tình thương, là tình thương vô điều kiện hoàn toàn không dính mắc. Ở điểm này của đường tu, con yêu dấu, con đã bắt đầu nhìn thấy con là nhiều hơn ngã tách biệt. Con đã nhìn thoáng được cái nhiều hơn đó là gì. Nếu con lấy một người mới khởi sự trên đường tu tâm linh và yêu cầu họ đi qua khai ngộ của tia thứ 11, họ sẽ bị sốc hoàn toàn – và đó là tại sao con đã không được yêu cầu khởi sự với khai ngộ này.

Nhưng khi con đến một điểm thích hợp trên con đường cá nhân của mình, con biết là qua việc từ bỏ tất cả, con sẽ không chỉ còn hai bàn tay trắng. Khi con từ bỏ mọi ý niệm cái ta, con sẽ không mất hết ý niệm cái ta, bởi vì có một phần của cái ta của con là thực. Và phần thực này sẽ trở về với con. Cái con từ bỏ là phần không thực che khuất cái thực.

Con có thấy chăng, chừng nào con còn dính mắc với tàn dư của ngã tách biệt và mong muốn hoàn thành điều gì đó xuyên qua ngã tách biệt, con sẽ không thể nhìn thấy thực tại cao hơn mà con là, cũng như tiềm năng cao nhất của Sứ vụ Thiêng liêng của con. Con không thể thấy được. Bởi vì tàn dư của ngã tách biệt và giấc mơ thành tựu hình thành một hàng rào không trong suốt, nó không cho phép con thấy và nó cũng không cho phép ánh sáng chiếu xuyên qua con người vỏ ngoài của con. Do đó, con không thể thấy gì trước khi con từ bỏ.

Đó là nguyên tắc cốt yếu mà con phải dần dần nhận ra để vượt khai ngộ của tia thứ 11. Con phải sẵn lòng buông bỏ hồn ma trong khi mình con treo trên cây thập tự, không biết liệu mình sẽ được phục sinh hay không như cái ta thực mà con là. Nhưng con không thể thấy cái ta thực là gì, cho nên con phải sẵn lòng từ bỏ nó, ngay cả khi điều này có nghĩa là con sẽ biến mất khỏi trái đất và hoàn toàn không thành tựu được gì trên hành tinh này.

4.6. Hiểu nguyên tắc của sự hàng phục

Chắc chắn con có thể thấy là các chân sư thăng thiên không muốn con rời hành tinh này mà không thành tựu được gì. Nhưng các thày muốn con thành tựu tiềm năng cao nhất của con, và điều này đòi hỏi con từ bỏ tiềm năng thấp của mình. Có thể có một phần trong tâm con sẽ nói: “Nhưng tôi đã học hỏi giáo lý của chân sư thăng thiên hàng chục năm trời, tất cả không thể chỉ là ảo ảnh. Tôi phải biết khi điều gì là thực. Tôi đã có những khải tượng, tôi đã có những trải nghiệm cao, tôi đã nhận được chỉ dẫn từ nguồn này hay nguồn nọ, thậm chí trực tiếp từ bên trong, hay trực tiếp từ các chân sư. Phải có gì thực trong đó chứ.” Và đúng vậy.  

Nhưng khi con tập trung chú ý vào ý niệm cái ta và viễn quan con đang có ngay bây giờ, con đang tập trung chú ý vào mức này mà thôi. Nhưng trong Sứ vụ Thiêng liêng của con có nhiều thứ hơn là những gì con đang thấy. Và nếu con muốn thấy những thứ đó và biểu hiện ra ngoài, con phải từ bỏ tầm nhìn hiện thời của mình, ý niệm cái ta hiện thời của mình. Cái này cần được bỏ lại trước khi cái mới có thể xuất hiện.

Tự ngã sẽ không bao giờ, không bao giờ hiểu được nguyên tắc này. Tâm đường thẳng cũng khó lòng nào thấu triệt được nguyên tắc này. Nhưng con, cái ta ý thức, có khả năng đạt tới điểm biết được đây chính là bước hợp lý kế tiếp. Và nó có khả năng đạt tới điểm khi nó chỉ giản dị buông ra, buông ra tất cả. Buông tất cả mọi chờ đợi, mọi mong muốn.

Buông.

Sự buông bỏ tối hậu.

Làm thế nào con có thể hoàn tất Sứ vụ Thiêng liêng của con? Chỉ bằng cách trở nên hoàn toàn không dính mắc với chuyện hoàn thành bất cứ gì. Bởi vì chỉ trong sự không dính mắc toàn diện con mới có thể buông bỏ tàn dư của ngã tách biệt, cái ngã không thể nào từ bỏ mong muốn hoàn thành một điều gì. Vì vậy, nó phải được phơi bày để con nhìn thấy nó và buông nó, bởi vì giờ đây con thấy là nó không thực.

Đó, đây là khai ngộ ở tia thứ 11. Không phải là một khai ngộ dễ dàng cho bất cứ ai. Thế nhưng tất cả các thày đã thăng thiên đều đã kinh qua khai ngộ này. Các thày có thể nhìn lại – đặc biệt một số đồng môn của chính thày đây đã nhìn lại – và thấy là mình đã chần chứ như thế nào trước khai ngộ này, đã đắn đo và do dự có khi hàng mấy kiếp về sự cần thiết phải làm như vậy, đã suy luận và tranh luận với tâm đường thẳng về lý do tại sao chuyện này lại có thể cần thiết trong khi thế giới ở trong tình trạng ngặt nghèo với quá nhiều công việc phải làm như vậy.

Con có thấy khi con là một đệ tử của chân sư thăng thiên, con thật dễ rơi vào tâm trạng này không? Con cho rằng có quá nhiều việc phải làm để cứu nguy thế giới và đem lại Thời Hoàng kim của Saint Germain. “Tôi phải năng nổ. Tôi không thể ngồi không như thế này, suy tư về chuyện từ bỏ tất cả. Làm vậy sẽ hoàn tất được gì đây?” Nhưng con thấy đó, làm vậy sẽ hoàn tất được kết quả tối hậu là con là cánh cửa mở, con trong suốt, để ánh sáng Thượng đế có thể đi vào cõi vật chất và làm công việc của nó.

Điều con từ bỏ là gì? Con từ bỏ ý niệm là con, như một ngã tách biệt, đang hoàn thành hay đóng góp cho công việc của Thượng đế. Nhưng như thày đã nói, vấn đề là cảm nhận tách biệt. Làm sao ngã tách biệt có thể làm công việc của Thượng đế khi công việc thực sự của Thượng đế là đánh thức con người khỏi ảo tưởng tách biệt?

Do đó con chỉ có thể làm công việc của Thượng đế bằng cách thăng vượt ngã tách biệt – thấy mình là một với cái Tất Cả, và toàn bộ mục đích của mình khi đến trái đất là không cho ngã tách biệt chút cảm nhận thành tựu nào, ngay cả thành tựu tối hậu là cảm thấy mình đã làm công việc của Thượng đế. Không, mục đích thật sự của con đến đây là để nâng cao cái Tất Cả, tức là cái Ta thực của con. Bởi vì chỉ có một cái Ta với nhiều biểu hiện cá nhân khác nhau. Và cách duy nhất để nâng cái Ta này lên là nâng cái Tất Cả.

Vì vậy chừng nào còn có những thành phần của cái Ta bị kẹt trong nhị nguyên thì vẫn có những thành phần của cái ta của con bị kẹt trong nhị nguyên. Con mong muốn đánh thức họ, không phải bằng cách tạo thay đổi trong ngã tách biệt của họ, mà bằng cách là con người mà con là, là cái Ta Một trong hiện thân. Con biết nó, con chứng tỏ nó, con để cho nó tỏa rạng xuyên qua mọi lời nói và hành động của mình, để họ thấy là có gì nhiều hơn ngã tách biệt. Bởi vì con có hạnh phúc, con có niềm vui và tâm an bình đích thực đến từ sự trong suốt, và không gì trong thế gian có thể kéo con ra khỏi trạng thái này an lạc xuôi chảy với Dòng sông sự Sống.

4.7. Không có lối tắt

Con yêu dấu, con có thể nghĩ là các thày, các chân sư thăng thiên, phải có khả năng nghĩ ra một con đường tắt sẽ giúp con vượt qua khai ngộ này của tia thứ 11. Nhưng không có lối tắt, con ạ.

Đây là điểm trên đường tu con phải đối mặt với chính con quỷ của mình – những ma quỷ, những tà thể mà con đã tạo ra khi con trao lực sống cho một số hình ảnh không khởi lên từ hợp nhất mà từ tách biệt. Con phải đối mặt với chúng. Chính con đã tạo ra chúng.

Con phải đương đầu với những gì con đã tạo ra, và con phải tách rời cái ta thực của con ra khỏi tạo vật của chính mình lẫn của người khác. Có thể con sẽ nghĩ việc phải từ bỏ ngã tách biệt nghe sao có vẻ phi lý, vì đồng thời thày cũng nói đến việc tách rời khỏi tâm thức đại chúng. Nhưng cả hai là cùng một công việc. Con tách rời khỏi tâm thức đại chúng bằng cách từ bỏ ngã tách biệt. Đó là cách duy nhất để con tách rời, vì chính ngã tách biệt đang kéo con vào tâm thức đại chúng.

Vì vậy mà ở các tầng thấp hơn của đường tu, con đã xây dựng động lượng hướng thượng đó qua việc bám giữ một phần của ngã tách biệt, thậm chí còn biến nó thành một nhân cách tâm linh, khoác vào những đức tính mà môi trường tâm linh của con đòi hỏi. Nhưng cái phần đó phải ra đi, phần đó phải được bỏ lại đằng sau nếu con muốn tự do, tự do biểu hiện Bản thể cao hơn của con, tức là sinh thể mà con thực sự là. Cho nên không có đường tắt. Con phải vật lộn với điều này cho đến khi con không còn vật lộn với lũ ma quỷ trong tâm con, vì con nhìn xuyên thấu ảo tưởng đã tạo ra chúng. Và con chỉ đơn giản để ảo tưởng ra đi, để nó rụng xuống khỏi chính con.

Thày đang nói về chuyện gì ở đây? Con yêu dấu, có nhiều ma quỷ, nhiều tà thể đã được tạo ra, và con như một đệ tử của chân sư thăng thiên, có thể đã nghĩ là chúng có hình dạng xấu xa hay đen tối. Nhưng đã đến lúc con phải đối mặt với thực tế là cũng có loại ma quỷ và tà thể đội lốt tốt thiện, tâm linh, sùng đạo. Cái con đã tạo ra khi bước chân trên đường tu cho tới điểm này, là một tà thể. Ngã tách biệt là vậy đó, một tà thể mang những đặc tính tâm linh, tìm cách tỏ ra tốt đẹp đến độ Thượng đế phải nhận nó vào vương quốc của ngài.

Nhưng nó không thể được nhận vào. Chỉ có con, cái ta thực của con, mới có thể được nhận vào. Không người nào đã thăng lên được thiên đàng ngoại trừ người đã đi xuống từ thiên đàng. Cái đi xuống từ thiên đàng là cái ta ý thức, và chỉ cái ta ý thức mới có thể thăng lên trở lại. Nhưng nó không thăng lên trở lại y như cái đã đi xuống, mà như sinh thể lớn hơn mà nó đã trở thành qua những trải nghiệm mà nó đã có trong thế gian này. Sinh thể lớn hơn này mà nó đã trở thành, không phải là ngã tách biệt, mà là sinh thể đã thăng vượt sự tách biệt bằng cách nhìn xuyên thấu tách biệt, và nhờ vậy có được một tầm nhìn khác về hợp nhất. Tầm nhìn này, con không thể có được nếu con chưa bao giờ ở ngoài hợp nhất.

4.8. Buông bỏ mọi ý niệm cái ta

Và như vậy, con hãy suy ngẫm về sự cần thiết thăng vượt bất kỳ ý niệm cái ta nào mà con đang có ngay bây giờ, bởi vì sự thật muôn đời là con chỉ tăng trưởng bằng cách thăng vượt ý niệm cái ta.

Và con có khả năng đến được điểm đó, con yêu dấu, khi con nhận ra là một đằng có cái ta, và đằng khác có những đối tượng, những khách thể, những đặc tính mà cái ta khoác vào. Ngay bây giờ hầu hết các con chưa có một ý niệm rõ ràng về cái ta như một trạng thái nhận biết thuần khiết. Con tự đồng hóa với – tự đồng hóa như – các đặc tính, các khách thể.

Chúng ta có thể nói là cái ta của con là một bình chứa, và qua hành trình của mình trong cõi vật chất, con đã đổ đầy bình chứa này với một số khách thể, và con tự đồng hóa với và như các đối tượng. Nhưng con thực là cái ta. Và một khi con buông bỏ những tàn dư kia của ngã tách biệt thì con neo trụ vào cái ta này. Và con thấy cái ta là nhiều hơn các khách thể và đặc tính trong đó.

Cái ta là một dòng tâm thức hằng chảy, hằng thăng vượt, cho nên nó không bao giờ đồng hóa với bất kỳ đặc tính nào, không bao giờ tìm cách sở hữu hay nắm giữ, không bao giờ tìm cách đứng yên ở một mức nào đó. Nó tìm thấy niềm vui và toại nguyện bằng cách liên tục thăng vượt sự biểu đạt sáng tạo của nó, trở nên NHIỀU HƠN những gì nó đã là ngay một giây trước. Nó không tìm cách lặp lại một trải nghiệm, tìm cách bước vào cùng một dòng sông hai lần. Thay vào đó, nó luôn luôn tìm kiếm cái mới trong biểu đạt, cái mới trong dòng chảy sáng tạo nơi tách biệt không hiện hữu.

Cho nên không hề có mong muốn hoàn thành bất cứ gì hầu khắc phục một thiếu thốn. Không có cảm nhận thiếu thốn nào, mà chỉ có sự tràn đầy cùng với ý muốn biểu đạt sự tràn đầy này nhiều hơn. Và đây là lúc con trải nghiệm niềm vui, niềm vui siêu việt vô điều kiện không bao giờ có thể được trải nghiệm qua phin lọc của ngã tách biệt. Và như vậy khi con vượt khai ngộ của tia thứ 11, đây sẽ là niềm vui của con. Và niềm vui của con sẽ trọn vẹn.

3 | Tia thứ mười của trong suốt

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 9 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Vậy thày lại đến giảng về tia sáng tiếp theo, tia thứ mười. Nhưng con hãy lưu ý là các thày đánh số vì một số lý do thực tiễn. Con đừng quá dính mắc với tâm đường thẳng – như thày đã cố giải thích cho con theo nhiều cách – để cho rằng các tia bí mật cũng mang tính đường thẳng như bảy tia đầu. Không đâu, con yêu dấu.

Không phải là con phải đi từ số 8 lên số 9 rồi số 10 và cứ tiếp tục như vậy. Khi con vượt qua khai ngộ của tia thứ tám, con bước vào cõi của các tia bí mật, và cõi này thì mang tính quả cầu chứ không đường thẳng. Cho nên theo một nghĩa, chúng ta có thể nói là con kinh qua các khai ngộ của tất cả tia bí mật cùng một lượt. Nhưng có thể đôi khi con cần tập trung vào một tia đặc thù nhiều hơn là tia khác, và điều này tùy con đường cá nhân của con. Con không nên cảm thấy là con phải ép mình đi theo một con đường tuyến tính xuyên qua các tia bí mật, mà con hãy hòa điệu vào trong tim và cảm nhận tia nào là tia con cần chú tâm ngay lúc này.

3.1. Tự ngã không thể thấu rõ tính trong suốt

Tia kế tiếp là tia thứ mười, là tia của sự trong suốt. Một lần nữa, đây là một khái niệm mà tâm đường thẳng cảm thấy khó khăn, và tất nhiên tự ngã thì cảm thấy hoàn toàn bất khả thi, không làm sao xử lý được. Bởi vì làm thế nào tự ngã có thể sống sót trong sự trong suốt hoàn toàn? Như đã được giải thích trong kinh Sáng thế, sau khi Adam và Eva ăn trái cấm của tâm thức nhị nguyên, cả hai đã tìm cách lẩn trốn khỏi Thượng đế. À con yêu dấu, làm sao có thể tin được là con thật sự có thể lẩn trốn?  

Hiển nhiên về mặt lô-gíc thì hoàn toàn vô lý là con có thể lẩn trốn khỏi Thượng đế, vì Thượng đế ở mọi nơi và trong mọi thứ. Cho nên để có thể tin vào khái niệm lẩn trốn, con phải bước vào trạng thái tách biệt, trạng thái nhị nguyên, nơi đó có một khoảng cách giữa con và Thượng đế. Bấy giờ con có thể dựng lên niềm tin là có gì đó không trong suốt, và như vậy con có thể lẩn trốn đằng sau cái đó.

Ví dụ, con hãy tưởng tượng có ai đó đang chơi trốn tìm với một nhóm trẻ con và tất cả bọn trẻ đều đi trốn. Một đứa trốn sau nhà, một đứa sau bụi cây, nhưng có một đứa cố trốn đằng sau một tấm kính trong. À, chắc chắn đứa này không trốn giỏi lắm, phải không? Và đây là điều con nhận ra khi có trong suốt: không gì có thể được che giấu. Mà tự ngã thì chỉ có thể tồn tại khi có ảo tưởng là có điều gì được che giấu – có một khoảng cách với cái Một của Thượng đế. Và tất nhiên, điều gì có thể được che giấu, điều gì có thể tách riêng khỏi cái Một?

Đây là sự kiện đã xảy ra như Maitreya đã giải thích, sau khi những sinh thể đồng-sáng tạo của Thượng đế tách mình ra khỏi vị thày tâm linh của họ – bởi  vì chừng nào họ còn liên hệ trực tiếp với vị thày tâm linh thì họ không thể quên được họ là HƠN NỮA, họ đến từ một nguồn cội lớn hơn. Ngay cả nếu họ chưa có một cái hiểu trọn vẹn về nguồn cội này và chưa trải nghiệm trực tiếp sự hợp nhất với nguồn cội của họ, ít ra họ cũng có chút hiểu biết về điều này. Do đó họ không thể hoàn toàn chìm đắm trong tâm thức nhị nguyên, tin chắc là không có Thượng đế, hay tin rằng ngài là một sinh thể ở xa tuốt trên trời chứ không ở đây trên trái đất, và chính họ là những kẻ có tội chỉ vì họ đang sống. Tất cả những tin tưởng này chỉ có thể hiện hữu khi có gì đó che mờ sự trong suốt vốn là thực tại tiềm ẩn của vạn vật. Có ai đó đã ném bùn vào tấm kính của tâm thức nhân loại cũng như vào tấm kính cá nhân trong tâm thức mỗi người.

3.2. Điều gì che mờ sự trong suốt?

Vậy thì điều gì che mờ sự trong suốt? Để hiểu được trọn vẹn vấn đề này ngoài những gì đã được các thày truyền giảng về Ánh sáng Mẫu-Vật và các hình ảnh phóng chiếu lên đó, con cần hiểu một khái niệm một lần nữa sẽ rất khó khăn cho tâm đường thẳng – và tự ngã thì, một lần nữa, sẽ nổi loạn chống lại. Sự thật là mọi thứ đều là tâm thức, mọi thứ đều là nhận biết. Con là một người đồng-sáng tạo cùng với Thượng đế. Con là một sinh thể tự nhận biết. Nhưng làm thế nào con đồng-sáng tạo? Con đồng-sáng tạo bằng cách sử dụng thực tế duy nhất có mặt, cụ thể là điều các thày đã gọi là Ánh sáng Mẫu-Vật. Các thày cũng đã giải thích là Ánh sáng Mẫu-Vật có tâm thức, mặc dù rất ít các con đã thực sự suy ngẫm điều này. Có nghĩa chính xác là gì, con yêu đấu? Có nghĩa là bất cứ gì được tạo ra, bất cứ gì được hình dung, bất cứ gì được tưởng tượng, cũng được thực hiện với tâm thức cơ bản này của Ánh sáng Mẫu-Vật.

Tâm thức này của Ánh sáng Mẫu-Vật khoác vào một hình tướng đặc thù. Tuy nhiên vì hình tướng này có ý thức, cho nên con có khả năng tạo ra đủ cường độ để cuối cùng cái có ý thức đó trở nên đậm đặc đến mức nó phát triển một dạng tự nhận biết thô sơ. Và như vậy, cái được tạo ra là một thể sống, đặc thù, nhận biết ý thức.

Con đã quen lớn lên trong một xã hội xem mọi thứ trong thế giới vật chất là những đồ vật và hình dạng vô tri vô giác. Tất nhiên đây là một cái nhìn thiếu chính xác đến độ, như thày đã có giải thích trước đây, ngay cả nền vật lý lượng tử cũng được chứng minh là không đầy đủ. Tâm thức là thực tại cơ bản bên dưới, con yêu dấu. Cho nên khi con, như một người đồng-sáng tạo tự nhận biết, áp chồng một hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật, con không chỉ phóng chiếu một hình ảnh lên một vật vô tri vô giác là màn hình chiếu phim, mà con đang phóng chiếu lên sự nhận biết cơ bản của ánh sáng Mẹ.

Và khi con thấm đẫm hình ảnh này với đủ lực sống xuyên qua chú ý của con, qua nhận biết của con, thì hình ảnh sẽ đạt đến cường độ đó, độ phúc tạp đó, để giờ đây nó bắt đầu có cuộc sống riêng của nó. Cũng phần nào giống như giấc mơ muôn đời khi người ta tin có thể tạo ra sự sống, chẳng hạn như trong phim Frankenstein, có ông bác sĩ kia lấy nhiều bộ phận cơ thể, khâu chúng lại với nhau, thấm đẫm chúng với một sinh lực cao hơn, và bỗng nhiên nó sống dậy.

Trong cốt lõi đây là điều mà tất cả các con đều làm khi các con đồng-sáng tạo, vì đây chính là quyền năng của tâm thức của con. Con có quyền năng, xuyên qua khả năng tự nhận biết của mình, áp chồng sự tự nhận biết này, lực sống này, lên Ánh sáng Mẫu-Vật, cho đến khi nó hấp thụ đủ lực sống để hình ảnh mà con áp chồng trở nên sống động. Gần giống như con thấy trong phim hoạt họa, mặc dù mỗi hình vẽ là một hình chết, nhưng khi biểu diễn theo trình tự thì dường như các nhân vật trở nên sống động.

3.3. Đồng-sáng tạo từ hợp nhất

Vậy bây giờ câu hỏi trở thành, con dùng quyền năng đồng-sáng tạo của mình như thế nào? Liệu con sẽ đồng-sáng tạo xuyên qua trạng thái bất nhị hay trạng thái nhị nguyên? Con thấy đó, khi con dùng quyền năng đồng-sáng tạo từ trạng thái quân bình – trạng thái hợp nhất, nhận biết sự hợp nhất của mọi sự sống – con có thể sáng tạo những dạng sống riêng biệt, khoác lấy một đời sống, nhưng không phải một đời sống tách biệt, mất kết nối. Những dạng sống này trở thành một phần của Dòng sông sự Sống, vốn được tạo ra từ lực đẩy cùng Bản thể của tất cả những vị đồng-sáng tạo tự nhận biết đã đi trước con trong nhiều bầu cõi khác nhau, như Maitreya có giải thích. Cho nên khi nào con là một với Dòng sông sự Sống đó, bất cứ gì con sáng tạo cũng đều trở thành một phần của Dòng sông sự Sống. Trong khuôn khổ bài thảo luận này về sự trong suốt, chúng ta có thể nói là bất cứ gì con sáng tạo từ trạng thái hợp nhất đều mang tính trong suốt, có nghĩa là ánh sáng thuần khiết của Thượng đế có thể chiếu xuyên qua.

Con nghĩ xem con nhìn cửa sổ một căn nhà như thế nào. Nếu cửa sổ không trong suốt thì nó có giá trị gì không? Hiển nhiên là không, vì con muốn ánh sáng chiếu xuyên qua. Và đây chính là điều xảy ra khi con sáng tạo từ hợp nhất. Con tạo ra một dạng sống có thể khoác lấy đời sống riêng biệt, nhưng nó không tách biệt, mất kết nối. Và con thấy dạng sống này mang ơn sự hiện hữu, mang ơn đời sống của nó từ dòng chảy hằng sống đến từ một nguồn cội cao hơn, và mặc dù nó đến xuyên qua tâm thức của con, nó đến từ một nguồn cội cao hơn. Vì vậy, con nhận ra con là một người đồng-sáng tạo: “Ta không thể tự mình làm nổi việc gì. Cha ở trong ta mới làm.”

Bởi vì con đang sử dụng ánh sáng, lực sống của Thượng đế tuôn chảy qua tâm con. Con không thể sản xuất ra ánh sáng này từ cái ta ý thức hay từ tâm phàm của con. Con chỉ có thể nhận nó từ một nguồn cao hơn, từ Hiện diện TA LÀ của con cũng như từ đại đoàn ánh sáng có nhiều thứ bậc lên tuốt Đấng Sáng tạo. “Lên tuốt” tất nhiên hàm ý một khoảng cách to lớn, và điều này tuy không là thực tế nhưng vẫn có một thực tế nào đó do sự khác biệt về độ rung và tần số.

Giờ đây, miễn là con sáng tạo từ hợp nhất thì những gì con sáng tạo sẽ trong suốt. Có nghĩa là không ai có thể nhìn vào kết quả đồng-sáng tạo của con mà lại nghĩ rằng nó có thể tự thân nó hiện hữu. Con biết rõ không gì có thể hiện hữu mà không có nguồn cội, rằng mọi thứ đều có đời sống và hiện hữu của mình nhờ nguồn cội vượt khỏi mình. Và như vậy, không ai có thể bị kẹt vào một thế giới hình tướng đặc thù vì người ta sẽ biết là luôn luôn có gì cao hơn – bởi vì rõ ràng có ánh sáng đang chiếu xuyên qua.

3.4. Đồng-sáng tạo từ nhị nguyên

Vậy thì chuyện gì xảy ra khi con bắt đầu đồng-sáng tạo từ trạng thái tách biệt, từ ảo tưởng nhị nguyên? À, chuyện xảy ra là cái con tạo ra cũng là một dạng sống khoác vào một đời sống riêng biệt, nhưng trong trường hợp này, một đời sống tách biệt. Có lẽ con đã nghe nói từ nhiều giáo lý tâm linh về các tà thể, quỷ dữ và đủ loại sinh thể bóng tối. Đấy, con yêu dấu, những sinh thể như vậy được tạo ra qua tâm thức nhị nguyên. Nhưng con đừng ngây thơ mà nghĩ rằng những gì được tạo ra qua tâm thức nhị nguyên chỉ có thể mang hình dạng đen tối hay đáng sợ. Thực tế là con người đã tạo ra nhiều sinh thể, nhiều tà thể có vẻ tốt lành, mà họ tin là tốt lành, hay cần thiết, hay hữu ích, hay thậm chì còn phục vụ mục đích của Thượng đế. Thế nhưng chúng đều dựa trên cảm nhận tách biệt, ảo tưởng tách biệt.

Con thấy đó, ảo tưởng tách biệt là gì chứ? Như các thày đã giảng, Thượng đế ở khắp mọi nơi và trong mọi thứ. Con không thể tách khỏi Thượng đế – chuyện này không thể xảy ra. Cũng giống như giọt nước trong đại dương tuyên bố là nó tách biệt khỏi đại dương. Tuy nhiên do quyền tự quyết, con có thể tạo ra một dáng vẻ, một ảo tưởng là con tách biệt. Làm sao con làm được vậy? Con làm được vậy vì con sống trong một vũ trụ, trong một bầu cõi mà như Maitreya giải thích chưa đạt đến cường độ ánh sáng tới hạn. Nếu vũ trụ của con đã đạt đến cường độ ánh sáng này thì ánh sáng đã mãnh liệt đến độ nó có thể chiếu xuyên qua mọi thứ. Và như vậy, mọi thứ sẽ trong suốt, không gì có thể cản được ánh sáng, và ảo tưởng tách biệt không thể tồn tại.

Nhưng vì cường độ ánh sáng trong vũ trụ vật chất vẫn còn thấp hơn mức tới hạn – ít ra nơi một số khu vực của vũ trụ này, chẳng hạn như thái dương hệ của con – thì người ta có thể dùng quyền năng đồng-sáng tạo của tâm mình để bước vào một rung động thấp hơn, một rung động nằm dưới tần số của tình thương, và sử dụng một trong những rung động thấp này, cho dù là sợ hãi, tức giận, hận thù, phán xét, chỉ trích hay bất cứ gì, để đồng-sáng tạo một cái gì đó. Và cái này như thể trở nên dày đặc đến độ ánh sáng không thể chiếu xuyên qua. Thực tế là nó trở nên dày đặc đến nỗi khi con nhìn qua tấm màn đó thì con không thể thấy ánh sáng.

Ánh sáng vẫn còn đó. Ánh sáng vẫn còn ở khắp mọi nơi trong vũ trụ vật chất. Nhưng khi con, cái ta ý thức, chui vào một môi trường được tạo thành từ các tần số thấp hơn một mức nào đó, thì cái ta ý thức không thể thấy ánh sáng. Bởi vì con đã dùng quyền tự quyết của mình để tạo ra một quả cầu – quả cầu này không có thực thể mà nó chỉ hiện hữu trong tâm con, cho nên nó hình thành một tấm màn mà con phải nhìn qua. Giống như con dán một tấm giấy màu lên cửa sổ, nó làm giảm cường độ ánh sáng có thể chiếu qua, và nó cũng nhuộm ánh sáng một màu sắc nhất định. Và nếu con cứ tiếp tục dán thêm giấy lên cửa sổ, đến một mức con sẽ hoàn toàn chặn hết ánh sáng.

Tuy nhiên con hãy lưu ý điều thày vừa nói. Con đồng-sáng tạo bằng cách điều hướng lực sống chảy xuyên qua con. Khi con phóng chiếu nó lên Ánh sáng Mẫu-Vật, con có quyền, theo Luật Tự quyết, áp chồng bất cứ hình ảnh nào, bất cứ tâm ảnh nào lên ánh sáng đó. Nếu con muốn liên kết với những gì thày đã nói trong bài giảng trước, con có thể nói là Ánh sáng Mẫu-Vật tượng trưng cho khía cạnh Mẹ của sáng tạo. Còn lực lan ra là khía cạnh Cha tuôn chảy xuyên qua tâm thức của con, hướng vào Ánh sáng Mẫu-Vật, nơi nó khiến cho Ánh sáng Mẫu-Vật khoác lấy hình ảnh mà con giữ trong tâm con khi ánh sáng chảy xuyên qua.

3.5. Con có quyền năng tạo ra một sinh thể

Nhưng bởi vì tất cả mọi thứ đều là tâm thức, cho nên điều con sáng tạo không chỉ là một hình dạng vô tri vô giác, không chỉ là một hình dạng chết. Cuối cùng nó sẽ bắt đầu khoác vào một đời sống, và nó càng thấm đẫm lực sống xuyên qua chú ý của con thì nó sẽ càng hấp thụ nhiều sự sống hơn, và bản năng sinh tồn của nó càng bắt đầu phát triển. Đó là tại sao con có một tự ngã, tự ngã này có một bản năng sinh tồn, và trong tư cách đó nó sẽ tìm cách kiểm soát cái Ta Biết của con. Và cũng vậy, có thể có những tà thể đại chúng có đủ bản năng sinh tồn để tìm cách kiểm soát quần chúng, lôi kéo mọi người vào một chứng nghiện như hút thuốc chẳng hạn, sai khiến ánh sáng của họ để tà thể có dịp hút lấy và sử dụng ánh sáng hầu sống còn, thậm chí còn gia tăng cường độ.

Kề từ khi các sinh thể đầu tiên ở một bầu cõi trước rơi xuống nhị nguyên – do họ không chịu tự thăng vượt – họ đã dùng khả năng đồng-sáng tạo của họ để đồng-sáng tạo xuyên qua ảo tưởng, hay phin lọc, hay maya, của tâm thức nhị nguyên. Nhưng điều họ đã tạo ra là những tà thể, những sinh thể không có tự nhận biết như con – vì con là một phần nối dài của Đấng Sáng tạo – nhưng chúng có đủ nhận biết là chúng hiện hữu và chúng sẽ cần gì đó để tiếp tục hiện hữu. Chúng giống như một dạng động vật, tuy không có một khả năng tự nhận biết tinh xảo như con thấy nơi loài người, nhưng ít ra có một khả năng tự nhận biết thô sơ khiến chúng tìm cách kiểm soát bất cứ ai có thể bị tần số đặc thù của chúng kiểm soát. Tất cả các tà thể được tạo ra như vậy được Giê-su gộp chung lại trong từ “ông hoàng của thế gian.”

Và nếu chúng có thể nắm được gì trong con, chúng sẽ lôi kéo cái đó để ép buộc con đặt chú ý vào một số khuôn nếp, một số hình ảnh, hầu khiến con tha hóa ánh sáng và tiếp tục cung cấp lực sống cho chúng nắm giữ con. Nói chung, chúng sẽ vắt sữa con như thể con là một con bò sẵn sàng bị vắt sữa hai lần một ngày mỗi khi con bước vào một trạng thái tâm thức nhất định. Đây là sự thể con chứng kiến, không chỉ với các chứng nghiện vật lý, mà với quá nhiều người trở nên tức giận, hay sợ hãi, hay phán xét, hay chỉ trích – luôn luôn phê bình, phán đoán, phân tích mọi người và mọi chuyện, không những bằng tâm phân tích mà cả sự phán xét giá trị của tự ngã được áp đặt lên đó. Và điều này khiến cho ánh sáng bị tha hóa, và ánh sáng chuốc lấy một tần số thấp hơn dựa trên sự phán xét giá trị nhị nguyên xem mọi sự có tốt có xấu. Nhưng trong sự trong suốt thì khác, trong sự thuần khiết của trong suốt, mọi sự đều là sự biểu đạt của cái Một, cho nên không gì có thể tốt tương đối với xấu. Nó chỉ đơn giản LÀ.

3.6. Khai ngộ của tia thứ mười

Khi con đến tia thứ mười và khai ngộ của tia thứ mười, con cần nhận biết điều này. Đây là một chủ đề mà nhiều người, ngay cả nhiều người tâm linh, thà không muốn biết đến, không muốn nghĩ đến, không muốn nói đến. Bởi vì thật không yên lòng chút nào khi phải nhìn nhận là có lẽ mình đã dùng khả năng đồng-sáng tạo của mình để tạo ra một cái gì đã khoác lấy một đời sống riêng biệt mà giờ đây lại mưu toan kiểm soát mình cũng như kiểm soát người khác. Và rất có thể mỉnh cũng bị kiểm soát bởi một tà thể đại chúng mà loài người đã tạo ra suốt hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu năm trời, và tà thể đại chúng này đã trở nên dũng mãnh đến độ một cá nhân sẽ khó lòng nào cưỡng nổi lực kéo của nó.

Và đó chính là lý do tại sao khi con đi qua các khai ngộ của bảy tia sáng, con cần gây dựng một động lượng giúp con vượt ra khỏi lực kéo hướng hạ của tâm thức đại chúng. Nhưng đây cũng là tại sao con cần quay trở lại, như Mẹ Mary đã giải thích, để giải cứu bất kỳ khía cạnh nào của bản thể con còn kẹt lại trong trạng thái thấp này. Nhưng trong hầu hết trường hợp, con không thể giải cứu hoàn toàn cho đến khi con vượt quá bảy tia, bước vào tia thứ tám, bước vào tia thứ chín để đạt được sự quân bình đó, bởi vì quân bình chính là nền tảng. Khi con biết có sự quân bình vượt khỏi đấu tranh thì con có nền tảng để nhìn đấu tranh kỹ hơn, và đó là lúc con có thể ngộ ra là cuộc đấu tranh không giống những gì nó có vẻ từ một nhận thức phiếm diện.

Kỳ thực đó là một cuộc giao chiến giữa những uy quyền và thế lực mà giác quan lẫn tâm vỏ ngoài không thể nhìn thấy, một cuộc giao chiến giữa tất cả những tà thể đã được tạo ra như nói ở trên. Chính do chúng được tạo ra từ tâm thức nhị nguyên mà chúng phải “khóa sừng” với nhau trong cuộc giao chiến. Ánh sáng thuần khiết của Thượng đế vẫn trong suốt, vẫn rung động ở tần số của tình thương, vẫn vô hạn, nhưng khi ánh sáng chuốc lấy một rung động thấp hơn tình thương thì nó trở nên hữu hạn, nó bị giới hạn. Vì thế mà hiện nay, mặc dù sáu tỷ người trên hành tinh không ngừng tha hóa ánh sáng, nhưng vẫn chỉ có một lượng hữu hạn mà thôi. Có nghĩa là tất cả các tà thể kia cư ngụ trong trường lực, trong trường năng lượng của trái đất, bắt buộc phải chiến đấu giành giựt nhau. Giống như con thấy trên vùng thảo nguyên châu Phi, khi có một con vật bị chết thì lập tức bọn linh cẩu và kền kền sẽ táp tới tranh xé xác chết. Bởi vì chúng biết cái xác này chỉ tồn tại ngắn ngủi, và nếu chúng không nhanh chân thì những con khác sẽ giành mất. Và đây là nguyên nhân thực sự của đấu tranh.

3.9. Tại sao người ta tranh đấu

Có thể con nhìn người ta và tự hỏi: “Tại sao họ lại tranh đấu như thế nhỉ?” Và con có thể nhìn vào điều mà rất nhiều người thiện ý đã làm, đó là cố tìm ra một nguyên nhân tâm lý khi xem xét từng cá nhân, xem xét từng nhóm người, xem xét các tin tưởng của con người. Chẳng hạn con sẽ thấy hàng loạt người đi đến kết luận rằng nguyên nhân thật sự của mọi cuộc chiến là tôn giáo, là các tín ngưỡng tôn giáo. Và họ nghĩ, nếu như mình có thể loại bỏ tôn giáo và khiến cho mọi người chối bỏ niềm tin vào tôn giáo thì mình sẽ có hòa bình. Nhưng họ đã không nhận ra là không phải tôn giáo là nguyên nhân của chiến tranh, mà tôn giáo chỉ được sử dụng như một công cụ để kích động quần chúng khiến họ tha hóa ánh sáng của họ. Kỳ thực, nguyên nhân của tranh đấu và chiến tranh là sự kiện có những tà thể vượt khỏi cõi vật lý phải cần đến sự tha hóa không ngừng của ánh sáng để mà sống sót. Và nếu mọi người không tha hóa ánh sáng thì, đúng vậy, chúng sẽ tàn lụi.

Đó là tại sao chúng phải tiếp tục giữ chặt mọi người trong vòng kềm tỏa của chúng, để ai nấy cứ mãi đánh nhau trong một cuộc chiến điên rồ như con thấy ở vùng Trung Đông hay nhiều nơi khác. Chắc chắn con không thể bảo đó là ý muốn của Thượng đế đích thực, mà chỉ là ý muốn của một hình khắc về Thượng đế được phóng chiếu lên Thượng đế xuyên qua tâm thức nhị nguyên. Một lần nữa, có vô số tà thể như vậy được sinh tạo từ một hình ảnh nào đó về Thượng đế, một hình ảnh khởi lên từ nhị nguyên. Và nguy hại nhất trong số đó chính là những tà thể dính liền với một hình khắc về Thượng đế, bởi vì đó là các tà thể mà con người khó lòng từ bỏ nhất.

Con có thể lấy một tà thể, như tà thể thuốc lá chẳng hạn, và thấy hiển nhiên là nó rất nguy hiểm cho những người nghiện hút thuốc. Nhưng trong thế giới hiện đại, càng ngày người ta càng dễ thấy sự nguy hại của việc hút thuốc, và đây là lý do càng ngày càng có nhiều người bỏ được thói ghiền này sau khi nhận ra là nó hủy hoại cơ thể mình, thậm chí còn đem lại nhiều hậu quả tâm linh tiêu cực. Thế nhưng con hãy nhìn xem có bao nhiêu người vẫn còn mắc kẹt trong niềm tin là phải có một tôn giáo cao trội vả tôn giáo này do chính Thượng đế ban xuống? Nó là trát lệnh của Thượng đế, nó phải ngự trị khắp thế giới, bởi vì đó là cách duy nhất để cứu độ con người. Tất cả những kẻ thiếu đức tin kia sẽ không được cứu rỗi mà còn bị kết án sống đời đời dưới địa ngục.

Con hãy suy ngẫm xem người ta khó từ bỏ niềm tin này, ảo tưởng này, đến chừng nào để mà có thể ngừng cung cấp ánh sáng cho tà thể đại chúng đó – cho dù là tà thể đại chúng của đạo Cơ đốc, tà thể đại chúng của đạo Hồi, thậm chí cả tà thể đại chúng của đạo Phật. Bởi vì mỗi tôn giáo, mỗi hệ thống tín ngưỡng, đã tạo ra một tà thể đại chúng như vậy giao tranh với tà thể đại chúng của các tôn giáo khác – thậm chí còn nuôi béo cái tà thể lớn hơn là tà thể ăn bám vào chính việc tranh đấu, cho nên nó sẽ làm bất cứ gì để gây ra tranh đấu. Chắc chắn nền khoa học duy vật cũng đã tạo ra một tà thể đại chúng như vậy, cố tăng cường sức mạnh để chiếm đoạt, thậm chí cướp đoạt, ánh sáng của tà thể tôn giáo bằng cách khiến cho mọi người nghi ngờ tôn giáo và từ bỏ niềm tin tôn giáo của mình.

Cho nên có những nhà khoa học tin rằng họ làm việc cho một đại nghĩa cao cả thật ra chỉ đang phục vụ cho cùng một mục tiêu mà họ thấy người sùng đạo phục vụ. Họ thấy sự sai lầm của những người sùng đạo cứ nuôi ánh sáng cho con quái vật kia, nhưng họ không thấy là chính họ cũng đang làm cùng chuyện này – họ chỉ đang nuôi một con quái vật khác mà thôi. Và cũng vậy, họ tin chắc vào tính ưu việt của thế giới quan của họ cũng như ý đồ áp đặt, cưỡng bách thế giới quan này lên người khác. Chuyện này không thể đến từ Thượng đế.

3.10. Làm thế nào tạo sự kết hợp giữa con người

Tại sao chuyện này không thể đến từ Thượng đế? Tại sao không thể nói được là Thượng đế duy nhất đã tạo ra tôn giáo chân chính duy nhất và muốn mọi người gia nhập tôn giáo này? À, bởi vì Thượng đế đích thực, Thượng đế Hằng sống, đã ban quyền tự quyết toàn diện cho tất cả các phần nối dài của ngài. Và vì vậy, Thượng đế đích thực không muốn mọi người kết hợp do bị buộc phải tuân theo một hệ thống tin tưởng vỏ ngoài. Chỉ có một cách để tạo sự kết hợp và hợp nhất đích thực giữa con người là gia tăng sự trong suốt, hầu càng ngày càng có nhiều người bắt đầu nhận ra là mình đến từ một nguồn cao hơn. Và khi con thấy con đến từ một nguồn cao hơn thì con cũng thấy mọi người khác phải đến từ cùng nguồn cội đó, và như vậy, đây chính là sự kết hợp đích thực dựa trên trong suốt.

Khi tâm thức được nâng cao, ánh sáng sẽ chiếu xuyên qua tấm màn của tâm thức con người. Và khi càng ngày càng có nhiều ánh sáng chiếu qua thì chính ánh sáng là yếu tố kết hợp. Không phải một tôn giáo, không phải một ý thức hệ chính trị, không phải một thế giới quan khoa học – hay đúng hơn, một hệ tín ngưỡng khoa học – mà ánh sáng là yếu tố kết hợp duy nhất. Ánh sáng phơi bày bản chất của bóng tối: không thực, tạm thời, vô thường.

Bởi vì khi con thấy ánh sáng, con sẽ thấy chỉ có ánh sáng mới thực, và chỉ có cái thực mới có thể thường hằng. Trong khi đó mọi thứ khác bắt buộc phải phù du, một hình ảnh thoáng qua được phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật. Hình ảnh này chỉ được duy trì cho đến khi còn có những sinh thể tự nhận biết nuôi giữ nó qua sự chú ý của họ, qua sự đồng hóa với nó, xem nó là một phần của bản sắc họ, thay vì nhìn thấy thực tại trong suốt rằng họ là nhiều hơn bất cứ gì trên trái đất – bởi vì họ là những sinh thể tâm linh – và họ có khả năng lập tức rút khỏi các khuôn nếp không thực này. Họ có khả năng lập tức vươn lên cao hơn khuôn nếp, bước xa khỏi chúng và từ chối nuôi dưỡng chúng qua ánh sáng của họ.

3.11. Lời dối bảo rằng con không thể thăng vượt

Con có thấy làm cách nào ông hoàng của thế gian đã cố tạo niềm tin rằng một khi con đã tạo ra tà thể đó thì con không thể đơn giản bước xa khỏi nó? Nhưng con có thể, con yêu dấu. Làm gì có cách nào khác để ngừng nuôi ánh sáng cho nó đâu? Con hãy xem lại bài giảng trước của thày về hành động. Con làm một hành động mất cân bằng, làm sao con gỡ bỏ nó đây? Con không thể gỡ bỏ nó bằng một hành động mất cân bằng khác. Con có thể có một hành động dựa trên một đối cực nhị nguyên, nhưng con không thể gỡ bỏ nó bằng một hành động dựa trên đối cực nhị nguyên ngược lại. Con chỉ gỡ nó được bằng cách vươn lên cao hơn nhị nguyên để con không còn nuôi dưỡng nó qua sự chú ý của con. Con không nuôi tà thể nhị nguyên này và cũng không nuôi tà thể nhị nguyên kia. Con chỉ đơn giản thăng vượt nó. Xong con để yên cho định luật thứ nhì của nhiệt động học, hay thịnh nộ của Kali, hay điệu múa của Shiva, tiêu hủy nó đi.

Đấng Sáng tạo của con không ngu đâu. Đây là một trong những cạm bẫy lớn nhất của tâm thức nhị nguyên. Nó tạo ra một thế giới quan, nó tin thế giới quan này là hoàn toàn hợp lý, xong nó tin là nó khôn hơn Thượng đế, vì ngay cả Thượng đế cũng không thể đoán trước được thế giới quan tinh xảo này. Nhưng Thượng đế đã thấy trước một cách chính xác những gì sẽ xảy ra khi ngài ban quyền tự quyết cho các sinh thể tự nhận biết, rằng một số sẽ bước vào tâm thức nhị nguyên và bị kẹt lại ở đó. Cho nên ngài đã thiết lập một hệ thống toàn hảo để đảm bảo một sinh thể khó lòng nào bị kẹt quá lâu trong nhị nguyên để mà rốt cuộc phải đối mặt với cái chết thứ hai. Vì vậy ngài ban cho con người tối đa cơ hội để bất cứ ai muốn thăng vượt cũng có thể quay trở lại với thực tại hợp nhất. Và quả thật, đó là tại sao hệ thống này được thiết kế, để khi con bước vào một trạng thái mất cân bằng thì con sẽ tạo ngay sự giao tranh. Con sẽ sáng tạo từ một cõi nơi giao tranh không thể nào tránh được, và vì vậy tạo vật của con sẽ bị hư hại, sẽ bị đe dọa, sẽ bị người ta chống đối, và con không bao giờ có thể có được thường hằng trong tạo vật đó.

3.12. Con không thể bước vào cùng dòng sông hai lần

Nhưng bây giờ chúng ta hãy tiến thêm một bước và xét xem tại sao con lại muốn thường hằng? Vì như các thày có nói, tự ngã được tạo ra vì cái ta ý thức nhận thấy tự ngã có thể cho nó một số lợi điểm. Con thử ngẫm câu này: “Bạn không thể bước vào cùng một dòng sông hai lần.” Bởi vì thế nào là một dòng sông? Đó là một dòng nước không bao giờ ngừng chuyển động. Và khi con bước vào sông, con cũng đang bước vào một số phân từ nước. Nếu con bước ra khỏi sông xong bước vào lại, có những phân tử khác đã chiếm chỗ của những phân tử trước, và vì thế về mặt kỹ thuật cũng như trên thực tế, con không đang bước vào cùng một dòng sông.

Dòng sông sự Sống cũng như vậy đó, con yêu dấu. Dòng sông sự Sống luôn luôn chuyển động. Nó được thiết kế để những ai sẵn lòng nhập vào dòng tiến lên đó cũng không ngừng trở nên HƠN NỮA thay vì đứng yên hay trở nên kém hơn. Tại sao như vậy? Là vì tất nhiên, mục đích của một sinh thể tự nhận biết là khởi đầu với một khả năng tự nhận biết giới hạn, cục bộ, rồi khuếch trương cho tới mức Đấng Sáng tạo. Chúng ta có thể nói qua một hình ảnh mà con quen thuộc, rằng Thượng đế nghĩ con có thể bị nhàm chán nếu con cứ là cùng một người trong một thời gian quá dài, cho nên ngài đã cho con chọn lựa trôi theo Dòng sông sự Sống nơi tất cả đều luôn luôn mới.

Mặc dù Thượng đế đã cho con quyền được tạo ra bất kỳ trải nghiệm nào con muốn, khi con ở trong Dòng sông sự Sống thì mỗi trải nghiệm đều mới. Có tăng trưởng, có thăng vượt. Và do đó có thể có người không thể hoàn toàn chấp nhận hay thích ứng với dòng chảy không ngừng này, dòng thăng vượt không ngừng này. Họ muốn sở hữu gì đó, họ muốn chiếm hữu một trải nghiệm và giữ nó lại một thời gian thay vì thăng vượt nó. Nơi duy nhất mà con có thể sỡ hữu cái gì là trong cõi – trong bầu cõi, trong ảo tưởng – của tách biệt, nơi mọi thứ có thể được nhận thức là đứng yên một chỗ. Nhưng tất nhiên, sự thật là không gì có thể đứng yên, dù trong cõi hợp nhất hay trong cõi tách biệt. Trong cõi hợp nhất thì có động lực liên tục muốn trở nên HƠN NỮA, muốn thăng vượt, và trong cõi tách biệt thì có lực co lại của Mẹ – định luật thứ nhì của nhiệt động học, uy lực của Shiva – sẽ làm tan rã mọi vật.

Con có thể hoặc thăng vượt, tức là sống, hoặc cố đứng yên, tức là chết. Không có chọn lựa nào khác. “Hôm nay con hãy chọn phục vụ cho ai.” Con hãy chọn sự sống! Bởi vì trừ khi con chọn sự sống thì con sẽ chọn sự chết. Và con sẽ bị mất mát, con sẽ là ít hơn, cho đến khi cuối cùng con sẽ quên mất mình là ai và con tin con là một sinh thế kém cỏi hơn, dù là một người có tội hay một con vượn thông minh.

3.13. Cái con nghĩ con sở hữu sẽ sở hữu con

Mong muốn sở hữu có thể rất vi tế. Đó là điều thày đã gọi là dính mắc khi thày còn bước chân trên mặt đất. Đó là mong muốn sở hữu cái gì đó, kéo nó ra khỏi sự tự thăng vượt liên tục của Dòng sông sự Sống. Và con có thể tạo ra ảo tưởng là con đang sở hữu nó, nhưng cái con sở hữu chính là một tà thể được tạo ra qua sức mạnh chú ý của con. Và tà thể này bây giờ muốn sống còn. Làm thế nào nó có thể sống còn? Chỉ bằng cách con tiếp tục cung cấp ánh sáng của con cho nó, và điều này có nghĩa là nó muốn sở hữu con. Và chừng nào con còn tin là nó thực, chừng nào con cho phép nó ở trong quả cầu bản sắc của con, thì đúng là nó sở hữu con. Cái gì con tạo ra trong tách biệt sẽ sở hữu con. Con có thể nghĩ là con sở hữu nó nhưng sự thật thì ngược lại.

Đâu là khởi đầu của con đường tâm linh? Là khi một người đạt tới điểm – dù là có ý thức hay không – nhưng người đó đạt tới điểm quyết định: “Tôi không thể làm tiếp thế này được nữa. Phải có một cách nào hay hơn. Cuôc sống phải là hơn thế này.” Y sẽ nói, trên cơ bản: “Tôi không muốn bị sở hữu bởi chính tạo vật lầm lạc của tôi nữa. Tôi muốn tự do. Tôi muốn là hơn thế này.” Và như vậy y cất bước leo núi, lần lần rũ bỏ các lớp da rắn của bản sắc kém cỏi này, cho đến khi y có thể đứng thẳng tự do và nhận diện: “TA LÀ một sinh thể tâm linh. Ta là một sinh thể đồng-sáng tạo cùng với Thượng đế của ta.”

3.14. Tà thể và bệnh tật

Thày đã có giải thích cho con là mọi bệnh tật của cơ thể vật lý có thể được truy ngược về một trong những dạng tha hóa của bảy tia sáng. Con tạo ra điều gì thông qua các dạng tha hóa này mỗi khi con lấy một trong bảy tia sáng, trộn nó thành một đối cực nhị nguyên xong đồng-sáng tạo xuyên qua phin lọc này? À, con tạo ra một tà thể, một tà thể tách biệt sẽ bắt đầu sỡ hữu con.

Cho nên con sẽ thấy là cho mỗi chứng bệnh mà loài người biết đến, có một tà thể đặc thù đang hút đi ánh sáng, hút đi nguồn sống ra khỏi con người thông qua những đau đớn, khó chịu và tật nguyền của thể xác. Chú ý của con bị ép buộc phải tập trung vào cơ thể vật lý, thậm chí trong nhiều trường hợp, nó khiến con tin là do các hạn chế này của cơ thể mà con cũng bị hạn chế trong những gì con có thể thực hiện trong đời hay cách con sống cuộc đời của con. Trong nhiều trường hợp, nhiều người tin rằng mình không thể có được hạnh phúc hay an bình thật sự khi cơ thể của mình không ở trong một trạng thái toàn hảo nào đó.

Nhưng con nghĩ xem, có bao giờ cơ thể vật lý của con ở trong trạng thái toàn hảo hay không? Bởi vì khi con lớn lên, con muốn cơ thể mình mau mau trưởng thành để mình có thể làm tất cả những việc người lớn có thể làm. Nhưng đến khi chính con trở thành người lớn, lập tức con bắt đầu lo mình thêm tuổi, và cơ thể không còn xinh đẹp, dẻo dai hay mạnh mẽ như trước nữa. Nếu vậy thì có lúc nào cơ thể ở trong trạng thái toàn hảo hay không? Nếu hạnh phúc và sự an bình nội tâm của con tùy thuộc vào bất cứ gì trong cơ thể, thì xác suất sẽ rất cao là con không thể nào đạt được an bình đó. Cho nên con, như một người tâm linh, con đã đến đây để chứng tỏ rằng một người có khả năng vượt lên trên các giới hạn của thân xác, ngay cả bệnh tật của thân xác, mà vẫn tìm được sự an lạc, tâm an bình cùng với hạnh phúc.

Đối với một số các con, Sứ vụ Thiêng liêng của con không trù liệu con phải khắc phục một hạn chế hay một chứng bệnh đặc thù, mà Sứ vụ Thiêng liêng trù liệu con biểu hiện tâm an bình của con bất chấp hạn chế đó. Con có thể đạt tới điểm, một khi con đã chứng tỏ đầy đủ điều này thì con có thể chọn vứt bỏ nó đi và vươn lên cao hơn. Nhưng con cần biết là một số các con khi chiến đấu với bệnh tật, kỳ thực con đang chiến đấu với chính mình, chiến đấu chống lại Sứ vụ Thiêng liêng của mình đang muốn biểu hiện tâm an bình bất chấp điều kiện vật lý. Và điều kiện vật lý này có thể không chỉ là bệnh tật.

3.15. Hiểu sự trọn vẹn là gì

Do đó thày nói với con: “Hãy tìm kiếm trước hết vương quốc Thượng đế và sự công chính của ngài, thì tất cả những thứ kia sẽ được bồi thêm cho con.” Con hãy tìm kiếm trước nhất sự trong suốt, qua đó con nhìn vượt khỏi các điều kiện vật lý của con. Con nhìn vượt khỏi thành phần đó của con người con – tâm phàm muốn thoát khỏi cơn đau, hay sự khó chịu, hay những khó khăn – xong con nói: “Mục đích chủ yếu của tôi là sự trọn vẹn. Trọn vẹn là một điều kiện bên trong. Đó là một trạng thái tâm. Luôn luôn sẽ có một điều kiện vật chất nào đó sẽ chống lại sự trọn vẹn của tôi trong hiện thân này. Cho dù đó là một chứng bệnh thể xác hay những giới hạn vật lý, hay đó là người khác, luôn luôn sẽ có những điều kiện chống lại sự trọn vẹn, cho nên cách duy nhất để đạt trọn vẹn là tôi đạt trọn vẹn bất chấp mọi điều kiện vật lý.”

Bởi vì thật sự, sự trọn vẹn tâm linh không liên quan gì đến các điều kiện vật lý. Đó là một điều kiện tâm linh vượt trên mọi hoàn cảnh vật chất. Cho nên khi con đến tia thứ mười, con sẽ thấy – khi con neo trụ vào Hiện diện Trong suốt – là có gì đó vượt khỏi điều kiện vật lý. Và như vậy điều kiện vật lý không thể sở hữu con được nữa, nó không thể sở hữu Tánh linh của con, cái ta ý thức của con.

Con không còn đồng hóa với nó nữa, và như vậy con thấy con là HƠN NỮA nhiều quá đỗi. Và bằng cách đem cái HƠN NỮA này vào nhận biết ý thức của mình, con tự đồng hóa với cái HƠN NỮA bất chấp các điều kiện vỏ ngoài, vì con thấy thực tế là con luôn luôn sẽ bị hạn chế bởi cơ thể vật lý. Đây không phải là chuyện tìm kiếm một điều kiện toàn hảo nào đó để Tánh linh có thể biểu đạt qua cơ thể và mọi chuyện sẽ tuyệt hảo. Mà thực tế là mọi chuyện sẽ không bao giờ toàn hảo bởi vì sự toàn hảo không hề có.

Toàn bộ mục đích là sự biểu đạt bản thể tâm linh của con cho dù điều kiện bên ngoài có là gì. Đó là quả vị Ki-tô, đó là quả vị Phật, đó là tâm linh đích thực. Đó là khi con nhìn vượt trên hoàn cảnh bên ngoài và hoàn cảnh trở nên trong suốt đối với con, cho nên con nhìn thấy thực tại ẩn tàng bên dưới về con người mà con là, thực tại ẩn tàng của sự hợp nhất với nguồn cội của con, hợp nhất với mọi sự sống. Và đó là khi bằng cách tìm thấy an bình này, con chứng tỏ cho người khác làm thế nào họ cũng có thể tìm thấy an bình đó và nhờ vậy nâng cao toàn bộ Thân thể của Thượng đế. Thế là con trở thành cánh cửa mở.  

3.16. Trở thành một sứ giả

Là cánh cửa mở có nghĩa là gì nếu không phải là trở nên trong suốt? Làm thế nào một người có thể phụng sự như một sứ giả? Con cần nỗ lực đạt đức tính gì để trở thành một sứ giả? À, để thày nói cho con. Cho đến khi con đạt được một mức độ điều ngự nào đó trên tia thứ mười của trong suốt, thì con không thể trở thành một sứ giả.

Bởi vì con sẽ làm gì nếu con không trong suốt? À, con có thể cho phép một luồng tâm thức và ánh sáng đi xuyên qua tâm vỏ ngoài của con, nhưng con sẽ áp đặt hình ảnh lên đó, là những hình ảnh con cầm giữ trong tâm con. Và như vậy, những gì đi xuyên qua con và biểu hiện ra thành từ ngữ sẽ không còn thuần khiết. Và thật vậy, nó có thể bị nhuộm màu đến mức nó che khuất thông điệp nguyên thủy.

Giê-su đã giải thích làm thế nào một số người có khả năng nhận được Thánh linh thuần khiết xối xuống, tuy nhiên lại nhuộm màu trải nghiệm này bằng những hình ảnh có mặt trong tâm vỏ ngoài, đến mức nó không còn đủ trong suốt để có thể giúp người khác tìm ngược lại nguồn gốc của ánh sáng. Trải nghiệm đã không mở lối mà còn trở thành mục tiêu, qua đó sứ giả đặt mình vào một địa vị có tín đồ đi theo, mong muốn tín đồ phải ở lại với mình và họ phải tùy thuộc vào mình để nhận được ánh sáng, thay vì nếu họ thấy một nét tâm linh nơi một người thì họ phải có thể dùng cái đó như là bàn đạp hầu ngộ ra thực tại tâm linh trong chính họ. Như thày có nói trong bài giảng mở đầu, việc tôn thờ đức Phật là sự mỉa mai cùng cực, vì mục đích của Phật đến đây là để giúp mọi người ngộ được Phật trong chính họ.

Trừ khi con đạt được sự trong suốt này – không cần hoàn toàn trong suốt mà chỉ cần đủ trong suốt để nhận ra là con không giữ độc quyền ánh sáng, con không giữ độc quyền các chân sư thăng thiên, mà con chỉ đơn giản là một cánh cửa mở để giúp người khác giải thoát – cho đến khi con nhìn nhận điều này thì con không thể là một sứ giả chân chính, con không thể đưa ra thông điệp giải thoát, con không thể trao tặng món quà sự sống sẽ đánh thức con người vào thực tại của sự sống bên trong họ. Họ sẽ tìm thực tại này nơi một con người vỏ ngoài hay một vị thần vỏ ngoài sau khi đã tạo ra thần tượng. Và một lần nữa, thần tượng làm gì chứ? Thần tượng che mờ sự trong suốt rằng ánh sáng ở trong tất cả và do đó cũng ở ngay trong họ. Thần tượng khiến họ tưởng ánh sáng chỉ có trong thần tượng, và họ chỉ có thể nhận được ánh sáng xuyên qua thần tượng. Nếu vậy thì đây là một sứ giả giả hiệu, vì y không phục vụ để giải phóng con người mà để giam chặt con người trong một hộp tư duy nào đó.

Cho nên con sẽ thấy – nếu con nhìn trung thực nhiều tổ chức tâm linh và tôn giáo – con sẽ thấy từ một tầm nhìn cao hơn là có nhiều người đã là sứ giả giả hiệu. Điều này không có nghĩa là họ không làm được gì ích lợi – và thày không muốn con áp đặt một sự phán xét đường thẳng ở đây – nhưng từ một tầm nhìn cao hơn và một hiểu biết về trong suốt, con thấy là nếu con áp chồng một hình ảnh như vậy lên việc rải truyền ánh sáng từ các chân sư thăng thiên, thì hình ảnh này sẽ che khuất thực tế của ánh sáng trong mỗi người. Và nếu vậy thì con không đang giúp người đó tăng triển quá một mức nào đó.

Một người có thể là một sứ giả chân chính cho bảy tia đầu nhưng không có sự nhận biết cùng tâm thức để phụng sự như một sứ giả cho các tia bí mật, vì người đó đã không sẵn lòng đạt đủ trong suốt trong tâm thức của mình – biết rằng mình không cần ai theo, mình không tùy thuộc vào việc người ta theo mình. Khi con là cánh cửa mở, con tìm kiếm trước hết vương quốc của Thượng đế, thế rồi ngài – chứ không phải những người theo con – sẽ cho con tất cả những thứ kia mà con cần. Con không tùy thuộc vào người theo con khi con thấy sự trong suốt rằng Thượng đế là nguồn cội duy nhất. Con sẽ không nghĩ là con cần bất cứ gì từ thế gian, con sẽ không nghĩ là con cần sở hữu người khác hay giữ họ gần bên con. Con sẽ cho miễn phí những gì con nhận được miễn phí, và con để yên cho mọi người làm bất cứ gì họ muốn với món quà của con.

Và nếu đến một thời điểm con không còn đủ thành viên hỗ trợ con nữa, à, khi đó con sẽ làm những gì cần thiết. Nhưng con sẽ không tìm cách thao túng người khác để con ở lại nơi con cảm thấy thoải mái – trong địa vị một sứ giả, một linh mục, một giáo hoàng hay bất cứ khuôn mặt thẩm quyền nào mà con đang giữ. Giống như các tu sĩ trong đền thờ mà Giê-su đã thách đố bao nhiêu lần bởi vì họ quá thoải mái, hay giống như các nhà Ba la môn mà chính thày đã thách đố khi thày còn bước chân trên địa cầu bởi vì họ quá thoải mái, cứ tin rằng họ là người làm trung gian giữa Thượng đế với quần chúng. Nhưng không hề có trung gian nếu người trung gian lại mang một cảm nhận sở hữu. Chỉ có trung gian đích thực khi sinh thể này trong suốt – biết rằng mình không sở hữu gì hết, bởi vì con không thể sở hữu Thượng đế, con không thể sở hữu Dòng sông sự Sống, mà con chỉ có thể xuôi chảy với nó bằng cách không ngừng thăng vượt chính con.

Nếu con không ngừng tự thăng vượt thì làm sao con có thể sở hữu bất cứ gì? Không thể nào sở hữu được, vì con không cần sở hữu khi con liên tục thăng vượt và trở nên HƠN NỮA. Tại sao con lại muốn sở hữu một cái gì khi con có thể tự thăng vượt và trở nên nhiều hơn cái đó? Thật chẳng hợp lý chút nào, ngoại trừ đối với tự ngã thì chuyện này hoàn toàn hữu lý vì nó không thể xuôi theo Dòng sông sự Sống, Nó không thể tồn tại khi con xuôi theo Dòng sông sự Sống, và vì vậy nó phải khiến con bám chặt vào một gì đó mà con không chịu buông ra, một ảo tưởng nào đó, một tin tưởng nào đó, một ý niệm cái ta nào đó.

Con nghĩ là nếu con buông nó ra thì sẽ không còn gì sót lại trong bản sắc của mình, bởi vì con chưa trải nghiệm bản sắc đích thực của con là một bản sắc trong suốt nơi ánh sáng không ngừng chiếu xuyên qua. Không thể nào có một bản sắc đích thực mà lại che mờ ánh sáng. Cho nên con hãy suy ngẫm bí ẩn này – một bí ẩn cho tâm đường thẳng – rằng bản sắc thực của con vẫn là một cá thể, nhưng nó trong suốt, trong suốt cho ánh sáng, một ánh sáng có thể được truy ngược về nguồn cội là Đấng Sáng tạo của con. Và khi con trải nghiệm sự trong suốt toàn diện này đến từ sự hàng phục toàn diện, thì con sẽ an bình. Con sẽ an lạc. Con sẽ là một sứ giả đích thực, một cánh cửa mở đích thực cho ánh sáng. Bởi vì nếu một cánh cửa mở không trong suốt thì nó không mở, có phải vậy không con yêu dấu?

2 | Tia thứ chín của quân bình

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 9 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Thày là Gautama. Thày đến đàm đạo với con về tia sáng thứ chín. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xem lại các lời dạy về tia thứ tám – là tia hòa nhập những gì con đã đạt được khi vượt qua khai ngộ của bảy tia đầu.

Như thày có nói, con đã đến điểm cần bước lui lại và nhìn bức tranh rộng lớn. Điều này chính xác có nghĩa là gì về mặt chữa lành cá nhân? Có nghĩa, con yêu dấu, là con nhìn vượt quá chính cơ thể vật lý của con. Con thấy chữa lành là nhiều hơn sự chữa lành cơ thể vật lý. Chữa lành có nghĩa thực sự là sự trọn vẹn, đạt đến trọn vẹn. Và điều này có nghĩa, con yêu dấu, là một khi con đã đi qua khai ngộ của bảy tia đầu, con cần xoay chuyển sự tập trung để mục đích trên hết và trước hết của con – thật ra mục đích duy nhất từ điểm này trở đi – trở thành việc đạt đến sự trọn vẹn của toàn bộ bản thể con.

Như thày đã nói trong bài giảng trước, có những người đã đi qua các khai ngộ mà không chữa lành được một chứng bệnh vật lý nhất định hay không khắc phục được một hoàn cảnh nhất định nào đó. Cho nên bước kế tiếp là cần nhìn xem phải có điều gì chưa trọn vẹn trong các thể cao – không chỉ cảm thể, trí thể, bản sắc thể, mà ngay cả cách nhận thức của con về thế nào là một người đồng-sáng tạo với Thượng đế. Và điều này không chỉ giản dị là thể bản sắc vỏ ngoài, mà là cốt lõi của thể bản sắc, các tầng cao của thể ê-the của con.

Do đó con cần tìm kiếm sự trọn vẹn này, con yêu dấu. Và đây là điều con tìm thấy khi con từ bỏ con đường vỏ ngoài và tìm cầu sự tiếp cận nội tâm. Bởi vì tại sao con lại nghĩ con đường vỏ ngoài có thể thích hợp với các tia bí mật được chứ? Như thày đã giải thích, các tia bí mật không những vượt khỏi tâm nhị nguyên mà còn vượt cả tâm đường thẳng vốn chỉ muốn phân tích và phân loại mọi chuyện.

Cho nên, con yêu dấu, con không thể hiểu được các tia bí mật, con không thể hiểu được bằng trí năng. Tất nhiên con có thể tạo ra một khái niệm trí thức, một hình tượng khắc mà con phóng chiếu lên khái niệm tia bí mật và một tia sáng nào đó. Nhưng con không thể thực sự hiểu được các tia bí mật qua tâm trí thức đường thẳng. Có nghĩa, một lần nữa, là các thày đã nhận một rủi ro có cân nhắc khi trao truyền bất cứ lời dạy nào về tia bí mật qua lời nói. Bởi vì luôn luôn sẽ có những người nhìn qua phin lọc của tâm đường thẳng, họ sẽ muốn phân tích nó, sẽ muốn nhét nó vào kho dữ liệu mà họ đã tạo dựng dựa trên các giáo lý tâm linh mà họ đã thực hành hay nghiên cứu cho tới điểm này.   

Nhưng dẫu vậy, các thày cũng biết là luôn luôn sẽ có những người đọc được giữa hai dòng chữ và nhận ra lời lẽ vỏ ngoài không thực sự quan trọng bằng ý nghĩa nội tâm được truyền tải qua lời lẽ. Vì vậy, đây thật không phải là vấn đề hiểu – hiểu tia sáng bí mật, hiểu đặc tính của tia sáng bí mật – mà là vấn đề hòa điệu với tia sáng, trải nghiệm trực tiếp sự rung động của tia sáng, thậm chí trở thành một với sự hiện diện, Hiện diện tâm linh, mà mỗi tia bí mật vốn là.

2.1. Thỉnh Đại thiên thần Uzziel

Làm thế nào thật sự qua được khai ngộ của tia thứ tám? Bằng cách trở thành một với Hiện diện tâm linh của tia thứ tám. Tất nhiên đó là Phật. Nhưng đối với nhiều người đây là một bước khó khăn, cho nên Đại thiên thần Uzziel có lời mời cho những ai muốn vượt qua khai ngộ của tia thứ tám có thể trở thành ngọn lửa song sinh của thày. Họ có thể được Đại thiên thần chỉ dạy ở mức nội tâm cho đến khi họ đạt tới điểm thấy mình là thái cực Omega trong vật chất của thái cực Alpha là chính Đại thiên thần ở cõi tâm linh. Họ cũng có thể xem mình là thái cực Omega của Hiện diện TA LÀ của mình.

Để vượt qua khai ngộ của tia thứ tám, con cần đi xa hơn tâm đường thẳng. Con cần trải nghiệm điều mà thời xưa được gọi là chứng ngộ (gnosis), là đi vào hợp nhất, là sự hợp nhất giữa người biết và cái được biết. Nhưng con có thấy chăng, con yêu dấu, tâm đường thẳng được sinh ra và tùy thuộc vào tương quan nhị nguyên giữa người biết và cái được biết, giữa người đang nhận thức và đối tượng được nhận thức?

Và điều này có nghĩa là khi con nhìn qua phin lọc của tâm đường thẳng, mỗi chủ đề nghiên cứu sẽ trở thành một đối tượng nhận thức, một đối tượng cho việc phân tích, phân loại, dán nhãn, phán xét. Có con ở một đằng, và đằng kia có một chủ đề không phải là con, tách biệt khỏi con, xa rời khỏi con, và con tìm hiểu nó từ một khoảng cách. Con yêu dấu, đây chính là Chén thánh của nền khoa học hiện đại mà họ gọi là tính khách quan, khi người quan sát không là một phần của kết quả quan sát mà lại đứng ở xa giống như một nhà thiên văn nhìn ngôi sao xuyên qua kính viễn vọng, đinh ninh rằng mình không ảnh hưởng gì đến ngôi sao mà chỉ là một người quan sát trung lập, khách quan.

Tuy nhiên khi con tới điểm này, khi con bắt đầu đi xa hơn bảy tia sáng và bước vào tia thứ tám, bắt đầu bước vào các tia cao hơn, thì con cần khắc phục ảo tưởng này, sự lừa dối này về một nhà quan sát trung lập, tách biệt, xa cách. Không có nhà khoa học nào đã từng thực hiện một quan sát thật sự khách quan, bởi vì nhà khoa học đó quan sát xuyên qua chính tâm thức của mình. Và chừng nào con còn cố quan sát, chừng nào con còn xem mình là một người quan sát đang xem xét một vật ở xa, thì con không thể nào khách quan.

Khách quan đích thực là gì? Đó là sự chứng ngộ, khi tính nhị đối giữa chủ thể và khách thể tan biến và con trải nghiệm sự hợp nhất với cái trước đó là một đối tượng xa cách. Làm thế nào điều này có thể xảy ra? Làm thế nào, chẳng hạn, con có thể thiền quán về một ngọn núi, về cái hồ hay về đại dương mà vượt khỏi vai trò của người quan sát đang thiền quán – rõ ràng không phải là con như một người, con như một thân xác, con như một sinh thể đang hiện thân? À con có thể làm được, con yêu dấu, khi con nhìn nhận một thực tế cơ bản, rất đơn giản, của mọi sự sống. Con thấy đó, khi thày bước ra khỏi Niết bàn như là Phật và có ngưới hỏi thày “Ông là gì?” thì thày đã trả lời “Ta tỉnh thức.”

2.2. Thực tại nằm bên dưới mọi hình dạng

Khi con tỉnh thức, con nhận ra thực tại cơ bản nằm ở bên dưới không phải là vật chất, không phải là năng lượng, mà là tâm thức. Tất cả mọi thứ đều là một biểu đạt của tâm thức. Không có gì trong thế giới vật chất chỉ tồn tại mà thôi. Đó là một phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật, và sự phóng chiếu này diễn ra xuyên qua một trạng thái tâm thức đặc thù nào đó. 

Cho nên nếu con cố nhận thức một vật cụ thể, chẳng hạn một ngôi sao ở xa kia, xuyên qua giác quan vật lý mà thôi – hay sự nối dài của giác quan mà các nhà khoa học đã xây dựng qua dụng cụ khoa học – thì con sẽ không thực sự biết được vật đó. Con sẽ biết các đặc tính vật chất của nó nhưng con sẽ không biết cái tâm thức đang phóng chiếu nó lên màn ảnh của Ánh sáng Mẫu-Vật. Và cho đến khi con biết được tâm thức này thì con vẫn chưa thực sự biết được một ngôi sao là gì, vẫn chưa thực sự biết được ngôi sao đặc thù này. Con sẽ không thực sự biết được ngôi sao của chính Mặt trời của con, cùng với tâm thức đặc thù của các sinh thể tâm linh đã phóng chiếu hình ảnh này lên Ánh sáng Mẫu-Vật và vẫn đang cầm giữ hình ảnh này trong tâm thức của họ.

Cho nên thày khuyên những ai mong muốn vượt xa hơn tia thứ tám để đi vào tia thứ chín, nên dành ra thời gian thiền quán về Mặt trời, Mặt trời của chính con trong thái dương hệ đặc thù này. Con đừng thiền quán về nó như một Mặt trời vật lý mà như một Mặt trời tâm linh, như sự biểu đạt của một sinh thể tâm linh, của một cặp sinh thể tâm linh – một thái cực Alpha-Omega. Xong con hãy cho phép tâm con hòa nhập với các sinh thể tâm linh đang trụ nơi không gian của Mặt trời của con, hiện có tên là Helios và Vesta. Con hãy hòa nhập với hai vị đó để con biết được sự rung động, biết được Hiện diện của hai vị.

Đây là cách duy nhất để biết, biết thực sự, các tia bí mật – và đó chính là tại sao các tia này được gọi là bí mật. Bởi vì những ai còn bị kẹt trong tâm đường thẳng, những ai cứ muốn vật thể hóa (objectify) mọi chuyện, sẽ không thể mở khóa bí ẩn của các tia cao hơn. Như thày đã có nói, không có gì để cho tự ngã phóng lớn. Không có gì để cho tự ngã sử dụng hầu xác nhận hay chứng thực thế giới quan của nó, hầu nó tâng nó lên cao hơn mọi người.

Con thấy đó con yêu dấu, như thày có giải thích, bảy tia đầu là những tia sáng đã được dùng để xây dựng vũ trụ vật chất. Và vì vậy, chúng có một sức mạnh biểu đạt nào đó. Và khi chúng bị tha hóa bởi tâm thức nhị nguyên, tự ngã có thể chụp lấy dạng tha hóa, mất cân bằng này, rồi sử dụng để xây dựng quyền năng của mình – hay nhảy sang đối cực nhị nguyên ngược lại là giảm thiểu quyền năng – nhưng dù thế nào thì điều này vẫn giữ cho tự ngã sống còn qua cuộc giao tranh nhị nguyên.

Tất nhiên, tự ngã có thể phóng chiếu một hình ảnh lên các tia bí mật để tạo ra một tượng khắc về chúng, và như vậy khiến chúng có vẻ nhị nguyên. Tuy vậy con cần hiểu là các tia bí mật đã không được dùng để xây dựng vũ trụ vật chất. Chúng là những biểu đạt cao hơn, vượt quá vật chất. Và đó là tại sao con phải đề phòng tâm đường thẳng vốn có xu hướng kéo thấp các tia bí mật xuống bầu cõi mà nó có khả năng xử lý, và như vậy nó có thể phân loại và phân tích theo quan điểm tương đối của nó về mọi chuyện.

2.3. Tâm tương đối và tâm nhị nguyên

Con yêu dấu, hãy để thày cho con thấy một nét khác biệt vi tế mà ít người hiểu. Chúng ta bàn về tâm nhị nguyên và chúng ta bàn về tâm đường thẳng phân tích. Đôi khi chúng ta dùng hai từ này một cách lẫn lộn, nhưng khi con đạt đến cái hiểu cao hơn thì con thấy một khác biệt vi tế. Khác biệt là tâm đường thẳng thì tương đối, trong khi tâm tự ngã thì nhị nguyên.

Tâm đường thẳng phân tích trong bản chất có tính cách trung lập. Đó là lý do tại sao các nhà khoa học vô cùng tập trung vào trí tuệ và tâm phân tích có thể tin được là họ có khả năng đạt được tính khách quan qua tâm phân tích. Con thấy đó, tâm phân tích sẽ phân loại mọi chuyện dựa trên một tiêu chuẩn tương đối, một tiêu chuẩn tương đối có hai đối cực ngược nhau. Nhưng điều mà tâm phân tích sẽ không làm là áp đặt một phán xét giá trị lên hai đối cực. Điều này tâm tự ngã sẽ làm. Tâm tự ngã dựa trên phán xét giá trị. Tâm đường thẳng có thể bảo là chuyện này như thế này hay chuyện kia như thế kia, nhưng nó sẽ không bảo là chuyện này tốt và chuyện kia xấu, bởi vì đây là tự ngã.

Vì vậy con thấy tâm phân tích không nhất thiết là kẻ thù của con – nó chỉ đơn giản là một công cụ. Chỉ khi nào tự ngã áp đặt một phán xét giá trị phủ lên tâm phân tích thì khi đó người ta mới rơi vào cạm bẫy của đấu tranh nhị nguyên, qua đó người ta nghĩ một cách tối hậu rằng một bên là thiện và bên kia là ác. Và vì vậy, họ phải đứng về phe thiện và tìm cách tiêu diệt phe ác.

Điều con có thể làm – khi con tách riêng tâm tự ngã và tâm phân tích – là kỳ thực, trong một số ranh giới nhất định, con có thể dùng tâm phân tích như một công cụ để phơi bày tự ngã. Tâm phân tích có thể được dùng để thấy rằng phán xét giá trị của tự ngã là mâu thuẫn, không hợp lý, và sẽ chỉ buộc con lại với cuộc vật lộn nhị nguyên. Cho nên ở một mức độ nào đó, cái ta ý thức có thể sử dụng tâm phân tích để vạch trần tự ngã, như một số các con đã làm rồi qua nhiều cách khác nhau.

Nhưng con cũng phải lưu ý là tâm phân tích không bao giờ có thể vượt quá tầng mức nơi mọi chuyện được nhìn một cách tương đối. Phải có hai đối cực, phải có sự căng thẳng giữa hai đối cực. Đối với tâm phân tích thì sự căng thẳng này không nhất thiết là giao tranh, vì giao tranh đến từ phán xét giá trị. Nhưng vẫn có một sự căng thẳng, và căng thẳng này thì không bao giờ có thể được giải quyết qua tâm đường thẳng phân tích. Ví dụ các thày có nói đến một Đấng Sáng tạo tự biểu hiện như hai thái cực đối lại với nhau, lực lan ra của Cha và lực co lại của Mẹ. Đối với tâm đường thẳng phân tích, lan ra là một tiến trình hướng ra ngoài, và co lại là hướng ngược lại. Đấy, ngay đó đã cài sẵn một sự căng thẳng giữa cả hai. Tâm phân tích không thể giải quyết được chuyện này. Tâm đường thẳng không thể nghĩ ra một lập luận, một cách lý luận nào để giải quyết tình trạng phân đôi có vẻ như đang có mặt giữa hai lực sáng tạo cơ bản này. Tâm đường thẳng sẽ nhìn chúng như là đối nghịch.

Đây là tại sao để có thể vượt quá tia thứ tám và khởi sự tia thứ chín là tia đầu tiên trong các tia bí mật, con phải đạt tới điểm hiểu ra những hạn chế của tâm đường thẳng, và con nhận ra là con – như cái ta ý thức – là nhiều hơn tâm đường thẳng. Do đó con không phải trải nghiệm thế giới xuyên qua phin lọc của tâm đường thẳng, mà kỳ thực con có thể vượt xa hơn để có được một trải nghiệm trực giác, một trải nghiệm “à há” không thể nào diễn tả bằng ngôn từ. Nó vượt quá ngôn từ, vượt quá mọi khái niệm, nhưng con vẫn biết là mình vừa trải nghiệm một cái gì rất thực.

2.4. Các tính chất của tia thứ chín

Và điều này dẫn chúng ta đến tia thứ chín. Đâu là tính chất của tia thứ chín? À một lần nữa, khi thày dùng từ ngữ thì thày lại cung cấp thức ăn cho tâm đường thẳng, cho nên con hãy cẩn thận đừng bị lôi kéo vào đó, vì tâm đường thẳng sẽ làm chuyện nó vốn làm là tìm cách phân tích và phân loại. Tuy nhiên khi nhận rõ điều này rồi thì chúng ta vẫn phải dùng từ ngữ để giao tiếp.

Từ ngữ mà thày sẽ cho con để mô tả tia thứ chín là sự quân bình (equilibrium). Đây là một khái niệm mà tâm đường thẳng cảm thấy khó lòng xử lý. Đây là một khái niệm mà tự ngã không muốn đương đầu và cũng không muốn con đương đầu. Và nếu con theo dõi trạng thái nội tâm của mình, con có thể nhận ra là tự ngã sẽ nổi loạn chống lại, nó sẽ nghĩ ra đủ loại lập luận để bác bỏ chuyện này. “Làm sao vậy được? Đây không thể nào là bí mật vĩ đại mà các chân sư thăng thiên đã nói đến hàng bao năm trời. Phải có một quyền năng bí mật nào đó trong các tia bí mật chứ.” Hẳn là có quyền năng, nhưng không phải loại quyền năng mà tự ngã có thể nắm bắt. Bởi vì con thấy đó, tự ngã chỉ có thể hoạt động khi có sự mất quân bình, khi có căng thẳng. Tự ngã không thể làm việc trừ khi có căng thẳng, có sự chống đối giữa hai đối cực được tạo ra trong hành động tách khỏi hợp nhất. Tự ngã không thể dùng được hợp nhất, và do đó nó không thể dùng được quân bình cho bất cứ chuyện gì.

Và điều này dẫn chúng ta đến một khái niệm đã được biết đến từ hàng thế kỷ, hàng thiên niên kỷ, trong các tôn giáo phương Đông và cũng đang dần dần được biết đến nhiều hơn ở phương Tây, là khái niệm về nghiệp. Người ta thường nhìn nghiệp dưới mắt nhị nguyên, có nghiệp tốt và có nghiệp xấu. Đây là một khái niệm rất giống như khái niệm về tội lỗi của phương Tây, qua đó con phạm tội khi làm điều gì sai, xong một cách nào đó con phải trả món nợ, trả tội, trước khi con có thể tự do.

Con yêu dấu, thế là hàng tỷ người trên hành tinh tin vào khái niệm này dưới một dạng nào đó, tin rằng nếu họ làm gì sai trái dựa theo một tiêu chuẩn nào đó – cho dù là tiêu chuẩn của tôn giáo hay của gì khác – thì con sẽ phải đền lại qua một việc làm khác hơn.

Nhưng con thấy không, tạo nghiệp nghĩa là gì, làm tội nghĩa là gì? Có nghĩa là con làm một hành động mất quân bình. Này, con hãy nhận ra một điểm vi tế, một khác biệt vì tế ở đây. Con nhìn xem thày vừa nói gì về tâm đường thẳng, rằng nó tương đối nhưng không phán xét giá trị, xong tự ngã mới áp đặt một phán xét giá trị lên đó?

Nếu con loại tự ngã ra khỏi phương trình, tâm đường thẳng giản dị biến thành một công cụ để hành động trong thế giới vật chất. Một khi con nhìn nhận mình là nhiều hơn tâm đường thẳng, con có thể hành động xuyên qua tâm đường thẳng mà không tạo nghiệp, không làm tội. Nhưng khi tự ngã bước vào và xem con là một cá nhân tách biệt – qua đó con đánh mất cảm nhận hợp nhất với cái ta cao của mình, cảm nhận hợp nhất với mọi sự sống – thì bấy giờ con có tự ngã đang hành động. Nó vẫn hành động xuyên qua tâm đường thẳng nhưng nó lại áp đặt một phán xét giá trị về những gì sẽ tốt cho con như một cá nhân tách biệt. Con tìm cái tốt cho mình thay vì con đường cao hơn là chỉ tìm cách nâng cao cái Tất Cả qua việc biểu hiện các đức tính thiêng liêng của mình – một con đường không mất quân bình, không tạo nghiệp, không là tội lỗi, con yêu dấu. 

Đây là một điểm thật khó hiểu và không thể nào chấp nhận đối với tự ngã và tâm đường thẳng. Vì tâm đường thẳng sẽ nói: “Ừ nhưng nếu có hai người làm cùng một việc thì cả hai phải phạm tội chứ.” Nhưng không phải vậy, con yêu dấu. Hai người có thể làm cùng một việc vỏ ngoài, nhưng một người thì ở trong ảo tưởng nhị nguyên, ảo tưởng tách biệt, và do đó hành động của y sẽ mất quân bình, nhằm đưa ngã tách biệt lên cao. Trong khi đó người thứ hai có thể làm cùng việc đó, nhưng y vượt lên trên tâm nhị nguyên, cố nâng cao cái Tất Cả, vì vậy đây không phải là tội lỗi. Đây là một hành động cân bằng, một hành động khởi lên từ sự quân bình.

Cho nên con thấy có những hành động có thể được thực hiện từ một trạng thái không nhị nguyên, không phán xét. Qua ý định muốn nâng cao cái Tất Cả, không có sự mất quân bình nào trong hành động này. Thày không đang nói là điều này áp dụng cho mọi hành động, bởi vì rõ ràng khi con vượt lên trên tâm nhị nguyên thì có một số hành động mà con sẽ không bao giờ nghĩ tới chuyện thực hiện, con yêu dấu.

2.5. Không thể nào tránh hành động trong thế giới này

Tuy nhiên con nhìn nhận là mặc dù con đã đạt được một trạng thái tâm thức cao hơn, nhưng chừng nào con còn ở trong hiện thân vật lý thì con phải hành động. Con không thể hiện thân mà không hành động theo cách này hay cách khác. Chắc chắn con có thể làm giống như nhiều người tâm linh đã từng làm trong qua khứ, là khi họ đạt được một trạng thái tâm thức nào đó – khi họ vượt quá tâm thức nhị nguyên đang giam hãm nhiều người – thì họ thấy được sự hư ảo, phù phiếm của tranh đấu nhị nguyên. Họ rút lui khỏi tranh đấu, vào sống trong tu viện hay lên núi sống trong hang động, hay một cách nào đó họ tự cô lập khỏi cuộc tranh đấu nhị nguyên, không dự phần vào đó, không bồi thêm cho nó, không nuôi cho nó lớn thêm. Và chắc chắn giải pháp này đã, và vẫn tiếp tục, phần nào chính đáng theo nghĩa là một số ít người có thể giữ cân bằng tâm linh cho số đông bằng cách trụ vững trong trạng thái tâm thức tinh khiết này.

Tuy vậy, việc giữ cân bằng tâm linh chỉ kéo dài thời gian, chứ không thực sự giúp đem vào thị hiện vương quốc của Thượng đế hay Thời Hoàng kim. Cho nên trong Thời đại Bảo bình, chúng ta không cần người tâm linh rút lui và cách ly khỏi xã hội. Ngược lại là đằng khác, chúng ta cần những người chịu tham gia tích cực vào xã hội, nhưng họ làm vậy từ một trạng thái quân bình, qua những hành động không mất quân bình. Và như vậy họ không bồi thêm cho mối căng thẳng, không tăng cường cho cuộc giao tranh, mà họ chứng tỏ là có một cách khác hơn việc giao tranh.

Đây là điều cần thiết trong thời đại hôm nay. Đây là điều mà nhiều người trong số các con đã bước vào đầu thai để biểu hiện, tức là khả năng tham gia tích cực vào xã hội mà vẫn ở ngoài nhị nguyên. Làm thế nào con có thể biểu hiện điều này? Con chỉ biểu hiện được một khi con học cách hành động mà không hành động một cách mất quân bình, bởi vì hiển nhiên, con không thể dấn thân vào xã hội mà không hành động.

Trên thực tế, con yêu dấu, ngay cả một người ngồi trong hang đá trên núi Himalaya cũng đang hành động, đang thực hiện những hành động trong cõi vật chất. Thường người đó sẽ cần ăn uống. Y có thể chỉ ăn trái cây, nhưng trái cây đó phải có ai hái, đem vào hang. Nếu trái cây không được hái thì chuyện gì xảy ra? Nó có thể được thú ăn, được người khác hay côn trùng ăn, hay nó có thể thối rữa và trở thành một phần tử trong chu kỳ tự nhiên. Cho nên qua việc ăn trái, uống nước, hít thở không khí, con đang hành động. Con đang ảnh hưởng môi trường. Có thể con chỉ có – như từ thông dụng – một vết chân khá nhỏ nhưng con vẫn đang hành động.

Vậy thì tại sao con không bước ra ngoài xã hội nơi hành động của mình có thể tạo cảm hứng cho người khác, khi con chứng tỏ là con đã vượt lên cao hơn trạng thái tâm thức của một người cần phải ở ẩn để tránh bị lôi kéo vao giao tranh nhị nguyên? Bởi vì thay vào đó, con đã đạt tới điểm có thể dự phần tích cực vào cuộc sống mà không bị hút vào giao tranh nhị nguyên – không cho phép thế gian lôi cuốn con vào giao tranh, vào Biển Luân hồi, vào biển khổ đau.

2.6. Suy ngẫm về sự kết hợp các lực cơ bản

Đây là điều con có thể đạt đến bằng cách suy ngẫm tia thứ chín của quân bình. Đại thiên thần của tia thứ chín là Uniel, có nghĩa là kết hợp, tính chất kết hợp của tia thứ chín, kết hợp lực lan ra và lực co lại bằng cách thấy chúng là những biểu hiện của cái Một, của điểm dị biệt.

Và giống như bảy tia sáng đã nảy ra từ điểm dị biệt, thì hai lực lan ra và co lại cũng y như thế. Và khi con thấy được điều này, con ngộ ra là hai lực lan ra và co lại không đối lập với nhau. Chúng không chống đối nhau mà chúng bổ sung cho nhau. Bởi vì nếu không có lực mang khả năng tương tác thì không một hình tướng riêng biệt nào có thể được sinh tạo. Đó là tại sao Thượng đế đã tự thị hiện như là lực lan ra và lực co lại. Phải có sự lan ra để một hình tướng có thể được phóng chiếu lên màn ảnh của Ánh sáng Mẫu-Vật.

Con hãy lấy khái niệm của khoa học về vụ Nổ Lớn (Big Bang). Trong một bùng nổ khổng lồ, tất cả mọi thứ bị văng ra ngoài. À, con yêu dấu, chuyện gì xảy ra khi con dùng chất nổ làm nổ tung một tòa nhà? Cấu trúc ngăn nắp của tòa nhà sẽ bị tan tành, văng ra thành rất nhiều mảnh nhỏ. Cho nên con thấy rõ là nếu chỉ có lực lan ra trong vụ Nổ Lớn thì không một hình tướng mạch lạc nào có thể được tạo dựng. Phải có gì đó cân bằng lại lực lan ra để một hình tướng bền vững có thể được tạo ra và duy trì trong một chiều dài thời gian.

Nếu vậy thì lực lan ra không phải là kẻ thù của lực co lại. Đó là yếu tố đã khởi sự tiến trình sáng tạo và vẫn tiếp tục thúc đẩy sự sáng tạo này tự thăng vượt. Bởi vì một lần nữa, nếu lực co lại được phép hành xử một cách mất quân bình, nó sẽ trở thành điều các thày đã nói đến là định luật thứ hai của nhiệt động học – tức là các cấu trúc sẽ bắt đầu tan vỡ, không phải bởi lực lan ra làm chúng nổ tung, mà vì chúng bị co lại quá đỗi đến độ chúng bị ghiền nát thành hư vô. Và như vậy thì một lần nữa, hình tướng không thể được duy trì.

Cho nên không có thường hằng ở bất cứ nơi đâu trong thế giới hình tướng. Và tất nhiên điều này, tự ngã rất khó lòng chấp nhận. Thật ra tâm đường thẳng phân tích cũng rất khó lòng chấp nhận, vì nó muốn phân loại mọi thứ, xếp mọi thứ vào một kho dữ liệu. Và ngay khi nó vừa làm vậy thì thực tại đã chuyển đổi, đã tự thăng vượt, đã vượt khỏi các quy tắc và luật lệ, thậm chí cả những định luật của tự nhiên mà trí tuệ con người cứ tưởng là rốt cuộc mình vừa khám phá ra. Nhưng sự thật là trí tuệ chỉ xác định được những quy luật không có giá trị gì trong dòng thăng vượt không ngừng của sự sống.

2.7. Bước vào quân bình

Vậy làm thế nào con bước vào quân bình? Đây là thử thách cho đệ tử tâm linh, và thường khi những đệ tử háo hức nhất trong việc áp dụng bảy tia sáng đầu và điều ngự các khai ngộ của bảy tia đầu, lại là người gặp khó khăn lớn nhất để chuyển vào khai ngộ của các tia bí mật. Tại sao vậy? Vì họ đã gây dựng một cái trớn đã đưa họ xa hơn hẳn trạng thái tâm thức trước của họ, vượt hơn hẳn lực kéo hướng hạ của tâm thức đại chúng. 

Con có thấy là để là một đệ tử tâm linh và vươn lên cao hơn tâm thức đại chúng, con phải có một lực đẩy hướng thượng, và đó là sự điều ngự bảy tia sáng đầu? Con có thấy là để các Elohim của bảy tia sáng thị hiện được vũ trụ vật chất, các thày phải có lực đẩy đó hầu phóng chiếu hình ảnh lên Ánh sáng Mẫu-Vật và duy trì hình ảnh suốt một thời gian rất dài?

Cho nên đó là điều con xây dựng khi con điều ngự các khai ngộ trên bảy tia. Nhưng đồng thời cái con cũng xây dựng là cảm nhận rằng con cần phải hành động, con cần phải làm gì đó, thậm chí cả mong muốn đem lại cải tiến cho thế giới, tạo sự khác biệt dứt điểm để đem lại Thời Hoàng kim của Saint Germain, đem lại hòa bình thế giới, tiêu trừ bệnh tật, xây dựng hệ thống chính trị hoàn hảo, xóa sạch nạn nghèo đói hay bất kỳ mục tiêu nào khác trong những mục tiêu chính đáng và sáng giá mà người ta có thể có. Thày không đang bảo là các mục tiêu này không quan trọng, không chính đáng, mà thày bảo là chúng chỉ chính đáng ở một giai đoạn nào đó của đường tu, con yêu dấu.

Và khi con đạt đến mức tia thứ tám và thứ chín, con cần bước lui lại, nhìn bức tranh rộng lớn và thấy là mặc dù con đã gây dựng được một cái trớn hành động đúng đắn, con không thể vượt quá mức này bằng cách cứ tiếp tục hành động đúng đắn.

Con thử nhìn xem Bát chánh đạo – “chánh” cái này, “chánh” cái kia, “chánh” cái nọ. Ở một mức nào đó thì cũng ổn và tốt thôi. Nhưng con không tự động trở thành Phật bằng cách đi theo Bát chánh đạo như một con đường vỏ ngoài và cố tuân thủ một chuẩn mực nào đó. Con chỉ vượt xa hơn mức này khi con nhìn ra là con phải ngừng hành động từ bất kỳ cảm nhận tách biệt nào.

Nếu con nhìn các đệ tử của chân sư thăng thiên trong nhiều đợt truyền giáo một cách trung thực, con sẽ thấy là rất nhiều người vẫn còn bị kẹt trong thế giới quan nhị nguyên đó cho rằng họ phải hành động, họ phải quyết liệt, họ phải diệt trừ chủ nghĩa cộng sản, họ phải khắc phục bệnh tật, họ phải đem lại Thời Hoàng kim của Saint Germain bằng cách chiến đấu chống lại một loại điều kiện nào đó.

2.8. Thăng vượt nhị nguyên để khiến cái ác trở nên vô nghĩa

Nhưng làm vậy sẽ chỉ đưa con bao xa, nó sẽ không đưa con vào các tia sáng bí mật. Vì muốn bước vào tia sáng bí mật, con phải khởi sự ở tia thứ chín là nơi con phải khắc phục cảm nhận tách biệt, những tàn dư của nhị nguyên khiến con nghĩ con phải làm một hành động bù trừ cho hành động ngược lại – nghĩa là để khắc phục cái ác, con phải làm một việc thiện. Ở tia thứ tám, con phải đạt tới cái ngộ là để thực sự khắc phục cái ác, con phải khiến cho các ác trở nên vô nghĩa. Và con không khiến cho cái ác trở nên vô nghĩa bằng cách đánh nhau với nó, chinh phục nó, tiêu diệt nó.

Con chỉ làm cho nó trở nên vô nghĩa bằng cách thăng vượt tầng mức của nhị nguyên, hầu ông hoàng của thế gian có đến cũng không thể nắm được gì nơi con, y không thể kéo con ra khỏi an lạc, không thể kéo con ra khỏi quân bình. Vì vậy trước khi con điều ngự được các khai ngộ của bảy tia đầu, con đã nghĩ mục tiêu là nhằm gây dựng một cái trớn, một lực đẩy, để khi ông hoàng của thế gian đến thì y không thể ngăn cản bước tiến của con. Con yêu dấu, các thày đã cho con ẩn dụ là nếu con đặt một bánh xe trên mặt đất và đẩy nó sang bên, nó sẽ đổ. Nhưng nếu bánh xe đang lăn và con đẩy nó sang bên, nó sẽ chỉ đổi hướng mà thôi. Nó càng lăn nhanh bao nhiêu thì càng ít đổi hướng bấy nhiêu.

Và đây là điều con kinh qua trên bảy tia sáng – con xây dựng động lượng để không có gì trong thế gian có thể đẩy con ra khỏi hướng đi mà con nhìn thấy, là sự tăng triển tâm linh. Nhưng giờ đây con đến tia thứ tám và thứ chín, động lượng này sẽ không đưa con xa hơn, nó sẽ không đưa con vào các tia bí mật.

Thay vào đó, con cần thấy rằng quân bình (equilibrium) không phải là một trạng thái cân đối (balance) giữa hai đối cực nhị nguyên. Quân bình vượt quá tầng mức của nhị nguyên nơi có sự phán xét giá trị giữa thiện và ác, thậm chí có cả khả năng đối chọi. Quân bình thật ra không có nghĩa – trong ý nghĩa xác thực nhất – là con đã cân đối được các đối cực, mà có nghĩa là con đã thăng vượt toàn bộ cái tâm thức nơi sự đối lập có thể có mặt.

Một lần nữa, con có thấy là nếu con nhìn lực lan ra và co lại của Thượng đế – Cha và Mẹ – với tâm đường thẳng thì con sẽ thấy cả hai đối chọi nhau không? Khi áp đặt phán xét giá trị của tự ngã, thậm chí con sẽ nghĩ là một cái có thể tốt và cái kia có thể xấu. Và đây chính là tại sao nhiều người tâm linh cho rằng vật chất là kẻ thù cho sự phát triển tâm linh của họ, rằng Đấng Mẹ là kẻ thù ngăn cản họ hợp nhất với Đấng Cha, và vì vậy họ kháng cự lại vật chất. Bằng đủ mọi cách họ cố rút lui khỏi đời sống vật chất, ngay cả xác thân. Nhưng đây không phải là một sự phát triển tâm linh quân bình.

Khi con vượt quá tầng mức này, con thấy các lực đích thực của sáng tạo như Đấng Sáng tạo đang thấy – không như đối lập, mà chỉ đơn giản là những cách biểu đạt khác nhau của cái Một. Cách biểu đạt khác nhau nhưng chỉ khác nhau vừa đủ để cho phép những hình tướng riêng biệt có thể xuất hiện từ cái Một – từ cái Một nơi không có gì phân chia.

2.9. Hành động từ sự quân bình

Thượng đế, như một Thượng đế không thể phân chia, không thể tạo ra một hình tướng riêng biệt từ chính mình. Để hình tướng có thể được tạo ra, Đấng Vô hạn phải cho phép mình thị hiện như sự tương tác hữu hạn giữa hai lực. Thế nhưng Đấng Vô hạn không bước vào bên này hay bên kia, thái cực này hay thái cực kia. Đấng Vô hạn trụ nơi sự quân bình mà từ đó hai lực kia đi ra và được biểu đạt. Và vì vậy, Đấng Vô hạn không bao giờ xem chúng là đối nghịch, không bao giờ đồng hóa mình như một đối nghịch phải chiến đấu với đối nghịch kia.

Và đây chính là trạng thái tâm mà cái ta ý thức của con có thể đạt đến, và nó phải đạt đến để có thể vượt qua các khai ngộ của tia thứ chín, tia sáng của quân bình, tia sáng của kết hợp – là tia sáng nơi con nhìn thấy sự hợp nhất đằng sau cái đa dạng, và nhìn thấy sự đa dạng như là một biểu hiện đằng sau hợp nhất. Cho nên con yêu dấu, con có thể hành động từ trạng thái hợp nhất này, từ trạng thái quân bình này, thay vì hành động từ trạng thái nhị nguyên vốn xem mọi chuyện là sự giao đấu giữa hai đối cực nhị nguyên, giữa hai đối nghịch nhị nguyên, mà cứ tưởng là một đối nghịch nhị nguyên phải bị tiêu trừ để vương quốc Thượng đế có thể thị hiện.

Con thấy đó, con yêu dấu, Thời Hoàng kim, vương quốc Thượng đế cho dù con muốn gọi là gì, sẽ không được thị hiện trên trái đất bởi những người hành động quyết liệt, dù hành động này là gì hay có vẻ tốt đẹp đến chừng nào, nếu họ vẫn ở trong trạng thái mất quân bình.

Không một khối lượng hành động mất quân bình nào có thể đem vương quốc Thượng đế đến trái đất. Nhưng đồng thời, vương quốc Thượng đế cũng sẽ không được đem lại bởi những người rút lui khỏi thực tế, ngồi thiền trong hang đá. Họ có thể giữ một sự cân bằng tâm linh giúp cho nhân loại có thời giờ nâng cao tâm thức, nhưng họ không thể đóng góp trực tiếp vào công cuộc đem lại vương quốc Thượng đế bằng cách ngồi trong hang. Con phải bước ra ngoài. Đến như Phật cũng từng bước ra ngoài giảng dạy cho đại chúng hay cho những ai sẵn sàng nhận lời dạy, cũng như con đã thấy Ki-tô đi ra chợ tiếp xúc với mọi người.

Cho nên thử thách ở đây là hành động mà không hành động. Làm mà không làm. Làm từ trạng thái quân bình đó. Và điều này ở mức độ cá nhân, con có thể bắt đầu hiểu được bằng cách xem xét ý định, xem xét động cơ. Trước hết, con có đang cố nâng cao người khác khi con tương tác với họ? Con có đang nâng họ lên để giúp họ thang vượt? Hay con tìm cách nhét họ vào kho dữ liệu của con dựa trên một số phán xét giá trị và dán nhãn họ là thế này thế kia?

Xong con cũng lượng định xem con có đang cho phép mình bị cuốn hút vào cuộc đấu tranh nhị nguyên? Con có bị dính mắc vào hành động và phản ứng của người khác? Con có muốn thấy họ thay đổi hay không? Con có muốn ép buộc họ thay đổi hay không, con yêu dấu? Bởi vì hiển nhiên, nếu con có những dính mắc như vậy thì chúng sẽ kéo con ra khỏi quân bình. Thế là con không còn hành động từ một trạng thái quân bình nữa – từ một trạng thái an bình – mà con hành động từ một trạng thái nhị nguyên. Và như thế, con đang tăng cường cho cuộc giao tranh thay vì chứng tỏ làm thế nào con có thể ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian.

Vì vậy đây là những điều con cần suy ngẫm để neo chặt vào tia thứ chín. Nhưng như thày đã nói, con không thể neo trụ hoàn toàn vào đó qua một cái hiểu trí thức mà thôi. Con phải đạt tới điểm mở tâm ra, mở trái tim và mở cả con người của mình vào trải nghiệm chứng ngộ, trải nghiệm kết hợp với trạng thái quân bình này, là khi con nhận biết, con trải nghiệm sự quân bình. Và để điều này xảy ra, hầu hết các con sẽ phải làm gì đó khác hơn những gì con vẫn từng làm cho tới nay.

Con sẽ phải làm việc để cho tâm tĩnh lặng. Con sẽ phải tìm ra cách, con yêu dấu, dành riêng thời gian khi con không hành động – ngay cả không có những hành động như cầu nguyện, đọc chú hay thực tập pháp tu – mà con thiền định, không phải thiền định về một câu chú, một hình tư tưởng, một khái niệm, mà con thiền định về sự tĩnh lặng, con thiền định về sự quân bình, tức là những gì vượt khỏi mọi thế lực đang quyết liệt tranh đấu nhị nguyên để tìm cách kéo con theo hướng này hay hướng nọ.

Cho nên, con yêu đấu, đây là thử thách của tia thứ chín. Các thày sẽ trao cho con thêm lời dạy về các tia bí mật kia để giúp con đáp ứng thử thách này. Các thày sẽ cho con những dụng cụ để con có thể vượt xa hơn và tìm thấy sự tĩnh lặng bên trong, sự quân bình vượt khỏi mọi hành động kéo đẩy của thế gian.

Đến đây thì bài giảng này kết thúc với hơi thở ra của thày. Thày thở ra sự rung động của quân bình cho những ai sẵn sàng và sẵn lòng thu nhận nó [thở ra]. Hãy tĩnh lặng và biết rằng cái TA LÀ trong con chính là Thượng đế.

1 | Tia thứ tám của hòa nhập

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 5, 2009, trong loạt bài về các tia sáng bí mật.

Con hãy tưởng tượng, con yêu dấu, có rất đông người tụ họp để mừng ngày đản sinh của Phật, họ chờ đợi Phật sẽ xuất hiện một cách nào đó nhưng lại chẳng có gì xảy ra. Con có thấy chăng, con yêu dấu, là ngay trong từ ngữ, khái niệm Phật xuất hiện đã là một sự mâu thuẫn. Bởi vì tinh túy của lời dạy của Phật là tất cả mọi thứ đều là Phật tánh. Cho nên nếu Phật xuất hiện dưới một hình dạng cụ thể nào thì điều này sẽ chỉ củng cố cho cảm nhận tách biệt, cảm nhận rằng Phật đang ở kia chứ không ở đây.

Vì vậy khi con suy nghĩ về điểm này, con sẽ thấy là ngay việc thày đang nói chuyện thông qua một sứ giả hữu hình, đưa ra một thông điệp mà tai con nghe thấy – một thông điệp có thể nghe được, có thể đọc được và học hỏi sau này – đấy, ngay cả việc này cũng mang sẵn hiểm họa là người ta có thể cho rằng Phật chỉ có thể xuất hiện thông qua sứ giả này hay sứ giả khác hay dưới một hình dạng cụ thể nào đó, và Phật chỉ có thể nói chuyện qua cách này hay cách nọ.  

Và như vậy con cũng thấy là các thày trong Đại đoàn Thăng thiên khi truyền giảng qua một sứ giả vỏ ngoài để cố đánh thức loài người, quả thật đã chấp nhận một rủi ro có cân nhắc. Thật vậy, đây chính là thử thách mà thày đã phải đối mặt sau khi nhập Niết bàn và cảm được tiếng gọi là mình cần bước ra ngoài giảng dạy. Vì mặc dù các thày đã nói đến thử thách của giọng nói kia bảo rằng sẽ chẳng ai hiểu được lời dạy, nhưng tại sao lại có chuyện không ai hiểu được chứ? À, con yêu dấu, mối nguy lớn nhất là người ta sẽ nhận diện một người đặc thù – một con người hiện thân ở một thời điểm và địa điểm đặc thù – như là Phật, và do đó họ bắt đầu thờ Phật dưới hình dạng đó.

Con thấy chăng, con yêu dấu, chân lý mà thày đã ngộ được – mà thày đã nhập một khi vào Niết bàn – là sự kiện tất cả đều sẵn là Phật tánh. Phật tánh cũng giống như điều mà đạo Cơ đốc thần bí gọi là Lời (Logos). Ban đầu có Lời, và Lời ở cùng Thượng đế, và Lời chính là Thượng đế, và không có Lời thì không có gì được tạo thành.

Đó, Phật tánh cũng vậy, con yêu dấu. Đó chính là nền tảng cho việc sinh tạo thế giới hình tướng. Đó là cái gì cơ yếu mà nếu không có thì không một hình tướng nào có thể được tạo ra. Cho nên một khi thày đã ngộ được điều này – một khi thày đã nhập một với Phật tánh là sự hợp nhất với mọi hình tướng – thì thày cũng thấy được là khi thày quay trở lại thế giới hình tướng và nhận diện mình là bậc giác ngộ, quả thực có một mối nguy rất lớn là những ai sẵn lòng lắng nghe thông điệp của thày, đặc biệt trong nhiều thế kỷ về sau, sẽ bóp méo thông điệp này đi và bắt đầu xây dựng một sự tôn sùng thần tượng quanh hình tướng cụ thể mà thày đã khoác vào như bậc giác ngộ.   

Con yêu dấu, vì vậy mới có những người đạt được một tầm hiểu cao hơn về lời dạy của Phật đưa ra khái niệm: “Nếu gặp Phật trên đường thì hãy giết Phật.” Vì nếu con gặp ai đó mà con nhận diện là Phật bên ngoài con, chính điều này sẽ ngăn cản con ngộ ra là Phật cũng ở bên trong con. Và người kia mà con cho là đặc biệt, là người vượt trội hơn con một cách nào đó, thì chính người đó, thần tượng đó, đang đứng chặn đường dẫn con đến giác ngộ, đến sự tỉnh ngộ về sự thật rằng mọi sự sống là một – bởi vì tất cả đều đi ra từ cùng một tinh túy cho dù con có gọi đó là Phật tánh hay tâm thức Ki-tô hay là Lời.

1.1. Khái niệm tia bí mật nhằm thử thách đệ tử

Vì vậy con thấy đó, điều thày cố cho con qua bài giảng này là một cái hiểu tiếp nối theo những gì đã được các chân sư khác trên bảy tia đầu trao cho con, nó liên hệ thế nào với việc phục hồi sự chữa lành đích thực, và làm thế nào nó có thể cho con thêm một chìa khóa cho sự chữa lành cá nhân của con. Thật vậy trong bài này, thày đến thuyết giảng về tia sáng thứ tám, được gọi là tia của hòa nhập (integration). Nhưng tất nhiên đó là nhiều hơn vậy, bởi vì không tia sáng nào có thể được mô tả bằng một từ duy nhất.

Vậy con nhận ra là sau khi con đã vượt qua các khai ngộ của bảy tia đầu, con đạt đến một điểm mấu chốt khác, vì Mẹ Mary trong các bài giảng [ở Lourdes] đã đề cập đến hình số 8, nơi con khởi sự từ điểm đáy của phần dưới hình số 8 và lần lần bước lên xuyên qua ba tia sáng đầu để đến được điểm nối là tia thứ tư.  Xong thay vì cho rằng mình cần tiếp tục đẩy mạnh theo trớn cũ, con phải đi xuống trở lại, con yêu dấu, con phải đi xuống cứu gỡ những thành phần của chính con vẫn còn kẹt lại trong tâm thức nhị nguyên, kẹt sau tấm màn của Maya và ảo tưởng.

Tuy nhiên một khi con đã làm vậy xuyên qua các các khai ngộ ở tia thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, thì một lần nữa con đạt đến một điểm nối khác. Và giờ đây có thể nói là có một hình số 8 khác mà phần dưới tượng trưng cho bảy tia đầu. Và điểm nối này chính là tia thứ tám. Còn phần trên của hình số 8 tượng trưng cho những tia từng được gọi là tia bí mật. Và như vậy trước khi con có thể bắt đầu hiểu được và neo trụ vào các tia bí mật này thì con cần đi qua điểm nối, điểm eo ở tia thứ tám.

Đối với hầu hết mọi người, việc đi qua khai ngộ của bảy tia đầu sẽ được cảm nhận như một quá trình đường thẳng. Thật vậy, đa số sẽ khởi sự với tia thứ nhất, vượt qua một số sáng ngộ ở tầng đó, rồi đi lên tia thứ hai và cứ tiếp tục như vậy. Tuy nhiên khi con đến tia thứ tám, con phải thăng vượt tiến trình đường thẳng này, bởi vì con sẽ không thể hiểu được, không thể hòa điệu được với các tia bí mật qua tâm đường thẳng.

Con yêu dấu, tại sao các thày trong Đại đoàn Thăng thiên lại dạy về sự hiện hữu của những tia gọi là bí mật? Vì nếu các thày thật sự muốn giữ bí mật thì tại sao không im hơi lặng tiếng?

Con thấy đó, các thày có một mục đích khi tiết lộ thông tin là có những tia bí mật vượt quá bảy tia đầu. Tất nhiên về mặt dài hạn, mục đích là các thày không có ý định giữ mãi các tia này bí mật, và lý do các thày vào thời điểm đó đã chưa trao lời dạy đầy đủ hơn là vì, một phần, nhân loại vẫn chưa sẵn sàng cho các khai ngộ của tia bí mật. Phần khác là vì các đệ tử của chân sư thăng thiên cũng chưa sẵn sàng cho việc truyền bá giáo lý về tia bí mật. Con thấy không, con yêu dấu, bằng cách đưa ra một lời bí hiểm, phần nào trêu chọc nếu có thể gọi như vậy, về sự hiện hữu của các tia bí mật – mà thày xin nói ngay là có nhiều hơn năm tia – thì qua lời này các thày đang thử đệ tử của mình.

Phản ứng của đệ tử chính xác là gì khi các thày truyền rải khái niệm về tia bí mật? Họ đáp ứng thế nào? Họ nhìn sự việc ra sao? Một số trở nên tò mò quá đỗi, gần như bị ám ảnh muốn biết tia bí mật là gì, vì họ nghĩ nếu có cách nào họ có thể moi ra bí mật này thì mọi vấn đề của họ sẽ được giải quyết. Họ sẽ nắm được công thức bí mật sẽ cho họ những khả năng trội hơn một đệ tử trung bình và nhờ vậy họ nhảy qua mặt mọi người. Nhưng ai là người, cái gì là cái muốn nhảy qua mặt mọi người chứ? À, chỉ có thể là tự ngã bị kẹt trong nhị nguyên cứ so sánh mình với người khác. 

Cho nên con có thấy sự thử thách cho đệ tử không? Vì thử thách là một quá trình không ngừng, và cũng là lý do tại sao Giê-su bảo rằng người đứng đầu sẽ trở thành người đứng chót và người đứng chót trở thành người đứng đầu. Những ai cho mình là đệ tử cao cấp, rằng mình có khả năng hòa điệu với các tia bí mật, thì họ nghĩ họ có thể biết được gì đó và hiểu được gì đó về các tia này. Và thật như thế, một số đã trở nên gần như ám ảnh về tia bí mật nhưng lại không chịu đi muốt các khai ngộ của bảy tia đầu. Trong khi đó, một số khác tuy nhận được thông tin về tia bí mật đã tập trung chú ý vào việc vượt qua khai ngộ của những tia đã được biết đến công khai, bởi vì suy cho cùng thì đây mới là công việc được đặt ra trước mọi người.

Không ai đã bảo là con phải bắt đầu với khai ngộ của tia bí mật trước khi con đi qua khai ngộ của bảy tia đầu. Và chắc chắn khi không có thông tin nào về tia bí mật được tiết lộ, thì đó phải là một chỉ dấu rõ ràng cho thấy là không một ai – dù mình nghĩ mình đã tiến cao đến chừng nào – đã sẵn sàng cho khai ngộ của tia bí mật. Và như vậy, con yêu dấu, những ai đã tập trung nỗ lực vào các khai ngộ được giao phó – đã đặt trọn tim mình, hồn mình và tâm mình vào công việc này – chính là những người đã vượt lên đầu, là những người sẽ nhận thêm giáo lý về tia bí mật, vì con đã sẵn lòng đương đầu với khái niệm tự ngã cũng như khái niệm khó hiểu và khó nắm bắt về tâm thức nhị nguyên.

1.2. Tự ngã có thể sống sót qua các khai ngộ của bảy tia

Con thấy đó, con rất có thể đi qua khai ngộ của bảy tia sáng mà vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ được tâm thức nhị nguyên. Vẫn có thể còn một ngã tách biệt, một tự ngã, một nhân vật tâm linh đã xoay xở để ngụy trang và lẩn trốn, thích nghi với các điểm đạo của bảy tia đầu.

Chuyện này được phép xảy ra. Bởi vì các thày trong tư cách thày tâm linh, không thể đòi hỏi đệ tử của mình phải sạch hẳn tự ngã. Các thày không thể đòi hỏi một trạng thái toàn hảo, và các thày không đòi hỏi bất cứ trạng thái toàn hảo nào. Cho nên đúng vậy, con được hưởng một thời kỳ có thể gọi là đặc ân khi con đi qua các khai ngộ của bảy tia đầu, qua đó con có thể vẫn còn một yếu tố tự ngã, vẫn còn một vai trò mà con đang đóng. Thậm chí con có thể tạo hẳn một vai trò cho việc tham gia đường tu tâm linh, qua đó con cố tạo dựng một nhân vật toàn hảo, một bộ trang phục toàn hảo, một vai tuồng toàn hảo trong vở kịch ăn khớp hoàn toàn vói môi trường tâm linh đặc thù của con.

Cho nên điều này đã khiến cho một số đệ tử tin rằng họ thuộc về tia thứ năm chẳng hạn – hay “tôi thuộc tia thứ bảy,” “tôi thuộc tia thứ nhất,” hay “tôi là ngọn lửa xanh,” hay “tôi là tình thương” hay điều này điều nọ. Và như thế họ xây dựng một nhân cách tâm linh dường như rất mạnh mẽ trên một tia sáng nào đó, thậm chí có thể là một niềm tự hào rằng mình đang có những đặc tính đó của tia sáng đó.

Giờ đây đệ tử đạt tới mức cần phải bước lên cao hơn và khởi sự cuộc khai ngộ của tia thứ tám. Nhưng như Mẹ Mary có nói trong bài giảng của thày, những gì đã giúp con thành công trong khai ngộ của bốn tia đầu sẽ không đưa con lên tia thứ năm. Con phải từ bỏ cái trớn đó, sự xông lên đó, và hạ mình xuống, quay trở lại giải quyết cho xong mọi thiếu sót.

Đấy, khi con vượt qua khai ngộ ở tia thứ bảy của tự do cũng vậy, để có thể bước vào khai ngộ của tia thứ tám, con sẽ lại phải đi qua một sự hàng phục toàn diện và vô điều kiện. Con không thể chuyển vào khai ngộ của tia thứ tám nếu con còn nhận diện mình như thuộc về một tia nhất định trong số bảy tia đầu. Cho nên bất kể động lượng nào con nghĩ con đã đạt được trên một tia nào đó, thì động lượng này phải hàng phục. Con phải buông bỏ cuộc sống đó để leo lên cao hơn và bước vào khai ngộ của tia thứ tám.

Con yêu dấu, đây là một điều cần thiết tuyệt đối. Vì con thấy không, trong bảy tia đầu con có thể bước lên cao hơn trong khi vẫn còn sót một chút tự ngã mà dường như con có thể che giấu khỏi mắt thày. Tất nhiên, ngược với những gì người ta có thể nghĩ về đường tâm linh, không gì có thể ẩn giấu khỏi các vị thày chân chính. Các thày trong Đại đoàn Thăng thiên vượt cao hơn mọi khía cạnh của tâm thức nhị nguyên, và điều này nghĩa là gì? Có nghĩa là, con yêu dấu, sau khi đã nhìn xuyên thấu mọi khía cạnh của tâm thức nhị nguyên trong chính bản thể mình, tất nhiên các thày cũng có thể nhìn xuyên thấu nhị nguyên trong bản thể con.

Có rất nhiều đệ tử đã rơi vào ảo tưởng mà Giê-su nói đến: “Tại sao họ lại tin rằng những gì họ có thể giấu lẫn nhau cũng giấu được khỏi mắt Thượng đế?” Thậm chí có những người tiếp cận được một vị thày chân chính – dù là một sứ giả hay một đạo sư – nghĩ rằng họ đã giấu được gì đó khỏi mắt đạo sư. Trong một số trường hợp, họ giấu được như vậy là vì đạo sư không nhất thiết nhìn vào mọi chuyện xảy ra trong tâm thức họ, cho nên đệ tử có thể xây dựng một ý niệm tự ngã, một nhân cách nào đó, tưởng rằng nó có thể ăn gian mà vẫn vào được thiên đàng – một cách nào đó nó có thể lẻn vào tiệc cưới mà không mặc áo cưới. Nó tưởng là nó có thể ngụy trang tâm thức nhị nguyên để khoác vào một hình dạng toàn hảo, rập khuôn một số quy chuẩn tâm linh, đến độ Thượng đế phải cho nó vào vương quốc của ngài.

Nhưng con thấy đó, không phải vậy đâu. Tuyệt đối không phải vậy đâu. Con có thể bắt đầu một chu kỳ mới đi qua cả bảy tia sáng một lần nữa, và con vẫn có thể bước trên đường tu tâm linh khi con sẵn lòng đi qua các khai ngộ này. Nhưng có những người không chịu hạ mình xuống đi lại một lần nữa, cho rằng các khai ngộ này quá thấp đối với họ do tất cả những gì họ đã hoàn thành trong việc phụng sự vỏ ngoài, hay tất cả những khai ngộ nội tâm mà họ đã thực hiện trên bảy tia đầu. Và như thế họ bị kẹt lại trong vùng đất hoang nơi họ có thể phô trương đồ đẹp của họ, phô trường các “thành đạt” tâm linh của họ giống như một con công. Tuy nhiên, họ vẫn bị kẹt ở tầng mức đó và sẽ không lên được cao hơn cho đến khi họ chịu buông bỏ một cách vô điều kiện những thành tựu mà họ tưởng đã đạt được trên đường tu để bước vào khai ngộ của tia thứ tám.

1.3. Các khai ngộ của tia thứ tám

Tia thứ tám không dành cho kẻ nhát gan, vì ở tia thứ tám không gì có thể được che giấu. Ngay cả việc nhận biết tia thứ tám là gì, con cũng không thể làm được xuyên qua tâm thức nhị nguyên. Tất nhiên con có thể phóng chiếu một hình ảnh nhị nguyên lên các tia bí mật y như con có thể phóng chiếu một hình ảnh nhị nguyên lên bất cứ gì. Nhưng con sẽ không bắt gặp cho dù một hé thoáng về các tia bí mật xuyên qua phin lọc của tâm thức nhị nguyên. Con hãy lưu ý sự khác biệt vi tế ở đây – con có thể hé thấy bảy tia đầu mặc dù con vẫn còn một số yếu tố tâm thức nhị nguyên. Con có thể, trong một thoáng, nhìn xa hơn tâm thức đó và thấy được đặc tính đích thực của một tia sáng là gì, con có thể hòa điệu với nó. Nhưng con không thể làm chuyện này quá bảy tia, con không thể làm chuyện này với tia thứ tám và cao hơn.

Các tia bí mật có tên là bí mật chính vì đối với những ai trong tâm thức nhị nguyên, chúng sẽ mãi mãi bí mật. Đối với tự ngã, tia bí mật sẽ mãi mãi bí mật. Đối với ông hoàng của thế gian và các thày giả trên thế giới, tia bí mật sẽ mãi mãi bí mật.

Tại sao như vậy, con yêu dấu? À, nếu con vẫn còn một yếu tố tự ngã thì vì lý do gì con vẫn còn tự ngã đó chứ? Con đã bước chân trên đường tu tâm linh từ nhiều kiếp rồi. Suốt nhiều năm trong kiếp này, con đã học hỏi giáo lý, con đã thực hành nhiều pháp tu, con đã tiến bộ thật sự. Thế nhưng vẫn còn một yếu tố tự ngã.

Và tại sao con đã giữ tự ngã này với con? Con yêu dấu – và có thể con không thấy được chuyện này một cách ý thức – nhưng việc giữ tự ngã với con cho con một lợi thế mà con chưa sẵn sàng buông bỏ. Có một điểm lợi gì đó cho cái ta ý thức khi nó giữ tự ngã với nó. Có gì đó mà cái ta ý thức không cần phải làm. Có quyết định nào đó mà cái ta ý thức không cần phải lấy khi tự ngã vẫn còn đây – vì tự ngã sẽ lấy quyết định này giùm cái ta ý thức, hay nó sẽ giúp cái ta ý thức dễ biện minh hơn cho quyết định này. Và như vậy con thấy đó, trên bảy tia đầu có một số đặc tính của mỗi tia sáng mà tự ngã có thể nhận thức như một điểm lợi. Tự ngã có thể nhìn vào một tia đặc thù, phủ một lớp nhị nguyên lên đặc tính của tia sáng, và nó có thể thấy là nó dùng được lớp phủ này để cho nó một lợi thế nhất định.

1.4. Tự ngã nhìn bảy tia đầu như thế nào

Con yêu dấu, các thày đã cho con khái niệm về tâm thức nhị nguyên luôn luôn có hai đối cực nghịch nhau. Vậy hãy để thày cho con một tóm lược ngắn gọn về cách tâm thức nhị nguyên nhìn bảy tia đầu như thế nào.

Tia thứ nhất là tia của ý chí và uy lực. Hiển nhiên ở một đối cực nhị nguyên là những người có một ý chí rất mạnh. Tự ngã có thể thấy là bằng cách củng cố ý chí mạnh mẽ này nơi một đệ tử, nó có thể khiến y làm hầu như bất cứ gì nó muốn nhân danh một lợi ích cao cả nào đó. Do đó con thấy một số người trên đường tu có ý chí mãnh liệt, sẵn sàng bẻ cong ý chí của người khác phải đi theo mình. Họ gia nhập một tổ chức, nghĩ rằng họ biết rõ mọi chuyện phải được tổ chức ra sao, và họ bắt đầu bảo các thành viên kia, hay ngay cả những người lãnh đạo hay sứ giả, đáng lẽ phải làm thế nào trong quá khứ và sẽ phải làm thế nào từ giờ trở đi. Có những người luôn nghĩ là họ biết chuyện hơn, biết hơn cả chân sư thăng thiên, vì họ đã trói chặt vào tâm thức của các sa nhân nguyên thủy vốn nghĩ mình biết rõ hơn cả Thượng đế.

Ở đối cực bên kia là những người không có ý chí gì hết, không muốn lấy quyết định riêng, không muốn lên tiếng về bất cứ gì. Họ chỉ muốn xuôi theo dòng tâm thức đại chúng, kể cả tâm thức đại chúng trong một tổ chức tâm linh. Cho nên trong các tổ chức tâm linh có những người xem mình rất mạnh trên tia thứ nhất, và họ tin đây là một đức tính cần thiết, vì nói cho cùng, phải có người đứng ra lãnh đạo, chỉ thị những ai không muốn lấy quyết định cho riêng mình. Họ sử dụng quyền lực theo cách họ tin là chính đáng, nhưng họ không nhìn ra là họ hoàn toàn xa rời thực tế của tia thứ nhất – tức là có uy lực nhưng không bao giờ lạm dụng, tuyệt đối tôn trọng quyền tự quyết của người khác giống như các chân sư trên mọi tia sáng cũng tuyệt đối tôn trọng quyền tự quyết. Và như vậy, con thấy có mối quan hệ đồng phụ thuộc giữa những người đã tha hóa ý chí và khiến nó trở nên quá mạnh mẽ, với những người tha hóa ý chí bằng cách không muốn lấy bất cứ quyết định nào.

Tương tự như vậy ở tia thứ hai, có những người cho là họ biết mọi chuyện, hiểu mọi chuyện. Họ nghiên cứu học hỏi và có thể bàn hàng giờ về những chi tiết nhỏ nhặt nhất trên đường tu – như thày này nói thế này, thày kia nói thế kia, và mọi chuyện thật sự vận hành ra sao. Song song lại có những người không muốn học hỏi, không muốn hiểu, không muốn biết, nhưng muốn được chỉ bảo phải làm gì. Con tìm thấy những người này ngay cả trong các tổ chức của chân sư thăng thiên, và tất nhiên họ rất đông đảo trong các tôn giáo truyền thống. Họ muốn đi lễ nhà thờ mỗi chủ nhật và phải có mục sư hay linh mục giảng đạo cho họ từ trên bục cao, dạy dỗ họ như thể họ là trẻ con không biết gì.

Và cũng thế ở tia thứ ba của tình thương, có những người đưa tình yêu đến một cực đoan nhị nguyên là tình yêu chiếm hữu, kiểm soát. Họ cho rằng việc kiểm soát rất tốt cho người bị kiểm soát, vì họ biết rõ đâu là điều tốt nhất cho người đó, cho nên nhân danh tình yêu, họ phải kiểm soát người đó. Tất nhiên lại có những người tha hóa tình yêu đến độ họ không thương yêu được bất cứ gì. Và nếu con không yêu gì hết – kể cả chính mình – làm sao con có thể đứng lên bảo vệ bất cứ gì, làm sao con có thể lên tiếng bảo vệ mình?

Ở tia thứ tư của tinh khiết, có những người trở nên vô cùng phán xét. Họ bảo chỉ có những hoạt động này là trong sạch, và những ai kiêng khem không làm những chuyện ô uế kia mới là đệ tử chân chính. Nhưng ở đối cực ngược lại là những người bước vào tu duy mà Giê-su gọi là tư duy xám. Những người này nghĩ: “Ồ, chẳng có gì thật sự quan trọng, chẳng có gì thật sự xấu xa. Không có hình thức âm nhạc nào tệ hơn một hình thức âm nhạc khác. Không có thức ăn nào tệ hơn loại thức ăn khác. Tôi có thể làm bất cứ gì tôi muốn, thật chẳng hề chi.” Và như vậy họ cứ thỏa thích làm bất cứ gì tình cờ đi vào đời họ mà không có chuẩn mực nào hết. Cả hai cực đoan, tất nhiên, đều không nhìn ra sự thật trong lời dạy rằng đối với người trong sạch thì mọi chuyện đều trong sạch. Nhưng câu này không có nghĩa là người trong sạch sẽ buông thả làm bất cứ chuyện gì có mặt trên hành tinh. Họ chỉ không dính mắc thôi. Họ không dùng ý chí vỏ ngoài để dằn lòng kiêng khem các hoạt động đó. Họ không nhất thiết bị khó chịu khi bước vào một nơi công cộng đang chơi một loại nhạc nào đó, nhưng họ cũng không đặc biệt tìm kiếm loại nhạc này. Họ chỉ giản dị bước qua mà không để cho nó dính vào mình.

Xong tất nhiên ở tia thứ năm của sự thật, một lần nữa lại có những người đưa sự thật đến một cực đoan nhị nguyên khi họ tin rằng chỉ có một sự thật duy nhất, hay đúng hơn, chỉ có thể có một cách diễn đạt duy nhất về sự thật. Đây là điều con thấy nơi những ai tin rằng chỉ có một bộ kinh đặc biệt nào đó – cho dù là Kinh thánh, kinh Qur’an, kinh Vệ Đà hay bất cứ bộ kinh nào khác – mới nắm được chân lý. Thậm chí có những người theo giáo lý của chân sư thăng thiên mà tin rằng chỉ có một sứ giả chân chính độc nhất, chỉ có một tổ chức chân chính độc nhất, và có thể nhét các chân sư vào một cái hộp tư duy xinh xắn, và các chân sư đã không truyền giảng cho ai khác trước hay sau tổ chức này. Trong khi đó ở đối cực bên kia là sự tha hóa của sự thật khi người ta bảo: “Ồ, không có gì là sự thật, vì triết lý nào cũng hay ho như triết lý nào.” Hoặc người ta đưa ra quan điểm bất khả tri (agnostic): “Làm sao chúng ta có thể biết cái gì là thật? Không ai có thể chắc chắn được.” Và như vậy một lần nữa, tôn giáo nào cũng tốt như tôn giáo nào, hoặc nữa, tất cả tôn giáo đều sai hết, bởi vì tất cả đều cho mình là đúng và lời tuyên bố này không thể nào đúng cho mọi tôn giáo.

Ở tia thứ sáu của an bình, có những người đưa sự thật đến mức cực đoan, tin rằng an bình chỉ có thể đạt được bằng cách trấn áp mọi quan điểm bất đồng, khống chế mọi khác biệt và cưỡng ép mọi người phải tuân theo lý tưởng mà mình đeo đuổi. Và ở đối cực ngược lại là điều con đã chứng kiến nơi phong trào hippie vào những năm 60, cho rằng mọi thứ đều tốt, rằng chẳng có gì là thật sự quan trọng. Hay như một số người thường nói: “Mọi chuyện tốt hết.” Nhưng nghĩa là gì chứ, con yêu dấu? Mọi chuyện có thể nào tốt hết chăng khi 2/3 nhân loại đang sống dưới mức nghèo đói? Làm sao có thể xem đó là tốt được? Vân vân.

Ngay cả trên tia thứ bảy của tự do cũng có những người làm tha hóa tự do và tin rằng tự do là một điều cần được bảo vệ chống lại mọi kẻ thù của tự do. Tự do này chỉ có thể đảm bảo một khi con tiêu diệt kẻ thù của con, giống như chính quyền Mỹ vừa rồi – chính quyền Bush – tin rằng họ chỉ có thể đảm bảo tự do của nước Mỹ bằng cách tiêu diệt những ai họ dán nhãn là kẻ thù của tự do. Thế nhưng ở phía bên kia của thang điểm, lại có những người cho rằng bất cứ gì cũng ổn thỏa, bất cứ gì cũng tốt thôi. Con có thể làm bất cứ gì con muốn mà vẫn thoát trừng phạt, bởi vì nói cho cùng, sau cuộc đời này thì làm gì có cuộc đời nào khác. Người ta chỉ sống đúng một kiếp, cuộc sống không có mục đích nào cả, và con chỉ là một con thú thông minh. Con có quyền làm bất cứ gì con muốn khi con còn ở đây vì con chỉ có một cơ hội sống mà thôi.

1.5. Sự tha hóa các tia sáng liên hệ thế nào với chữa lành

Cho nên con yêu dấu, 14 dạng tha hóa vừa kể – hai tha hóa cho mỗi tia trong bảy tia sáng – đều có một chức năng đặc thù. Chức năng này chính xác là gì và nó liên quan thế nào với sự chữa lành cá nhân? Con yêu dấu, con thử nhìn chữ “bệnh tật” mà xem [disease trong tiếng Anh là dis-ease, nghĩa gốc là không an lạc, không thoải mái]. Bệnh tật là điều gì kéo con ra khỏi an lạc.

Các thày đã cho con khái niệm Dòng sông sự Sống. Khi con ở trong Dòng sông sự Sống, cuộc sống an lạc thoải mái. Con xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống. Như Giê-su đã nói: “Cha rất vui lòng ban cho con vương quốc.” Khi con tự điều chỉnh để thuận theo sự thật ẩn giấu trong câu nói đó, con dễ dàng xuôi chảy với cuộc sống. Mọi chuyện đến với con một cách dễ dàng, và điều này nghĩa là gì? Nghĩa là con không phải vật lộn. Con không phải vật lộn để đạt được bất cứ gì con thật sự mong muốn, bất cứ gì con thật sự cần đến như một phần trong Sứ vụ Thiêng liêng của con – dù rằng khó mà lòng nói là con cần bất cứ gì, vì Sứ vụ Thiêng liêng không tùy thuộc vào việc con cần gì mà việc con để cho xuôi chảy. 

Và như vậy, cái gì kéo con ra khỏi dòng chảy của Dòng sông sự Sống chính là nguyên nhân của bệnh tật. Cái đó cuối cùng sẽ rỉ xuyên qua ba thể cao của con – bản sắc thể, trí thể, cảm thể – xong nó bắt đầu trào xuống cơ thể vật lý nơi nó tác động đến chính các tế bào, các nguyên tử, thế là giờ đây cơ thể biểu hiện bệnh tật. Vì vậy các thày đã trao truyền một số lời dạy về mối liên hệ giữa các trạng thái tâm thức với bệnh tật. Nhưng con thấy không, nếu con thực sự đào sâu 14 dạng tha hóa mà thày vừa cho con, con sẽ thấy là mỗi chứng bệnh mà nhân loại biết đến dều có thể đặt ở đâu đó trên một trong những thang điểm, ở đâu đó giữa hai đối cực nhị nguyên là những dạng tha hóa của một tia sáng và các đặc tính của tia sáng này.

Tất cả mọi bệnh tật đều có thể đặt ở đâu đó trên dải quang phổ này. Và như vậy con thấy được là kỳ thực, bằng cách vượt qua các khai ngộ của bảy tia sáng đầu tiên – bằng cách thực sự giải quyết các bế tắc, các dính mắc, các tha hóa – thì con có thể chữa lành mọi bệnh tật mà con người biết đến. Như các thày đã nói trong bảy phần truyền giảng đầu, con làm vậy bằng cách thăng vượt chính tâm thức mà bệnh tật trình chiếu ra ngoài. Tuy nhiên, mục đích của thày khi đem lại cho con hiểu biết này là để giúp con nhận ra là các con, những người tâm linh, có thể không đang biểu hiện một chứng bệnh chỉ vì con bị kẹt trong một dạng tha hóa nhị nguyên của một tia sáng đặc thù.

Rất có thể con đang biểu hiện một chứng bệnh vì một lý do sâu xa hơn, cụ thể là để chứng tỏ cho mọi người trên thế giới thấy làm cách nào vượt lên trên, không chỉ một điều kiện nhất định nào đó, mà cả điều kiện rộng lớn của tâm thức nhị nguyên đã tạo ra sự vật lộn của cuộc sống. Điều thày đang giải thích ở đây có thể gọi là hai tầng mức khai ngộ khác nhau. Có rất nhiều người – hầu hết mọi người trên thế giới – vẫn còn ở  một mức tâm thức có thể gọi là học trò. Họ đang học hỏi, họ đang nỗ lực tiến tới xuyên qua khai ngộ bảy tia, và họ có thể mang đủ loại bệnh tật biểu hiện trong cơ thể họ do họ bị kẹt, trong kiếp này hay những kiếp trước, vào một dạng tha hóa đặc thù của một trong bảy tia sáng. Họ không sẵn lòng bước lên cao hơn, buông bỏ dạng tha hóa đó, lời dối đó, dính mắc đó – con muốn gọi là gì cũng được. Và rốt cuộc cái đó thể hiện ra như bệnh tật trong cơ thể vật lý.

Tuy nhiên các con là người tâm linh, các con không ở đây vì là học trò. Các con ở đây vì là thày giáo. Và các con đã đến đây để chứng tỏ cho người khác thấy làm cách nào mình có thể vượt lên trên các điều kiện gây giới hạn nói trên, kể cả bệnh tật vật lý nhưng còn hơn thế, tức là tâm thức đứng đằng sau chứng bệnh, và xa hơn nữa là chính tâm thức phải tranh đấu vật lộn. Cho nên điều con cần nhìn nhận ở đây là một số các con quả thật đã qua được các khai ngộ của bảy tia đầu, nhưng con vẫn biểu hiện một chứng bệnh vì con đã nhận lấy một trạng thái tâm thức cao hơn, là nhiệm vụ giúp mọi người nhìn xa hơn tâm thức nhị nguyên.

1.6. Con ở đây để dạy điều gì?

Vì vậy điều sẽ giúp con hoàn thành sứ vụ của mình chính là con ý thức được tia sáng thứ tám và các tia bí mật tiếp theo, hầu con nhận ra là điều kiện của con – dù là một chứng bệnh vật lý hay một loại hạn chế tâm lý nào đó – cũng nằm trong sứ vụ của con. Nó có thể nằm trong sứ vụ của con theo nhiều cách khác nhau. Ở một đầu, có thể con đã chuốc lấy một căn bệnh để chứng tỏ cách vượt lên trên nó. Nhưng ở đầu kia, có thể con đã chuốc lấy căn bệnh để chứng minh là một người có thể sống một cuộc đời trọn vẹn, hạnh phúc và an bình trong khi phải chịu một điều kiện tưởng chừng sẽ khiến mình mất khả năng sinh hoạt.

Vì xét cho cùng, cơ thể không thể nào hạn chế được Tánh linh trừ khi Tánh linh cho phép cơ thể làm vậy, hay trừ khi Tánh linh quyết định chấp nhận cơ thể như một giới hạn cho sự biểu đạt của mình. Cho nên đây là điểm nơi các con, những người tâm linh hơn – không phải những người bị kẹt trong niềm kiêu hãnh là mình biết hết mọi chuyện, mà ngược lại các con nhận ra là có nhiều điều hơn để biết, các con cảm thấy có gì mình chưa nắm bắt được, chưa nhìn thấy được mà lại rất mong mỏi nhìn thấy – à con yêu dấu, đây là điểm các con có thể được lợi lạc từ sự hiểu biết về tia thứ tám cùng các tia bí mật tiếp theo sau.

Đây chính là lý do tại sao các thày đã quyết định khởi sự tiết lộ thông tin về các tia này, hầu con có thể bắt đầu hòa điệu với chúng và đạt được một góc nhìn khác về đời mình, về sứ mạng của mình, về mục đích của mình khi ở đây – để con có thể đạt tới điểm khi chính con, tức là Tánh linh, được an lạc bất chấp những căn bệnh trong cơ thể muốn tước đi sự an lạc của mình.

1.7. Khai ngộ đặc thù của tia thứ tám

Vậy đâu là khai ngộ ở tia thứ tám? Đó là việc hòa nhập những hiểu biết mà con đã thu thập trên bảy tia đầu. Nhưng chính xác con sẽ hòa nhập những gì? Con đến một điểm eo, nhưng thế nào là một điểm eo, điểm nối?

Đó là điều các nhà khoa học của con gọi là điểm dị biệt. Một điểm dị biệt có thể được hình dung như một cái chấm cực kỳ nhỏ đến mức nó không có bề mặt trong không gian. Con cũng biết là một hình chụp in trên báo được tạo thành từ rất nhiều những cái chấm rất nhỏ, sát nhau đến độ mắt người không thể nhìn thấy. Rất có thể con đã thử nhìn hình chụp trên báo qua kính lúp để cố thấy được từng cái chấm riêng lẻ. Và điều con thấy là mỗi chấm có một diện tích trên mặt giấy – con có thể đo đường kính, chiều rộng của nó.

Nhưng một điểm dị biệt giống như một cái chấm nhỏ vô tận đến độ không có bề mặt. Nghĩa là gì? À con yêu dấu, không có bề mặt trong không gian nghĩa là không có gì để phân chia. Các thày đã cho con khái niệm là con có thể phân chia khoảng cách giữa số 0 và số 1 ra từng khoảng nhỏ càng ngày càng nhỏ hơn, và con có thể cứ tiếp tục chia mãi như vậy. Một điểm dị biệt không ăn nhập gì với khái niệm phân chia mãi mãi.

Một điểm dị biệt được tiếp cận qua một bước nhảy vọt lượng tử, khi con nhận ra là điểm dị biệt không hề có bề mặt cho nên cũng không thể được phân chia. Đối với bảy tia sáng, điều này có nghĩa gì? Có nghĩa là khi con bước theo khai ngộ của bảy tia, con vươn lên cao hơn trong phần dưới của hình số 8, xong con đến điểm eo và con thấy cả bảy tia đi ra từ một điểm dị biệt. Có nghĩa là mặc dù con đã có thể thấy chúng hoàn toàn riêng rẽ, nhất là ở các tầng thấp hơn trên đường tu, thì giờ đây con thấy chúng xuất phát từ cùng một nguồn. Chúng khởi lên từ một điểm dị biệt.

Ngay cả bảo rằng chúng xuất phát từ ánh sáng trắng cũng không đúng, như khi con thấy ánh sáng trắng được lăng kính chia ra thành nhiều màu sắc của cầu vồng. Bởi vì màu trắng vẫn là một màu. Không, con ạ, chúng xuất phát từ một điểm dị biệt không có đặc tính, không có hình tướng. Và điểm dị biệt này chính là Lời, là Phật tánh. Đó là một thứ không có bề mặt trong không gian và vì vậy không thể được phân chia. Vì không thể phân chia nên nó không thể mang vào một hình tướng hay những đặc tính phân biệt nó với một thứ khác. Chính vì vậy mà mọi thứ là Phật tánh. Chính vì vậy mà không có Lời thì chẳng có gì được tạo thành.

Đây là điểm xoay chuyển, là sự xoay chuyển tâm thức chấn động mà con đạt đến ở tia thứ tám, khi con nhìn nhận là cả bảy tia đi ra từ cùng một chất liệu – Phật tánh, Lời, tâm thức Ki-tô, con muôn gọi thế nào cũng được. Và như vậy thì ảo tưởng tách biệt là đúng vậy đó – một ảo tưởng. Và khi con nhận ra tất cả mọi thứ trong thế giới hình tướng được tạo thành từ sự tương tác giữa bảy tia, xong con thấy cả bảy tia đều đến từ một chất duy nhất, thì mọi thứ trong thế giới hình tướng phải đi ra từ một chất duy nhất. Và do đó ở cùng cực, mọi sự phân chia đều không thực.

Thế thì con bắt đầu nhìn thấy những gì Phật nhìn thấy. Không phải vì Phật thấy mọi chuyện là Phật tánh thì Phật sẽ nhìn thế gian và nói: “Mọi chuyện đều tốt hết.” Không đâu, Phật nhìn với con mắt phân biện biết rõ cái gì an lạc và cái gì không an lạc – bệnh tật. Vì bất cứ gì khởi lên từ ảo tưởng tách biệt, bất cứ gì có thể đặt lên cùng thang điểm với hai đối cực nhị nguyên, bất cứ gì tách biệt khỏi dòng chảy của Dòng sông sự Sống, thì cái đó là bệnh tật.

Khi con rơi vào trong đó thì nó chỉ có thể kéo con ra khỏi an lạc. Con được ban cho quyền tự quyết, như các thày đã giảng trong các bài trước. Con có quyền tuyệt đối tạo dựng cho mình bất cứ trải nghiệm nào con mong muốn. Và trong một khuôn khổ khá rộng rãi về thời gian lẫn không gian, con có thể tiếp tục có trải nghiệm này bao lâu cũng được cho đến khi con nhàm chán. Chỉ có con mới có thể quyết định khi nào đủ là đủ.

Nhưng cái bẫy, tất nhiên, là một khi con tạo ra một trải nghiệm dựa trên tâm thức nhị nguyên thì con cũng trải nghiệm điều kiện đó, hoàn cảnh đó, xuyên qua phin lọc của tâm thức nhị nguyên. Có nghĩa là con chỉ có thể thấy nó theo một cách nhị nguyên. Có nghĩa là sẽ có cái gì đó chống lại điều kiện của con, trạng thái tâm con, cho nên bắt buộc cuộc sống phải biến thành vật lộn. Đây chính là ý nghĩa đích thực về Tứ diệu đế cùng với khái niệm rằng cuộc sống là đau khổ. Cuộc sống được trải nghiệm qua phin lọc nhị nguyên là đau khổ, vì cài sẵn trong trạng thái tâm thức nhị nguyên là cuộc vật lộn không bao giờ ngưng nghỉ. Nó sẽ không bao giờ ngưng nghỉ chừng nào con còn nhìn thế giới, chừng nào con còn trải nghiệm thế giới, xuyên qua phin lọc đó.

1.8. Hãy biết con là HƠN NỮA

Vì vậy ở tia thứ tám, con phải đạt tới điểm nhìn thấy trọn vẹn con là nhiều hơn bất kỳ trải nghiệm nào mà con đã có hay có thể có trong thế giới hình tướng. Con là một Tánh linh bất diệt. Con là cái các thày đã gọi là cái ta ý thức, như một phần nối dài của Bản thể Đấng Sáng tạo.

Làm sao con sẽ có thể hòa nhập sự hiểu biết và thành tựu mà con đã thu hoạch trên bảy tia đầu nếu con không đạt tới điểm ngộ ra là cái ta thực của con, cốt lõi của bản sắc con, cái Ta Biết của con khởi lên từ điểm dị biệt đó, và nhờ vậy nó mang tiềm năng khuếch trương vượt xa tầm nhìn địa phương mà con đã có cho tới giờ?

Con sẽ học được gì ở tia thứ tám khi con hòa nhập bảy tia đầu? Con thấy đó, qua bảy tia đầu con đã nhìn cuộc sống xuyên qua lăng kính của một tia đặc thù và các đặc tính của nó. Nhưng ở tia thứ tám, con bước lui lại khỏi cả bảy và con nhìn thấy bức tranh rộng lớn. Viễn quan rộng lớn. Con thấy thực tại bao trùm toàn bộ tấm thảm của cuộc sống, của hơi thở vào và hơi thở ra của Thượng đế, của các chu kỳ vũ trụ, của mục đích cao rộng trong việc tăng trưởng tự nhận biết, là mục đích duy nhất đằng sau thế giới hình tướng.

Và giờ đây con thấy lý do thật sự tại sao con ở đây, trong tư cách một sinh thể trưởng thành về mặt tâm linh, là để giúp đánh thức loài người thức dậy trong viễn quan rộng lớn này. Giúp họ nhìn ra cuộc sống là nhiều hơn, rằng có một cách khác ngoài sự vật lộn, một trạng thái tâm thức khác hơn. Và giờ đây con có thể bắt đầu thấy được, theo cách Giê-su diễn tả, sự cần thiết từ bỏ đời sống của mình cho một người bạn. Bởi vì con mang trong con tình thương rộng lớn đã khiến con sẵn lòng bước vào hiện thân – hay có lẽ trở về hiện thân sau khi đã hội đủ điều kiện thăng thiên, và một phần của con đã thăng thiên nhưng con lại quay trở về như cái ta ý thức mà con là.

Và như vậy con đã đến đây để chứng tỏ qua tấm gương của mình làm cách nào để là HƠN NỮA, làm thế nào để an lạc trong Dòng sông sự Sống, làm thế nào để xuôi chảy thay vì chống cự ngược dòng. Có rất nhiều chứng bệnh khác nhau, nhưng vượt trên mọi chứng bệnh đặc thù là căn bệnh bao quát – sự không an lạc khi con nhìn cuộc sống như một cuộc giao tranh mà cứ đinh ninh là không thể có cách sống nào khác. Nếu ai ai cũng giao tranh thì làm sao biết được có một cách tốt hơn, làm sao biết được là có gì HƠN NỮA, trừ khi có ai đó bước vào hiện thân và chứng tỏ rằng HƠN NỮA là một con đường mà người ta không thể làm ngơ, không thể phủ nhận? Vì chính con đang chứng tỏ quá rõ ràng đến độ một số người sẽ hiểu.

Con yêu dấu, thày kết thúc bài giảng này ở đây, một bài giảng tiếp nối theo lời dạy của các thày về sự chữa lành. [Ở điểm này, Gautama trao một số lời dạy không liên hệ, sau đó thày kết luận] Với lời này, thày đã giảng xong, nhưng thày sẽ lại nói chuyện với con vào ngày mai, và chúng ta sẽ bắt đầu nói về tia sáng được biết đến trước đây như tia sáng bí mật thứ nhất, nhưng kể từ nay sẽ được biết đến như tia thứ chín, con yêu dấu. Thày chúc con một buổi tối an vui.

Tia thứ Ba: Con luôn luôn xứng đáng nhận tình thương

Bài truyền đọc do Đại thiên thần Charity cùng với Paul người Venice, ngày 18/4/2009, qua trung gian Kim Michaels.

“Và dù ta nói với giọng của con người và của thiên thần, nhưng nếu không có lòng từ thiện, thì ta không là gì cả.” Con yêu dấu, những lời trên đáng suy ngẫm. Các con mới nghe một bản nhạc truyền đạt sự hùng vĩ của sự rung động của đại thiên thần. TA LÀ Charity (Từ thiện). Các con yêu dấu, thày đến đây để cho các con ý niệm từ thiện thực sự là gì.

Thực sự thì từ thiện không hẳn là chữ đúng, nhưng vì ngôn ngữ có giới hạn nên không có một từ nào bày tỏ một cách đúng đắn rung động đằng sau nó. Các con, dùng ngôn ngữ và sự hiểu biết của mình, có thể tìm ra một từ thích hợp hơn, và đúng thực, đó là “vô điều kiện tánh”. Đây là sự rung động được bày tỏ qua Tia thứ Ba, bình thường được gọi là Tia thứ Ba của Tình thương.

Tình thương, như nhiều từ khác, với thời gian đã mang một lớp vỏ nhị nguyên khiến nó trở nên hầu như vô dụng. Do đó, tình thương vô điều kiện, lẽ dĩ nhiên là một khái niệm thích hợp hơn. Nhưng tại sao không chỉ giản dị gọi là vô điều kiện tánh?

Dòng Sông sự Sống là gì? Nó là sự biểu lộ vô điều kiện của bất cứ đặc tính nào của Thượng đế. Không ai có thể nào tiến xa hơn trên con đường tâm linh mà không thực sự hòa điệu với sự rung động của vô điều kiện tánh – giống như con đã nghe thày Lanto giảng, hòa điều với sự rung động của minh triết.

Có rất nhiều người trong các phong trào tâm linh và tôn giáo hiểu được nhu cầu vươn lên trên lòng ích kỷ, tính vị kỷ và các hình thức biểu lộ thấp khác. Điều mà họ tìm cầu là hòa điệu với sự rung động của tình thương, nhưng đó là tình thương nhị nguyên là đối cực của sợ hãi, giận dữ, hận thù. Lẽ đương nhiên tình thương, theo nghĩa thiêng liêng, không có đối cực vì nếu nó có đối cực thì nó đã không thiêng liêng.

Như Chân sư MORE đã nói, sa nhân có ảo tưởng vĩ đại là họ đang chống đối Thượng đế. Ta chỉ có thể chống đối cái gì thuộc cõi nhị nguyên, do đó họ chỉ chống đối một hình ảnh khô chết của Thượng đế. Nhiều người không chống đối gì cả nhưng họ muốn đi vào tình thương. Nhưng nếu con muốn hòa điệu với một hình ảnh khô chết, thì làm sao con có thể chạm được tình thương thật sự? Như thày Lanto đã giải thích, điều này không thể xảy ra được.

7.1. Con hãy suy ngẫm vô điều kiện tánh

Do đó, ta cần suy ngẫm về vô điều kiện tánh. Vô điều kiện tánh. Đó thực sự là lý do vì sao các thày đã trao truyền khái niệm rằng ở một mức nào đó của con đường tâm linh, con cần ngưng ý muốn thay đổi chính mình. Cách duy nhất để vượt qua ảo tưởng cuối cùng của cái ta tách biệt là chấp nhận chính mình – một cách vô điều kiện – như gì con là.

Khi các thày giảng về hai tia đầu, con đã nghe về nhu cầu làm bước chuyển vọt này. Thày, cùng với thày Paul người Venice, tới đây để cho con tầm nhìn của Tia thứ Ba.

Làm sao con có thể tiến lên Tia thứ Tư của tinh khiết nếu con không hòa điệu với vô điều kiện tánh? Phải chăng chính điều kiện đã biểu hiện bợn nhơ trong tâm và thân thể con – ngay cả trong thân vật lý của trái đất, mà ta có thể thấy qua bao nhiêu sự bất quân bằng và thiên tai trong môi trường thiên nhiên?

Một lần nữa, không có công thức bí mật hay thần bí nào có tác dụng tự động. Khái niệm con không thể và không xứng đáng biểu lộ tình thương, khái niệm đó chính là vấn đề.

Tình thương là một lực vô điều kiện muốn được biểu lộ. Con không cần làm gì để trở thành cánh cửa mở cho vô điều kiện tánh biểu lộ. Có điều kiện nào mà con cần hội đủ chăng để biểu lộ cái vô điều kiện – tình thương vô điều kiện tự nó tuôn chảy và tuôn chảy và thăng vượt và tăng triển và biểu lộ, bất kể điều kiện như thế nào?

Một lần nữa, con có thấy chăng là điều này không thể xảy ra, điều này hoàn toàn phi lý và chỉ có cái ta tách biệt mới có thể tin như vậy? Con hơn cái ta tách biệt. Khi con còn nắm chặt khái niệm là con cần tới một trạng thái toàn hảo nào đó – trước khi con xứng đáng và có khả năng nhận lãnh tình thương của Thượng đế tuôn chảy xuyên qua con – khi con còn thấy mình tách biệt với dòng chảy của tình thương, thì tình thương không thể tuôn chảy. Nó sẽ không chấp nhận bất cứ điều kiện nào.

Con có quyền chấp nhận điều kiện cho chính mình. Nhưng con đừng rơi vào cạm bẫy của tâm thức vi tế của những sinh thể đã hoàn toàn tự đồng hóa với tâm thức nhị nguyên, và do đó đã cao ngạo tin rằng họ đang là một đối cực chống lại Thượng đế. Con không thể hạn chế Thượng đế, con không thể hạn chế tình thương, con không thể hạn chế sự biểu hiện của tình thương.

Hoặc con để nó tuôn chảy, hay nó sẽ tuôn chảy vòng quanh con. Không thể có cái gì ở giữa. Con có thể nghĩ có cái gì ở giữa, vì con người từ rất lâu đã tạo ra hình ảnh nhị nguyên, tương đối của tình thương, như là đối cực của hận thù, giận dữ, sợ hãi v.v.. Một số người đã trở nên thiện nghệ trong việc tạo một bề ngoài thương yêu và nhân từ.

Con có thể thấy ở nhiều nơi, ngay cả ở trung tâm chữa lành này, là có một số người đã rất thiện nghệ trong việc tạo một hình ảnh, như người đại diện một tổ chức thế gian. Hoặc con có thể tìm tới những người khiêm tốn suốt ngày đứng giúp người khác bước qua vũng nước chữa lành, và con có thể tìm thấy nơi họ một biểu lộ tình thương không gượng dối, không điều kiện. Biểu lộ này được tảy rửa trong ước muốn giúp người khác.

7.2. Khắc phục nỗi sợ bị ruồng bỏ

Tình thương không muốn sở hữu. Khi nó không muốn sở hữu, thì cũng có nghĩa nó không cần được đền đáp. Con hãy xem xét nỗi sợ biểu lộ tình thương vì sợ bị ruồng bỏ. Khi con có nỗi sợ bị ruồng bỏ, thì con chưa hòa điệu với sự rung động của vô điều kiện tánh. Khi tình thương được biểu lộ vô điều kiện, thì làm sao con có thể sợ bị ruồng bỏ?

Làm sao tình thương vô điều kiện có thể bị ruồng bỏ? Tình thương vô điều kiện tự nó đầy đủ. Nó vui sướng khi chỉ đơn giản được biểu lộ, khi nó tự biểu lộ, khi nó tuôn chảy.

Khi con nghĩ con phải biểu lộ tình thương cho một người mà thôi – và con muốn tình thương đó được người đó đón nhận, ngay cả là được đón nhận một cách nào đó – thì con đang không ở trong dòng chảy của tình thương vô điều kiện. Con đang hòa điệu với rung động thấp của tình thương có điều kiện. Con vẫn có thể có tình thương đối với một người khác, con vẫn có ý muốn biểu lộ tình thương đó, nhưng con chưa đạt tới tiềm năng cao nhất. Con sợ bị ruồng bỏ, hay con muốn sở hữu, hay được đền đáp một cách nào đó.

Khi con nghĩ con cần điều gì từ một người khác hay từ nguồn nào đó trong vũ trụ vật chất, thì con cảm thấy thiếu thốn. Con có tâm thức thiếu hụt. Con nghĩ con thiếu điều gì, và người nào khác phải tới để lấp đi sự thiếu hụt đó, lấp đi lỗ hổng đó, để con có thể trọn vẹn. Đó là một ảo tưởng.

Ngay cả khái niệm ngọn lửa song sinh – tức là có một người là ngọn lửa song sinh của con và do đó ngọn lửa song sinh đó là tình thương toàn hảo có thể khiến con trọn vẹn – đó cũng không phải là mức hiểu biết cao nhất. Ngọn lửa song sinh tâm linh thực sự của con là cái ta cao của con, là Hiện diện TA LÀ của con. Chỉ khi nào con hợp nhất với thì con mới đầy đủ, mới trọn vẹn.

7.3. Vô điều kiện tánh và sự chữa lành

Những điều trên soi sáng ra sao khái niệm chữa lành? Nó có nghĩa là con không thể tự chữa lành khi còn trong tâm thức cho rằng mình cần chữa lành. Con không thể trở nên trọn vẹn với tâm thức thấy mình không trọn vẹn.

Cách duy nhất để thoát ra khỏi thế tiến thoái lưỡng nan này là thăng vượt ảo tưởng là con không trọn vẹn. Điều này thoạt nghe giống như một thế tiến thoái lưỡng nan khác. Làm sao con có thể thăng vượt ảo tưởng mình không trọn vẹn khi mình đang cảm thấy mình không trọn vẹn?

Nhưng sự thực là con có thể làm được – khi con nhận ra sự kiện con là ai. Con là một sinh thể có tự nhận biết, và như Chân sư MORE đã giảng, con đã được ban cho quyền tự quyết hoàn toàn. Con có tự do sáng tạo mọi trải nghiệm mà con mong muốn trải nghiệm. Làm sao con tạo ra một trải nghiệm? Bằng cách khoác vào một bộ y phục, một vai trò, và nghĩ: “Đây là người TA LÀ”. Như các thày đã giảng, dù con có đồng hóa mình với ý niệm bản sắc tách biệt đó biết bao nhiêu chăng nữa, thì con vẫn là gì con là.

Con có tiềm năng nhận ra và thừa nhận con là ai. Con có tiềm năng nói: “Không phải là một lực bên ngoài – đây có thể là rắn, hay lực bên ngoài nào khác, cũng có thể là Thượng đế vỏ ngoài muốn trừng phạt tôi – đã khiến tôi rơi vào cảm nhận mình không trọn vẹn. Đó là kết quả của một số chọn lựa mà tôi đã lấy.”

Khi con nhận ra chính con đã chọn lựa rơi vào cảm nhận không trọn vẹn, thì điều hợp lý là con có quyền năng thay đổi những chọn lựa đó. Con có thể thay đổi chúng bằng chọn lựa khác đem con trở lại với trọn vẹn, hay đúng hơn, mang con ra khỏi ảo tưởng là con đã tách biệt khỏi sự trọn vẹn. Vì đúng thực, làm sao con có thể tách biệt khỏi cái vô điều kiện?

“Vô điều kiện” có nghĩa là có mặt khắp nơi. Con không thể tìm ra một chỗ nơi đó tình thương vô điều kiện của Thượng đế vắng mặt. Điều này không thể có được.

Con giống như con cá chối bỏ nó đang ướt. Thày cũng biết là loài cá thường được coi là không thông minh, nhưng tuy thế, con cũng thấy nếu một con cá nghĩ như vậy thì thật là lếu láo.

Lẽ dĩ nhiên, con nhận ra là tự ngã không khôn ngoan lắm – tuy nó nghĩ nó khôn ngoan, tuy có người nghĩ nó khôn ngoan. Đúng thực là con có thể, như một số người đã làm, man trá tạo cho mình một đia vị khiến nhiều người trong thế gian coi tự ngã của con khôn ngoan hay xuất sắc một lối nào đó. Tuy thế, khi con có thể bắt đầu cười tự ngã, thì con đã bắt đầu tách ra khỏi nó.

7.4. Vô điều kiện tánh trong quan hệ con người

Đúng thực là có nhu cầu nhìn nhận tình thương không phải là tình yêu lứa đôi trịnh trọng mà con thấy mô tả trong phim, kịch, sách hay tranh vẽ. Con yêu dấu, ta không nên nhìn tình thương với thái độ trịnh trọng.

Nếu con coi tình thương trịnh trọng, thì đó chỉ có thể là tình thương có điều kiện. Khi con hòa điệu với tình thương vô điều kiện của Thượng đế, con chỉ đơn giản trôi theo Dòng Sông sự Sống. Do đó, con chỉ cảm thấy vui mừng.

Con hãy xem xét tình cảnh con nghĩ con thương yêu một người khác, nhưng con không cảm thấy vui mừng. Con cảm thấy căng thẳng, con sợ bị ruồng bỏ, hay con cảm thấy người kia phải thương con trở lại và phải cư xử một cách nào đó. Con thực sự đang tìm cách – nếu con thành thật với chính mình – giới hạn người kia thay vì cho người kia tự do. Con có thấy chăng là tình thương vô điều kiện không bao giờ tìm cách giới hạn ai cả, mà chỉ muốn tất cả mọi người trở nên HƠN NỮA, và tự do trôi theo Dòng Sông sự Sống? Vậy làm sao con có thể tạo trong tâm hình ảnh là chỉ có một người duy nhất trên trái đất xứng đáng được nhận lãnh tình yêu của con, và con nhất định tình yêu này phải được đáp trả? Nếu không được vậy thì con rơi vào trạng thái kịch cỡm mà con thấy trong các vở kịch là con muốn chết thay vì bị ruồng bỏ. Con có thấy sự hài hước trong đó chăng? Đây đúng là một màn trong một hài kịch thiêng liêng, như người xưa nói, tuy đây không phải là sự thiêng liêng thực sự mà chỉ là một hình ảnh của sự thiêng liêng do con người tạo ra.

Con hãy cười sự trịnh trọng của mình khi con nghĩ tới tình yêu. Con hãy trút bỏ bộ áo diễn kịch của vai trò người tình trịnh trọng. Con hãy đơn giản trút bỏ nó! Con hãy trở nên người tình vui vẻ vì con nhận ra con là người yêu dấu của một người tình vĩ đại, là Người Tình Thiêng liêng thương yêu con như người yêu dấu của ngài.

Đúng thực là cái ta cao của con, Hiện diện TA LÀ của con, chính là Người Tình Thiêng liêng của con, thương yêu con như người con yêu dấu duy nhất. Nếu con muốn nhận được tình yêu cho chính cá nhân mình, con đừng nên tìm nơi một người khác vì không ai cho con được. Con hãy tìm nơi cái ta cao của con. Con hãy đầy đủ trong tình yêu đó.

Lúc đó con có thể, khi con đã hoàn toàn chào đón và chấp nhận sự đầy đủ đó, tiến thêm bước nữa và nhập một với dòng chảy của tình thương. Qua đó, con trở thành một với Người Tình Thiêng liêng, và nay con trở thành Người Tình Thiêng liêng đang hiện thân – là cánh cửa mở cho dòng chảy của tình thương. Con là cánh cửa mở cho lực thương yêu mọi sự sống và tìm cách nâng cao mọi sự sống. Lúc đó làm sao con có thể rơi vào cạm bẫy của ảo tưởng cho rằng tình yêu của con phải chuyên chú vào một người mà thôi?

Có phải chăng là thày đang nói là con không thể có môt quan hệ thương yêu giữa một người nam và một người nữ? Không, thày không nói vậy. Thày chỉ nói là con sẽ không bao giờ có một quan hệ thành công, một quan hệ thể hiện được tiềm năng cao nhất của nó, nếu con không tự giải thoát khỏi lớp vỏ của điều kiện tánh – và qua đó con cũng giải thoát người bạn đường của con. Quan hệ của con trở nên một quan hệ vui vẻ, vui đùa, tuôn chảy không bị gò bó bởi giới hạn, điều kiện, mong chờ, lên án, và cảm nhận tình yêu không được đáp trả.

7.5. Vì sao con muốn lên thiên đàng?

Như Chân sư MORE có nói, nếu cách con sống đời tâm linh không dựa trên sự vui mừng, thì tâm linh đâu có nghĩa lý gì? Vì sao con muốn lên thiên đàng nếu con nghĩ thiên đàng sẽ khiến con khổ sở? Vì sao con lại muốn có một quan hệ tình yêu nếu con nghĩ nó sẽ khiến con khổ sở?

Con hãy thay đổi nhận thức của mình. Con hãy bước ra ngoài điều kiện tánh và chào đón vô điều kiện tánh. Con có cảm thấy là con không thể buông bỏ tình yêu đối với một người nào đó? Đó chính là một điều kiện. Nếu con còn bám chặt nó, thì con sẽ khổ sở và có thể con cũng khiến người kia khổ sở luôn.

Lẽ dĩ nhiên, thày là biểu hiện của tình thương vô điều kiện của Thượng đế và thày thương yêu con vô điều kiện – dù con chọn muốn mình khổ sở. Tình thương của thày không có điều kiện, và do đó con sẽ nhận tình thương đó bất kể con nghĩ gì về chính mình. Dù con có nghĩ – vì điều gì con đã làm hay đã không làm – là con không xứng đáng nhận tình thương của thày, nhưng không phải vậy.

Nếu con không thể buông bỏ cảm nhận mình không xứng đáng – nếu con đã học pháp, đã đọc các bài nguyện, hay đã thực tập thiền hay các hình thức thực tập tâm linh khác mà vẫn cảm thấy bị kẹt trong một điều kiện nào đó – thì con có một chọn lựa cuối. Con hãy ngưng tìm cách thoát ra khỏi điều kiện, con hãy chào đón nó.

Chuyện gì xảy ra khi con đi vào một trạng thái rung động thấp, khi con chấp nhận một điều kiện nào đó? Con chấp nhận rằng, vì điều kiện đó, con không thể để cho tình thương tuôn chảy tự do và vô điều kiện. Nó phải được biểu hiện hay không được biểu hiện tùy theo một tiêu chuẩn nào đó. Đó chính là điều khiến con cảm thấy không trọn vẹn. Con khóa dòng chảy từ thể cao của con, dòng chảy của vô điều kiện tánh chảy xuống từ Hiện diện TA LÀ của con đang tìm cách nâng mọi sự sống lên. Đó chính là lý do vì sao con cảm thấy khổ sở. Con cảm thấy, vì điều kiện này hay điều kiện kia, con không thể thương yêu.

Do đó, con hãy thương yêu điều kiện đang khiến con nghĩ con không thể thương yêu. Con hãy thương yêu cảm nhận mình đang khổ sở. Nếu con có thể thương yêu điều mà nhiều người cho là không thể thương yêu, thì con không còn tách biệt với dòng chảy của tình thương. Chắc hẳn là một ngày nào đó, con sẽ thức tỉnh và nói: “Hay quá, tôi không còn khổ sở nữa.” Lúc đó, con hãy đi theo niềm hân hoan của mình.

7.6. Hãy nghĩ tới việc sử dụng uy lực của âm nhạc

Các thày, là đại diện của Tia thứ Ba, muốn lưu ý con về uy lực của âm nhạc. Hầu hết các con đã nhận ra là, trong suốt cuộc đời mình, có những bản nhạc nâng cao tâm hồn mình và giúp mình hòa điệu. Có thể là con không nhận ra điều này với tâm vỏ ngoài, nhưng các bài nhạc đó đã giúp con hòa điệu với một rung động bên ngoài tâm thức bình thường của con, qua đó giúp con hoà điệu với một rung động vượt quá điều kiện của con. Nếu con cảm thấy tâm hồn bay bổng qua âm nhạc, thì con hãy dùng âm nhạc. Con hãy tìm loại nhạc nâng tâm hồn con lên vì nó biểu lộ dòng chảy của Dòng Sông sự Sống.

Con đừng chỉ nghe những khúc nhạc đó khi con lái xe, rửa chén hay làm những việc tay chân khác. Con hãy thỉnh thoảng vào một căn phòng nơi con có thể ở một mình và không bị quấy rầy. Con hãy bắt đầu bản nhạc, tắt đèn, nằm xuống giường sao cho chỉ có tối thiểu trọng lực kéo thân thể con xuống. Sau đó con cho phép âm nhạc đưa con theo dòng chảy của nó cho tới khi con nhận ra mình tới không gian thiêng liêng của vô điều kiện tánh. Con bỗng nhiên nghe thấy đằng sau bài nhạc âm thanh của chính sự sống. Con yêu dấu, khi con nghe âm thanh đó, tiếng ngân của vũ trụ, con sẽ có được, một lần nữa, một sự đồng-đo lường, một trải nghiệm của tình thương thực sự khi nó vô điều kiện.

Con có thể dùng trải nghiệm này để có một cái nhìn khác về cuộc đời và thấy là điều kiện tánh lấy đi cảm giác nổi lềnh bềnh khi không có điều gì lôi kéo con về một điều kiện nào đó, một vai trò và bộ y phục trong màn kịch của vũ trụ vật chất. Đây không phải là trốn tránh – khi con dùng nó không để trốn chạy các vấn đề mà con đang phải đương đầu. Con dùng nó để có một tầm nhìn khác về các vấn đề của mình, để con nhận ra con không một với vấn đề. Con hơn nữa, vì con đã trải nghiệm là con hơn nữa.

Con có nghĩ chăng là người yêu kịch nghệ mà thày nói tới có thể nổi lềnh bềnh trong không gian kỳ diệu? Không đâu, vì y quá chìm đắm trong chính mình và các điều kiện của y, và không thể buông bỏ chúng. Nhưng con thì con có thể! Cái ta thật của con có thể trải nghiệm vô điều kiện tánh. Chỉ khi nào con đã trải nghiệm , thì con mới thật sự biết là có cái gì bên ngoài thế giới điều kiện. Chỉ khi nào con biết nó, thì con mới có thể tiến lên bước tới là nhập một với nó. Lúc đó con thấy mình trước tiên là đối tượng của tình thương của Người Tình Thiêng liêng, sau đó con nhập một với Người Tình Thiêng liêng và con thấy – con là cánh cửa mở của – tình thương muốn được biểu lộ đối với mọi sự sống. Đây là chìa khóa để vượt qua ý niệm tình thương giả, tình thương có điều kiện.

7.7. Thân thể không phải là kẻ thù của con

Con không thể giản dị ép mình phải thương yêu một người hay thương yêu căn bệnh của mình, hay ép tình thương của mình biểu lộ cách nào khác. Con chỉ có thể hòa điệu với trạng thái vô điều kiện và để nó tuôn chảy – để nó tuôn chảy.

Con yêu dấu, điều này nghĩa là gì? Khi con nghĩ về nó một cách trung thực, con sẽ thấy là có rất nhiều chuyện trên thế gian mà con không muốn thấy, con co rút lại trước chúng, con rút lui khỏi chúng, con mong muốn chúng không hiện hữu. Chắc chắn đây là điều hiểu được, khi ta thấy tình trạng của thế giới.

Tuy nhiên, thực tế là khi có điều gì con không muốn thấy, thì con nghĩ, con cảm thấy, con có cảm giác là con không thể biểu lộ tình thương với cái đó. Con cảm thấy là cái đó không xứng đáng được thương yêu. Con phải là vị quan tòa và phải giữ lại tình thương để nó không tuôn chảy qua con tới điều kiện đó hay người đó hay nhóm người thuộc tôn giáo hay chủng tộc đó, hay bất cứ cái gì khác phân chia con người.

Khi con bắt đầu khóa dòng chảy của tình thương, thì chuyện gì đương nhiên sẽ xảy ra? Con người của con, thể thấp của con, trở thành một hệ thống khép kín. Khi đặc tính này lan qua bốn thể phàm của con và tới thể vật lý, thì con bị bệnh.

Lúc đó con nghĩ là thân thể của con đang chống đối lại con. Con sợ không dám nhìn vào tình trạng thân thể, con mong muốn không thấy nó, con muốn chạy trốn nó, như thày Lanto đã giảng. Con nghĩ con không thể nào thương yêu điều đang tàn phá thân thể của con.

Con đang làm gì trong tiến trình này? Con đang nói là những tế bào bị ung thư, con không thể thương yêu chúng. Nhưng các tế bào này đang làm gì? Chúng đang trải bày một trạng thái tâm thức đã khiến con khóa dòng chảy của tình thương. Khi con nói là con không thể thương yêu các tế bào đang trải bày tâm thức đó, thì làm sao các tế bào đó có thể giải thoát chúng khỏi bệnh trạng đó?

Con phải nhận ra là tế bào không có sự tự nhận biết giống như con. Chúng chỉ có thể trải bày những gì được phóng chiếu lên chúng. Khi con phóng chiếu một hình ảnh không thương yêu khiến chúng mang một bệnh – hoặc bệnh ung thư hay bệnh nào khác – và sau đó con củng cố thêm bằng cách phóng chiếu hình ảnh khác là các tế bào đó phải bị tiêu diệt và bứng ra khỏi thân thể con – vì con không thương yêu chúng, có thể con tức giận hay thù hận chúng – thì làm sao các tế bào đó thoát được hai gánh nặng mà con đặt lên chúng?

Con là người duy nhất có thể phá được vòng lẩn quẩn đó. Con làm điều này bằng cách nhận ra là chính sự thiếu thốn tình thương đã khiến các tế bào của con trải bày thành căn bệnh. Cách chữa lành thật sự duy nhất là tái lập dòng chảy của tình thương – và con phải là người làm công việc tái lập đó. Con yêu dấu, con không cần phải thương yêu căn bệnh. Nhưng con cần thương yêu các tế bào để con thương yêu chúng thoát căn bệnh – thoát để tự do phơi bày trạng thái cao hơn của sự duy nhất, của sự khỏe mạnh toàn hảo.

Như thày Lanto đã giảng, ta có thể thấy minh triết ở khắp nơi. Có minh triết trong các tế bào của con. Chúng không có tự nhận biết, nhưng chúng có minh triết của Mẹ Thiêng liêng biết cách thể hiện sức khỏe toàn hảo – nếu chúng được phép trải bày đặc tính bên trong chúng. Có phải chăng là Thượng đế đã viết luật của ngài lên tạng phủ của con? Khi con thương yêu các tế bào tự do, chúng sẽ biết cách rũ bỏ bệnh ung thư hay các chứng bệnh khác và trải bày tình trạng khỏe mạnh tự nhiên của chúng.

7.8. Tình thương của thày lúc nào cũng sẽ có mặt

Thày đang ngưng lại để ghi nhận dòng tâm thức trở ngược về từ các con – các sợ hãi và nghi ngờ những gì các thày đã nói với con trong bài này và các bài trước. Thày đang hấp thụ tâm thức đó. Sự kiện con nghi ngờ lời thày, con sợ không dám đem ra áp dụng, không có nghĩa là thày không thương yêu con. Thày thương yêu con bất kể con phản ứng ra sao hay không phản ứng lại lời nói và sự rung động của thày. Tình thương của thày vô điều kiện, vượt thời gian. Nếu con không thể chấp nhận nó lúc này, thì con đừng lo lắng. Con không cần chê trách mình vì con không thể tức khắc chấp nhận điều con nghe thấy.

Thày muốn con biết là thày sẽ luôn luôn có mặt. Tình thương của thày sẽ luôn luôn có mặt. Nếu con không thể chấp nhận nó lúc này, thì bất cứ lúc nào con có thể chấp nhận nó, con đừng rơi vào cạm bẫy của ảo tưởng cho rằng vì con không thể chấp nhận thày trong quá khứ, thì con cũng không thể chấp nhận thày bây giờ, vì con không xứng đáng. Con đừng nên tạo ra thêm những lớp ảo tưởng bên trên ảo tưởng.

Con hãy nhớ lời thày: tình thương của thày vô điều kiện. Con không cần hội đủ điều kiện nào để xứng đáng nhận lãnh nó. Con chỉ có hai chọn lựa: hoặc con chấp nhận, hoặc con chối bỏ. Tình thương thày vô điều kiện, do đó nếu con chối bỏ nó, thày không bị ảnh hưởng bởi sự chối bỏ đó.

Thày sẽ tiếp tục thương yêu con vô điều kiện. Bất kể con lúc này chối bỏ tình thương của thày mạnh mẽ như thế nào chăng nữa, bất cứ lúc nào trong tương lai khi con quyết định trút bỏ bộ y phục, thì tình thương của thày vẫn có đó để con chấp nhận. Tự ngã của con muốn con nghĩ là không thể như thế. Nhưng sự thực là như thế.

Trong quá khứ đã như thế.

Trong tương lai cũng sẽ như thế.

Đó là sự thực về tình thương. Đó là tình thương thực sự. Nếu con muốn tách ra khỏi tình thương của thày, nếu con muốn chối bỏ nó, thì thày vẫn thương yêu con vì con chối bỏ thày. Bất kể con cảm nhận ra sao, con nghĩ gì, thày vẫn thương yêu con.

Tình cảm và tư tưởng là hình ảnh phù du đi qua tâm con người. Con hãy ngưng máy chiếu phim thì con sẽ thấy là màn ảnh cuộc đời vẫn trắng, bất kể hình ảnh nào đã được phóng chiếu lên đó. Cốt lõi con người con, cái Ta Biết của con, là một tấm màn trắng, có nghĩa là dù con được tạo ra với cá thể, con không được tạo ra với điều kiện. Con yêu dấu, con đã không được tạo ra với bất cứ điều kiện nhị nguyên nào.

Con được tạo ra với đặc tính cá biệt vô điều kiện. Thày biết rõ là tâm đường thẳng của con không thể thấu hiểu khái niệm này. Nhưng phải có một cách diễn tả bằng lời khiến con suy nghiệm, cho tới khi con tới điểm chuyển đổi nhận thức. Con nhận ra vô điều kiện tánh có thật, và các điều kiện không có thật, các điều kiện này chỉ đang che khuất tấm màn trắng bằng cách khiến con chú tâm vào những hình ảnh phù du không thể nào thỏa mãn con người thật của con, lòng khát khao tình thương thật của con.

Làm sao bất cứ tình thương nào đến từ cõi vật chất có thể thỏa mãn lòng khao khát tình thương bẩm sinh của con? Lòng khao khát bẩm sinh của con là lòng khao khát nhập một với cái con là, cái ta cao của con. Đó là lòng khao khát trầm mình trong Dòng Sông sự Sống bằng cách thực thi vai trò mà cái ta cao đã tạo ra cho con – đó là một người đồng sáng tạo và thể hiện nước Trời trong vũ trụ vật chất.

7.9. Hãy hòa điệu với tình thương

Lời của thày đến với các con qua trung gian một người đang hiện thân trong cõi vật chất, và điều không thể tránh được khi con hiện thân, là khả năng thương yêu của con có giới hạn. Chắc chắn là không ai đang hiện thân có thể đồng thời ở trong sự viên mãn của tâm thức thăng thiên – cũng là sự viên mãn của vô điều kiện tánh. Con hãy đừng chú tâm vào người sứ giả bên ngoài. Con hãy vượt quá hình tướng bên ngoài, con hãy vượt quá âm thanh của lời nói, con hãy vượt quá ngôn từ.

Con hãy theo ngôn từ như theo một dòng tâm thức dẫn tới sinh thể thật mà TA LÀ. Thày là một với đẳng cấp Tình thương Thượng đế, tình thương vô điều kiện và tất cả các sinh thể đang biểu lộ vô điều kiện tánh đó. Con hãy theo dòng tâm thức đó và nhận ra là khả năng thương yêu của thày quả thật vô biên. Thày có thể nhận lãnh và tiêu trừ bất cứ điều kiện nào mà con muốn buông bỏ. Như phần kết của bài truyền đọc này, thày cho con cơ hội buông bỏ vào dòng tâm thức của thày mọi điều mà con muốn buông bỏ. Con đã nói, với Chân sư MORE: “Đủ rồi, như vậy là đủ rồi”. Do đó, thày sẽ để vị sứ giả đọc những câu sau đây trong lúc con buông bỏ.

[Sứ giả đọc những lời dâng lên từ bên trong;]

Tình thương là một dòng suối tuôn chảy, một suối nguồn của vô điều kiện tánh, giống như dòng nước cứ chảy, chảy qua các tảng đá – ngay cả loại đá cứng nhất – và soi mòn chúng, từng chút từng chút một. Nó mềm mại hơn tảng đá rất nhiều, và tâm đường thẳng không thể hình dung là nó có thể soi mòn tảng đá. Nhưng, tình thương chính như thế. Nó tuôn chảy vô điều kiện, và nếu nó có vẻ như đang không chảy về đâu, nếu có vẻ là con người không nhận nó và không thay đổi, nó vẫn không ngừng chảy. Qua nhiều ngàn năm, nó sẽ soi mòn tảng đá rắn chắc của cái ta tách biệt.

Quả thật Người Tình Thiêng liêng sẽ không bao giờ bỏ rơi người yêu dấu, sẽ không bao giờ ngưng tuôn chảy, sẽ không bao giờ ngưng cho ra. Rốt cuộc các điều kiện khó khăn nhất sẽ bị soi mòn bởi dòng chảy của tình thương, dòng chảy vĩnh hằng, không thể ngăn chặn, vô điều kiện của tình thương. Phải chăng là các điều kiện đều được cấu tạo bởi các thành phần nhỏ hơn, như con biết tảng đá được cấu tạo bởi phân tử và nguyên tử, và nhỏ hơn nữa, bởi các hạt hạ nguyên tử li ti cấu tạo nguyên tử. Tình thương tuôn chảy có thể chỉ bứng đi được một hạt hạ nguyên tử của tảng đá, nhưng tuy thế, đó vẫn là một sự thay đổi.

Tình thương tuôn chảy không nản chí nhưng luôn luôn được khích lệ và do đó cứ tuôn chảy mãi và bứng đi một nguyên tử, và một nguyên tử nữa, và một nữa, và một nữa. Chẳng bao lâu, Dòng Sông sự Sống đục được một khe núi trong nền đá của tâm thức con người. Tuôn chảy, tuôn chảy, tuôn chảy mãi mãi. Con hãy thấy là ngọn núi hùng vĩ nhất cũng bị soi mòn dần dần bởi nước mưa mềm mại từ trời đổ xuống, như giọt nước mưa mềm mại của tình thương rơi xuống người chính đạo và người bất chính, sự xấu xa và sự tốt lành.

Với tình thương, không có gì chính đạo hay bất chính, không có gì xấu xa hay tốt lành. Tình thương tuôn chảy không điều kiện, hoàn toàn không có điều kiện nào. Với tình thương, điều kiện không có thực chất và không thường hằng. Tình thương biết rằng nếu nó tiếp tục tuôn chảy, thì nó sẽ soi mòn những điều kiện khó khăn nhất. Ngay cả những trái tim khô cứng nhất cũng sẽ bị soi mòn bởi dòng chảy không thể ngăn chặn của tình thương.

Một ngày nào đó. trái tim đó sẽ nhìn lại chính nó và nói: “Tại sao tôi cứ tách mình ra khỏi dòng chảy của tình thương? Tôi đã chán ngán kinh nghiệm tách biệt. Bây giờ tôi hiếu kỳ muốn biết tôi sẽ cảm thấy thế nào khi ở trong dòng chảy của tình thương.” Bỗng nhiên nó buông mình vào dòng chảy như đập vỡ nước – và bỗng nhiên Dòng Sông sự Sống bị ngăn chặn từ bao nhiêu kiếp được thoát ra như một bộc phát mà không điều kiện nào, không tự ngã nào – dù là tự ngã cường tráng nhất – có thể ngăn được. Cái ta thực của con tuôn chảy với tình thương và cảm thấy biết bao hân hoan, biết bao tự do khi thoát khỏi điều kiện. Giải thoát hoàn toàn, vô điều kiện.

[Đại thiên thần Charity tiếp tục:]

Vậy các con hãy hít vào [cử tọa hít vào]. Hãy nhận biết điều kiện và trút bỏ nó khi con thở ra [cử tọa thở ra].

Bây giờ các con hãy hít vào và giữ hơi thở, và khi các con thở ra thày sẽ hít vào. Hãy thở ra [cử tọa thở ra trong khi sứ giả hít vào].

Khi thày trao tình thương vô điều kiện, các con hãy hít vào và hít vào tình thương đó [sứ giả thở ra, cử tọa hít vào].

Bây giờ các con hãy trút bỏ, và thày sẽ hít vào điều kiện [cử tọa thở ra trong khi sứ giả hít vào].

Hãy hít vào tình thương [sứ giả thở ra, cử tọa hít vào].

Hãy trút bỏ (cử tọa thở ra trong khi sứ giả hít vào].

Hãy hít vào [sứ giả thở ra, cử tọa hít vào].

Các con bây giờ đã trải nghiệm hơi hít vào và thở ra của tình thương. Tuy thế, TA LÀ không giới hạn bởi không gian và thời gian, và các con có thể lặp lại sự thực hành này bất cứ lúc nào, chẳng hạn như sau khi nghe một bản nhạc đánh thức lại cảm nhận tuôn chảy nơi con.

Các thày, là đại diện Tia thứ Ba, ngợi khen các con đã sẵn sàng đi vào Hiện diện của các thày, và qua đó, tuy có thể các con không nhận ra, các con đã đôi phần tách mình ra khỏi các nỗi sợ của mình. Các con không thể ở trong Hiện diện của Tình thương Vô điều kiện mà vẫn hoàn toàn đồng hóa với nỗi sợ. Sự kiện các con ở đây chứng minh là các con không còn hoàn toàn đồng hóa với cái ta tách biệt. Thày khuyến khích các con đón nhận cái ta mới đó, nó biết con hơn nữa, vì con đã trải nghiệm sự hợp nhất với cái Hơn Nữa.

Các con được niêm phong, nhưng một lần nữa chúng ta lại thấy giới hạn của ngôn từ. Làm sao các con có thể được niêm phong trong cái vô điều kiện? Các con yêu dấu, các con hãy vượt quá ý tưởng muốn được niêm phong, và chỉ trong dòng chảy của tình thương vô điều kiện.

Tia thứ Nhất: Một quan niệm không đường thẳng về nghiệp quả

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên More qua trung gian Kim Michaels, ngày 17/4/2009.

TA LÀ HƠN NỮA. Các con phải biết là thày tới mau chóng và ra đi cũng mau chóng. Khi thày đã nói những gì cần nói, thày không quan tâm các phép lịch sự thông thường đòi hỏi phải chấm dứt một cách nào đó. Khi chuyện đã quá đủ, thì thày chuyển sang chuyện khác.

Đây là một lời gợi ý cho tất cả các con. Khi đã quá đủ thì con hãy chuyển sang chuyện khác. Con hãy vứt bỏ cùm xích của bất cứ tâm thức nào mà con đã chấp nhận. Con có quyền có bất cứ trải nghiệm nào mà con muốn, nhưng con phải biết là khi con đã trải nghiệm đủ một kinh nghiệm nào đó, thì con thực sự có thể chuyển sang chuyện khác.

Đó là chìa khóa chủ yếu cho sự chữa lành. Đó là chìa khóa để phục hồi sự chữa lành thực sự. Con hãy nhìn xem con người tìm sự chữa lành như thế nào trên trái đất này. Các con hãy xem xét ngành y khoa mà các con có ngày hôm nay. Họ ngầm hứa hẹn điều gì? Họ hứa hẹn là khi cơ thể con có bệnh, họ có thể cho con một phương pháp máy móc để chữa lành. Con không cần giải quyết tâm thức đã kết đọng thành căn bệnh trong cơ thể. Con không cần xem xét cây đà trong chính mắt mình.

Đó là điều họ hứa hẹn. Có phải chăng đây cũng là điều mà nhiều tôn giáo đã hứa hẹn qua các thời đại? “Nếu quý vị theo tôn giáo của chúng tôi, nếu quý vị tuân theo các luật lệ và quy tắc mà chúng tôi đề ra, thì một ngày nào đó quý vị sẽ được vào nước Trời mà không cần xem xét cây đà trong chính mắt mình.”

Ấy, đó chính là lời hứa hẹn. Đã có bao nhiêu người tin lời hứa hẹn đó để rồi khám phá – sau kiếp sống này – là đây là một lời hứa giả và họ phải trở lại đầu thai trên trái đất? Họ càng ngày càng nghi ngờ các tôn giáo, vì họ thấy tính chất đạo đức giả của tôn giáo khi chính các giáo sĩ cũng tin rằng chỉ cần tuân theo các nghi thức bên ngoài. Họ nghĩ họ có thể làm bất cứ điều gì nếu họ không bị lộ tảy vì có thể trốn sau bình phong của giáo hội, tỷ dụ như trường hợp giáo hội Công giáo và nạn xâm phạm trẻ em tràn lan khắp giáo hội, quả đã xúc phạm những gì Giê-su chủ trương. Phải chăng là Giê-su có nói rằng tội tổn thương trẻ em nặng hơn tội bị đeo gông vào cổ và vứt xuống biển?

Con cũng thấy điều này nơi nhiều giáo hội khác, tỷ dụ như khi một mục sư trong một giáo hội cực chính thống đã bị lật tảy khi nói rằng: “Con có thể là một người của Thượng đế và vẫn có thể có các thú vui bên lề.” Quả là một sự đạo đức giả khi họ tuyên bố có thể đại điện Thượng đế đồng thời nghĩ rằng Thượng đế sẽ không thấy những gì họ che giấu khỏi con mắt người đời. Thượng đế không ở trên trời nhìn xuống con, nhưng Thượng đế bên trong con, đợi khi con tìm cầu Người Tình Thiêng liêng thương yêu con như là người con trai hay con gái yêu dấu.

5.1. Lòng chân thật là căn bản của sự chữa lành

Để phục hồi sự chữa lành thực sự, chúng ta cần bắt đầu với một nền móng vững chắc. Chúng ta cần bắt đầu với Tia thứ Nhất của ý chí của Thượng đế. Vậy, đặc tính của Tia thứ Nhất là gì? Con có thể nghĩ đó là ý chí của Thượng đế, con có thể nghĩ đó là uy lực của Thượng đế, nhưng ta có nên nghĩ tới đặc tính khác là sự chân thật chăng?

Con yêu dấu, phải chăng chân thật là một đặc tính của Tia thứ Nhất? Nó phải chăng là một biểu hiện của ý chí và uy lực cửa Thượng đế? Cốt lõi của lòng chân thật là gì? Phải chăng là sự nhập một với ý chí của Thượng đế? Thượng đế đúng thực là sinh thể chân thật tối hậu – vì Thượng đế không thể che giấu điều gì với chính mình.

Con có lẽ đã nghe người ta dùng lý trí đường thẳng hỏi câu này “Nếu Thượng đế toàn năng, thì Thượng đế có thể tạo chăng một tảng đá lớn đến độ chính ngài không thể nâng lên được?” Thượng đế là cái Một, do đó Thượng đế không thể tạo ra cái gì có thể che giấu khỏi mắt ngài – do đó ngài là tính chân thật. Con hãy xem xét cốt lõi của sự gian dối. Đó là niềm tin có thể che giấu một điều gì đó, có thể nói và làm một đàng và nghĩ một nẻo. Quả thực là khi con rắn nói chuyện với E-và, nó đã giả dạng là một người tới giải phóng, tới để giải thoát nàng khỏi cùm xích của vị thày tâm linh trong vườn địa đàng. Ngay nơi đó nó đã tạo nền móng của bệnh tật – với sự gian dối, với ảo tưởng là có thể che giấu một điều gì đó.

Con hãy xem xét lòng chân thật và luật tự quyết cho con quyền có bất cứ trải nghiệm nào mà con mong muốn, cho con quyền bước lên sân khấu cuộc đời và khoác vào bất cứ bộ áo tuồng nào mà con muốn trải nghiệm. Không có gì sai trái, không có gì tội lỗi – hay bất cứ danh từ nào khác mà người ta muốn dùng – khi con thử khoác vào nhiều bộ áo tuồng trên sân khấu cuộc đời. Thượng đế đã cho con quyền làm điều này.

Khi con bắt đầu tin rằng con bị kẹt trong một bộ áo tuồng nào đó và có một lực bên ngoài ngăn chặn không cho con chuyển sang chuyện khác, thì sự gian dối xuất hiện. Vì sao thày nói đây là sự gian dối? Bởi vì khi con nhìn sự việc một cách thiết thực, thì con nhận ra là Thượng đế đã cho con quyền tự do tuyệt đối thử bất cứ bộ áo tuồng nào mà con mong muốn. Thượng đế không ép con phải thử bất cứ bộ áo tuồng nào, và điều này có nghĩa gì? Điều này có nghĩa là chính con đã chọn lựa bộ áo tuồng mà con đã mặc vào.

Khi con xây dựng niềm tin là con đã không chọn lựa hoàn cảnh hiện tại của mình – nghĩa là hoàn cảnh hiện tại của con không phải là hậu quả của những chọn lựa trong hiện tại và quá khứ của con – thì con tự đặt mình vào thế kẹt mà các thày đã gọi là thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu con nghĩ là có một lực bên ngoài đã đặt con vào hoàn cảnh hiện tại của mình, thì ai sẽ có thể giải thoát con ra khỏi hoàn cảnh đó? Theo đúng lý luận hợp lý thì phải nói đó là một lực bên ngoài, phải không con? Điều này có nghĩa là con đã trao đi quyền thay đổi hoàn cảnh của con. Con đã tự đặt mình vào thái độ tiêu cực chờ đợi một lực bên ngoài nào đó thay con hành sự. Con đã làm một điều mà con cũng có quyền làm – đó là trao cho một lực bên ngoài quyền tự quyết của mình.

Thày nhắc lại là Thượng đế đã cho con quyền tự quyết. Con có quyền làm điều trên. Như thày Maitreya đã giảng trong quyển sách của thày, con có quyền quyết định là con không muốn quyết định. Con có thể lấy quyết định là con không muốn quyết định nữa. Lúc đó, con tạo ra hình ảnh khô chết về một quyền lực bên ngoài điều khiển đời con.

5.2. Hãy thận trọng các điểm vi tế của luật tự quyết

Rắn sẽ rỉ vào tai con là con có quyền tạo ra vai tuồng đó, khoác vào bộ y phụ cáo tuồng đó để thử xem thế nào là cảm giác bất lực. Nếu con nhìn với lý trí đường thẳng, thì rắn có vẻ có lý. Nhưng điểm vi tế là một khi con trao đi uy lực của mình, thì làm sao con có thể rũ bỏ bộ áo tuồng? Làm sao con có thể giản dị bỏ nó lại phía sau và cất bước ra đi? Con có thấy điểm vi tế này chăng?

Nếu ta dùng lý luận đường thẳng, phân tích thì ta khó nói là rắn không có lý. Thượng đế đã cho con quyền tự do tuyệt đối và không giới hạn chọn lựa của con. Con có thể thử khoác vào bất cứ bộ áo tuồng nào, và bất kể bộ áo tuồng đó là gì, Thượng đế vẫn chấp nhận con như là sinh thể mà Thượng đế đã tạo ra như một sự nối dài của chính ngài. Bất cứ lúc nào con muốn bỏ đi con người cũ và khoác vào con người mới trong Ki-tô, con người mới trong cái Một, thì Thượng đế sẽ mở tay chào đón con. Thượng đế không giới hạn quyền tự do khoác vào một bộ áo tuồng và sau đó cởi nó ra.

Sự thực là lối lý luận của rắn giới hạn quyền tự do của con. Khi con chấp nhận lời gian dối, ảo tưởng cho rằng có một lực bên ngoài – tỷ dụ như vị Thượng đế giận dữ ở trên trời đã khiến con sinh ra trong tội lỗi – đã kết đọng hoàn cảnh hiện tại của con, thì con không thể giản dị tin rằng con có thể cởi bộ áo tuồng ra, từ bỏ con người cũ, và được tái sinh và trở nên một con người mới trong Ki-tô. Thượng đế đã cho con uy lực và quyền tự do để thực thi uy lực đó, nhưng rắn và tâm thức rắn tìm cách tước đi uy lực đó của con.

Thày, như là người đại diện của Ý chí của Thượng đế, tuyên bố rằng ý chí tối cao của Thượng đế là cho con quyền thực thi quyền tự quyết và tạo ra bất cứ trải nghiệm nào mà con mong muốn, vì như vậy con có cơ hội học hỏi. Đó là lý do vì sao con có thể tách mình ra khỏi cái một và tin vào sự dối trá của rắn và đi theo con đường giả, con đường hướng hạ, càng lúc càng tách mình ra khỏi cái một.

Con có quyền làm chuyện đó. Thày ủng hộ việc con có quyền đó. Nhưng điều thày muốn nói ở đây là ý chí của Thượng đế hoàn toàn không muốn con bị đau khổ vì bị giam cầm trong một ý niệm bản sắc hạn hẹp. Ý chí của Thượng đế không muốn con trở nên ít hơn, theo nghĩa con tự thấy mình ít hơn Sinh thể trong sáng mà Thượng đế đã tạo ra.

5.3. Khía cạnh Alpha và Omega của sự chữa lành

Khía cạnh Alpha của ý chí của Thượng đế cho con quyền tự do chọn lựa tuyệt đối. Khía cạnh Omega của ý chí của Thượng đế muốn con dùng quyền tự do chọn lựa để trở nên hơn nữa, chứ không ít hơn.

Bài học của sự chữa lành thực sự là gì? Sự chữa lành thực sự là gì? Đó là tự chữa lành!

Mục đích sự sống là gì? Đó là sự tăng trưởng cái ta, sự tăng trưởng sự tự nhận biết. Đó chính là toàn bộ mục đích của thế giới hình tướng là nơi con bắt đầu với một ý niệm bản sắc rất địa phương, con tự đồng hóa mình với một hình tướng vật chất, tỷ dụ như thân thể của mình. Ý niệm bản sắc đó có hạn hẹp đến đâu, con vẫn có tiềm năng tăng trưởng sự tự nhận biết cho đến khi con đạt được tâm thức của Đấng mà con là một phần của Đấng đó. Sự tăng trưởng đó là tự tăng trưởng. Thượng đế không áp đặt nó lên con, vì sự tự tăng trưởng không thể bị áp đặt.

Bước khởi đầu của sự tự chữa lành chính thực là con nhận ra con đã chọn lựa tách mình ra khỏi cái Một. Lý do vì sao thân thể hay tâm của con cần chữa lành là vì con đã lấy một số chọn lựa đã giới hạn mình, thay vì mở rộng ý niệm bản ngã của mình. Con bị giam trong một ảo tưởng qua đó con không còn thấy mình là một sinh thể tâm linh đang tạm thời khoác vào một vai tuồng và bộ áo tuồng trong màn kịch của vũ trụ vật chất. Thay vào đó, con nghĩ là con bị giam trong vũ trụ này, bị giam trong vai tuồng nào đó. Khi con làm vậy thì con trao đi quyền năng tự chữa lành của mình.

Làm sao con thực thi được quyền năng đó? Con yêu dấu, khi con đã thực sự hiểu luật tự quyết, thì con nhận ra con có quyền tự do, hoàn toàn tự do. Thượng đế đã cho con một ý chí hoàn toàn tự do. Điều này có nghĩa là, giống như con có quyền chọn khoác vào một bộ áo tuồng nào đó – bất kể bộ áo tuồng này là gì – thì bất cứ lúc nào, con có tự do tuyệt đối tách mình ra khỏi bộ áo tuồng – con chỉ giản dị cởi nó ra, bỏ nó xuống, để cho con người cũ chết đi và được tái sinh với một ý niệm bản ngã mới. Làm như thế là nhìn nhận quyền năng mà Thượng đế đã ban cho con. Chính tự ngã của con và các thày giả, những người có tâm thức rắn, đang tìm cách tước đoạt quyền năng của con bằng cách khiến con tin rằng hoặc con chính bộ áo tuồng hoặc con không thể giản dị cởi nó ra.

5.4. Mở tâm đón nhận một quan niệm mới về nghiệp quả

Khi con nhìn vào tập thể nhân loại, thì con có thể quan sát một lằn ranh phân chia. Nhiều người vẫn hoàn toàn tự đồng hóa với xác thân vật lý và với hoàn cảnh gia đình, văn hóa, quốc tịch, tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc hay bất cứ sự phân chia nào khác của môi trường nơi họ lớn lên. Những người có tâm linh cao hơn đã bắt đầu tỉnh giấc khỏi ảo tưởng đó và nhận ra họ hơn những bản sắc vỏ ngoài, nhãn hiệu và phân chia. Tuy nhiên, khi con bắt đầu tỉnh giấc và nhận ra mình hơn nữa, con phải đối mặt với luận điệu gian dối là con không thể giản dị rũ bỏ cái bản sắc cũ. Luận điệu này cho rằng nếu con đã phạm lỗi lầm thì con đã có tội. Con phải đền tội, con phải cân bằng nghiệp quả.

Thày muốn mời con tham dự một cuộc thí nghiệm tư tưởng. Chúng ta hãy lấy một giáo lý được trao truyền ở phương Đông – đây cũng là một giáo lý mà các thày cảm thấy cần giảng dạy trong các đợt truyền giáo trước của giáo lý chân sư thăng thiên – là quan niệm coi nghiệp là một lực bên ngoài. Con đã phạm lỗi trong một kiếp trước và mang một món nợ với sự sống, và do đó cán cân phải được cân bằng lại. Năng lượng mà con đã tha hóa cần phải được cân bằng trở lại.

Quan niệm này không nhất thiết sai. Con có quyền tự quyết làm bất cứ điều gì con muốn. Nhưng cái gì cho con khả năng làm bất cứ điều gì trong thế giới vật chất này? Đó chính là vì con nhận một phần năng lượng tâm linh từ Hiện diện TA LÀ của con, và con biểu hiện nó qua bốn thể phàm của con. Lẽ đương nhiên con chịu trách nhiệm về cách con sử dụng năng lượng đó. Con không thể vĩnh viễn rời bỏ trái đất nếu con chưa nâng lên tất cả năng lượng mà con đã pha màu với rung động của phản tình thương đang giới hạn mọi sự sống.

Con phải tới điểm mà sự hiện diện của con trên trái đất ít nhất phải là một sự quân bằng – con không kéo sự sống xuống. Lẽ dĩ nhiên con không xuống đây để kéo sự sống xuống, và con cũng không xuống đây để vật lộn trong mấy trăm kiếp để rồi trở lại điểm thăng bằng và rời trái đất. Con tới đây để đem lại một món quà tích cực, để đem ánh sáng của mình chiếu vào sự tăm tối của vũ trụ vật chất với mục đích tối hậu là nâng cao toàn bầu cõi, như thày Maitreya có giảng, lên tới điểm nó có thể thăng thiên và thể hiện nước Trời. Chúng ta hãy xem xét sự việc con là một người đồng sáng tạo đã thử nghiệm với quyền tự quyết trong nhiều kiếp sống. Con đã khoác lên một số vai tuồng, con đã đồng hóa mình như một sinh thể tách biệt, và con đã dùng năng lượng mà Hiện diện TA LÀ đã ban cho con để sở hữu và chiếm hữu một số vật cho cái ta tách biệt đó. Có thể là con đã tìm cách nâng nó lên trên người khác, và qua đó đã đạt được chức vị nổi bật trong xã hội cho con cơ hội hạ thấp người khác và coi mình quan trọng hơn người khác.

Lẽ dĩ nhiên có nhiều cách để tạo nghiệp. Con hãy nhìn sự việc một cách thực tiễn và nhận ra rằng không có gì nói ra bằng lời mà không thể bị tâm thức rắn và lý luận rắn bẻ quẹo. Đó chính là bản chất của lý luận rắn, nghĩa là khi con đã ăn trái cấm, thì con sẽ “khôn ngoan như Thượng đế”, con trở thành như Thượng đế, “biết thiện và ác”. Có nghĩa là lúc đó con đi vào tâm thức nhị nguyên và nghĩ rằng – tự ngã con nghĩ rằng – nó có quyền định nghĩa thiện và ác một cách tối hậu.

Đó là lý do vì sao có những tôn giáo trên trái đất tự coi mình là tôn giáo thực duy nhất, và qua đó ấn định niềm tin tuyệt đối là những ai không theo tôn giáo đó sẽ phải bị thiêu đốt vĩnh viễn trong đia ngục. Có những người đã theo một triết lý chính trị và coi nó cao hơn tất cả mọi triết lý khác, và do đó tin rằng diệt trừ tất cả các triết lý khác và áp đặt thể chế của họ lên toàn thế giới là một điều chính đáng.

Tâm thức rắn giam con trong niềm tin là hình tướng mà con thấy trong thế giới vật chất có một thực tại tối hậu. Con không thể giản dị rời bỏ chúng. Con bị đóng đinh bởi hình tướng, bởi hình ảnh, bởi tâm thức. Như cuộc đời của Giê-su đã trải bày, con bước vào vở bi kịch của cuộc đời, và quả thực là chúng có thể “đóng đinh” con. Có vẻ, ngay cả với Giê-su, không thể làm gì khác ngoài thủ vai tuồng đó.

Con hãy nhìn hình ảnh những chặng đường thập tự của Giê-su như truyền thống Công giáo mô tả. Giê-su bị kết án tử hình. Giê-su nhận cây thập tự. Nhưng đây cũng là một hành động thụ động chấp nhận một vật mà người khác giao cho thày. Giê-su té ngã, ai đó giúp Giê-su khiêng cây thập tự, ai đó lau nước mắt của thày, ai đó tìm cách khuyên thày nên bỏ cuộc. Thày bị đóng đinh trên cây thập tự, thày chết, thân xác thày bị đem xuống, thân thày bị chôn xuống mồ. Con yêu dấu, tất cả đều có tính chất thụ động.

Điều gì thiếu sót trong hình ảnh các chặng đường thập tự? Nhiều điều lắm, nhưng đầu tiên là sự kiện Giê-su biết rất rõ chuyện gì có thể xảy ra khi thày chọn bước vào thành Jerusalem. Quan trọng hơn cả là khi thày bị treo trên cây thập tự, thày chọn dứt bỏ hồn ma, qua đó ngay tức khắc rũ bỏ ý niệm cái ta tách biệt và chứng minh rằng mọi người đều có tiềm năng để sinh thể cũ, cái ta cũ chết đi tức khắc. Khi làm vậy con không ngưng hiện hữu, như các thày giả và tự ngã muốn con nghĩ, nhưng con thật sự được tái sinh vào một ý niệm bản ngã cao hơn, cái ta mà con vẫn là trong mắt của Thượng đế.

5.5. Một quan niệm cách mạng về nghiệp quả

Có một thực tại sâu sắc hơn. Con hãy quay trở về quan niệm nghiệp quả, con có thấy ảo tưởng mà tâm thức rắn dán lên quan niệm này? Khi con hiểu là tâm rắn dựa trên sự tách biệt, và khi con tách rời khỏi nguồn cội của mình, thì con phải tin gì về uy lực của Thượng đế? Con phải tin rằng nó chỉ có thể phát xuất từ bên ngoài con.

Khi con xem mình là một sinh thể tách biệt, con không thể chấp nhận là uy lực của Thượng đế có thể đến từ bên trong con. Con dễ rơi vào niềm tin gồm hai cực điểm, một bên là con cần một đấng cứu rỗi bên ngoài, và bên kia là con cần làm điều gì đó trên thế gian này, với tư cách một cái ta tách biệt, để chuộc tội hay cân bằng nghiệp quả.

Con hãy chú ý nghe điều thày đang nói. Con hãy cảnh giác ngay bên giờ, có thể con nên bước lui lại và nhận ra là cái tâm vỏ ngoài, tâm phân tích của con đang đánh lừa con để hoặc con không nghe lời thày nói, hoặc con không nghe ý nghĩa thực của nó. Thày đã nói gì trước đây? Con đã chấp nhận là có điều gì sai trái với con, có vấn đề cá biệt nào đó đang ngăn chặn con bước vào nước Trời. Điều thật sự sai trái với con là khái niệm có điều gì đó sai trái.

Khái niệm này từ đâu tới? Nó tới từ ảo tưởng tách biệt, từ sự thành lập cái ta tách biệt! Ta có thể nói là quả thực có cái gì sai trái với cái ta tách biệt, nếu ta suy nghĩ theo lối nhị nguyên. Nhưng không có gì sai trái với con, sinh thể mà con thực sự là.

Nhìn một cách rộng rãi hơn, ta có thể nói là cũng không có gì sai trái với cái ta tách biệt, vì Thượng đế không có quan niệm đúng và sai. Thượng đế chỉ quan niệm cái gì thật và không thật. Chỉ những gì được tạo ra trong cái một, là biểu lộ của cái một, chỉ có những cái này là có thật. Tất cả những gì được tạo ra trong tâm thức tách biệt không có thật và do đó không thể ảnh hưởng đến phần thật của con người con. Chúng không thể giới hạn nó, không thể nhốt nó vào cái lồng do một vai tuồng, bộ áo tuồng, hình tướng hay ý niệm bản ngã nào đó tạo ra.

Con có bắt đầu thấy nghiệp quả thực sự là gì chăng? Con đã quá quen thuộc, quá bị điều kiện hóa bởi tâm nhị nguyên nên con đã tin rằng thực sự có hai đối cực – và một cực là Thượng đế và cực kia là phản-Thượng đế. Đây chính là sự cao ngạo và lòng kiêu hãnh tâm linh của sa nhân khi họ nghĩ rằng khi họ chống lại Thượng đế thì họ có thể ảnh hưởng Thượng đế hay các sinh thể tâm linh không tách biệt khỏi cái một. Thượng đế không phải là đối cực của sự tách biệt. Thượng đế là cái Một, không phân chia, không thể phân chia, không điều kiện. Làm sao một điều kiện lại có thể chống lại cái vô điều kiện?

Con có thấy chăng là trong cái một không thể có điều kiện? Làm sao con tách ra khỏi cái một? Bằng cách tạo ra điều kiện! Và làm sao con tạo ra điều kiện? Con phải tạo ra hai điều kiện, ít nhất là hai, chống đối lẫn nhau.

Nếu không có sự chống đối, thì con vẫn còn cái một và do đó không có tách biệt.

Thày là chân sư của Ý chí của Thượng đế. Thày có các người bạn yêu dấu ở sáu tia kia. Vậy có nghĩa chăng là thày chống đối thày Saint Germain, vì thày ở tia thứ nhất và thày Saint Germain ở tia thứ bảy, tức là hai cực điểm trên một nấc thang đường thẳng? Điều này làm sao xảy ra được? Có thể nào là Ý chí của Thượng đế chống lại Tự do của Thượng đế, khi ý muốn của Thượng đế là mọi sinh thể đều tự do – và con có tự do khi con nhập một với ý chí của Thượng đế muốn nâng mọi sự sống lên?

Con có thể nghĩ là trong một kiếp trước con đã tạo nghiệp xấu và nếu con muốn thăng thiên, con cần cân bằng nghiệp đó bằng cách tạo ra nghiệp tốt. Nhưng xấu và tốt là hai điều kiện nhị nguyên. Con không thể hóa giải, cân bằng hay phủ định một điều kiện nhị nguyên bằng cách thêm vào điều kiện đối nghịch. Con không thể khắc phục một vấn đề với cùng tâm thức đã tạo ra vấn đề.

Nghiệp quả là gì? Nó được tạo ra khi con dùng khả năng sáng tạo của mình qua phin lọc của cái ta tách biệt, nhị nguyên. Bất cứ điều gì con làm qua phin lọc đó tạo ra nghiệp khiến con tách biệt khỏi cái một. Chính vì con xem mình là một sinh thể tách biệt nên con chú tâm vào cái ta của mình, và do đó có thể đã có hành động vị kỷ hay ích kỷ theo định nghĩa thông thường – và do đó con tạo ra điều mà đa số gọi là nghiệp xấu. Chính ảo tưởng mình là một sinh thể tách biệt đã tạo ra nó.

Nếu vậy thì làm sao con có thể giải trừ bằng cách làm điều gì khác qua cái ta tách biệt? Con có thấy chăng là quan niệm con đã tạo nghiệp xấu với cái ta tách biệt, và nay con cân bằng nghiệp đó bằng cái ta tách biệt, là một điều phi lý, mâu thuẫn? Con càng nỗ lực cân bằng nghiệp do cái ta tách biệt tạo ra, thì con càng củng cố ảo tưởng con là một cái ta tách biệt.

5.6. Khi cân bằng nghiệp quả là một trở ngại cho sự thăng thiên

Con có thể nghĩ là thày nói đi nói lại cùng một chuyện – và thày quả đang làm vậy. Nhưng thày nói điều đó dưới những góc độ hơi khác nhau, vì thày đang cho con một hình tư tưởng kỷ hà. Nếu con không thấy nó từ một góc nhìn này, có thể con sẽ thấy nó từ một góc nhìn hơi khác. Ý chính là: con hãy nhận ra là quan niệm con cần cân bằng nghiệp quả đang củng cố ý niệm con là một sinh thể tách biệt. Phải chăng ngụ ý là con không thể thăng thiên – có nghĩa là, trên căn bản, trở về với cái một – nếu con chưa cân bằng nghiệp quả?

Trong tâm, con nói: “Tôi là một sinh thể tách biệt, và tôi phải tiếp tục là một sinh thể tách biệt, cho tới khi, trong tương lai nào đó, tôi cân bằng hết nghiệp quả như một sinh thể tách biệt và – “bụp” một cái – một ngày nào đó tôi sẽ thăng thiên mà không hiểu rõ vì sao.” Một số trong các con, đã quả thực nhận được từ những lần truyền giáo trước của chân sư thăng thiên một hình ảnh – hay cũng có thể nói là con đã chấp nhận một hình ảnh – là ngay tiến trình thăng thiên cũng có tính chất thụ động trong đó con cân bằng nghiệp quả và mọi chuyện còn lại sẽ tự động xảy ra.

Không phải vậy đâu! Làm sao con thăng thiên? Bằng cách lấy lại quyền năng của ý chí của con! Con có nghĩ chăng là thày, Chân sư MORE, đang đứng trên thiên đàng và tìm cách ép buộc người khác thăng thiên? Thày làm như vậy thì đạt được gì? Những người đó sẽ vào thiên đàng với cùng trạng thái tâm thức mà họ đang hiện có. Các thày không muốn thấy những khuôn mặt buồn bã hay những khuôn mặt kịch cỡm mà ta thấy trên trái đất. Các thày muốn con như con là – trong cái một.

Thày không nói là con trở về thiên đàng giống y như khi con từ thiên đàng xuống thế. Con học hỏi khi con sống trong các cõi dày đặc hơn, con mở rộng ý niệm bản ngã của mình vượt quá khi con được tạo ra. Nhưng vì con trở về trong cái một, con nhận ra là con và các thày không khác nhau. Con là một nối dài của chính Bản thể của các thày.

Điều thày đề nghị với con rất giản dị. Con hãy suy ngẫm là con, như một sinh thể tách biệt, đi tới kết luận là con là một sinh thể tâm linh từ thiên đàng xuống và muốn trở về thiên đàng. Để có thể trở về con phải cân bằng nghiệp quả, do đó con tiến hành công việc với cùng tâm thức tách biệt.

Con có thể tiến triển đôi chút nếu con làm như vậy. Con có thể cân bằng năng lượng. Con có khía cạnh Alpha của trạng thái tâm thức của con mà con dán lên năng lượng, Ánh sáng Mẫu-Vật. Khía cạnh Omega của Ánh sáng Mẫu-Vật mang vào độ rung thấp hơn vì nhận các hình ảnh dán lên nó. Con có thể phần nào làm công việc cân bằng, vì chắc chắn là một hành động vị tha sẽ cân bằng nghiệp quả, theo cách nói của con. Nhưng thày phải nói với con là con không thể hoàn thành tiến trình này nếu con vẫn còn nhìn mình như một cái ta tách biệt. Điều này không thể xảy ra.

Vì sao lại không thể xảy ra? Lý do là điều thày đã giảng – con chỉ có thể vào thiên đàng khi con trở thành một với uy lực của Thượng đế trong con. Con chỉ có thể trở thành một với cái đó khi con chiến thắng cái ta tách biệt.

Con phải chọn lựa thăng thiên. Thăng thiên không phải là chuyện thực thi một số yêu cầu vỏ ngoài rồi – “bụp” một cái – con ở trên cõi thăng thiên. Thăng thiên phải là một quyết định, một chọn lựa.

5.7. Một cách nhanh chóng hơn để vượt lên trên nghiệp quả

Tuy con có thể tiến triển đôi chút với tâm thức của cái ta tách biệt, con hãy xem xét một con đường khác. Con hãy suy ngẫm là thay vì chú tâm vào việc cân bằng nghiệp quả, hay một lực bên ngoài nào khác, con lắng nghe lời dạy của Ki-tô. Có phải chăng là thày đã nói: “Trước tiên hãy tìm cầu Nước Trời và sự công chính của Thượng đế, thì tất cả những thứ kia sẽ được ban thêm cho con.”

Nước Trời là gì? Nó thực là tâm thức Ki-tô dựa trên cái một nơi con có sự công chính – cách sử dụng đúng – của uy lực sáng tạo của mình. Con dùng nó để nâng cái Tất cả lên thay vì cái ta tách biệt. Con hãy suy ngẫm là thay vì chú tâm vào hành động cân bằng nghiệp quả là một hành động vỏ ngoài và có phần máy móc, con chú tâm vào việc chuyển đổi ý niệm bản sắc, hình ảnh về chính mình, cách nhìn cuộc đời. Con trải qua một chuyển đổi kinh thiên động địa vể bản sắc khi con không còn thấy tách biệt nhưng thấy cái một.

Chuyện gì sẽ xảy ra trong tiến trình này? Chuyện sẽ xảy ra là con lấy lại uy lực của mình, con kết nối trở lại với sinh thể cao mà con là và khi đó con có thể nói với Giê-su: “Ta và cha ta là một. Cha ta làm việc cho đến bây giờ, nay ta cũng làm việc như vậy.”

Khi con đi vào trạng thái một đó – ít nhất là một phần của trạng thái một tuy chưa hoàn toàn là quả vị Ki-tô – và con thấy con vẫn còn một ít nghiệp quả, thì con nghĩ công việc cân bằng nghiệp quả đó có khó chăng khi con có uy lực của Thượng đế chảy xuyên qua con và giúp con hoàn thành công việc? Đi con đường tâm linh dễ hơn nhiều khi ta khởi đầu bằng tìm cầu cái một, thay vì tìm cách thực thi một yêu cầu vỏ ngoài như cân bằng nghiệp quả và nghĩ rằng cái một sẽ tự động đến sau. Qua cách đó con giới hạn mình – có thể là trong suốt phần còn lại của kiếp sống này – vào việc sử dụng uy lực chảy xuyên qua cái ta tách biệt, thay vì uy lực của sinh thể cao mà con là.

Ảo tưởng, con yêu dấu – ảo tưởng! Lý luận của tâm rắn vi tế biết bao? Nó rất vi tế khi con nhìn nó từ bên trong cái ta tách biệt. Nó rất lộ liễu khi con vươn lên tâm Ki-tô và đạt được tầm nhìn vô điều kiện giúp con thấy chân lý không diễn tả bằng lời nói hay giáo lý. Con đã theo lời gọi của Ki-tô: “Thượng đế là Tánh linh, và những ai thờ kính ngài phải thờ kính trong Tánh linh và chân lý.”

Khi con biết Tánh linh của Chân lý, con nhận ra sự rung động của chân lý, và con có thước cùng-đo tối hậu, cây gậy chỉ đường tối hậu, cây gậy của Moses, có khả năng rẽ nước Biển Chết – là biểu tượng của tâm thức nhị nguyên. Lúc đó con có thể an toàn vượt qua biển nhưng, khi đoàn quân của cái chết tới sau con, thì nước của tâm thức nhị nguyên của chúng sẽ tràn lên chúng. Chúng bị cuốn đi trong sự náo loạn, trong khi con bước sang bờ bên kia, tới vùng đất của Do Thái, biểu tượng cho cái thật.

5.8. Một quan niệm không đường thẳng về luân hồi

Chắc con có nghe là El Morya, Chân sư MORE, có tiền kiếp là Thomas More, là Thomas Beckett, là vị Chân sư nào đó, hay một nhân vật lịch sử nào đó. Nếu con đi trở ngược dòng thời gian, thì thày có từng đầu thai như Abraham. Nhưng con thấy chăng, Thomas More đã chết, Abraham đã chết. Tuy rằng con có thể nghĩ thày đã từng đầu thai như Abraham, nhưng thày nói là không phải vậy. Vì trước khi có Abraham, TA LÀ.

Vậy phải chăng thày chối bỏ đã có một tiền thân là Abraham? Phải chăng thày chối bỏ giáo lý được trao truyền? Không, thày không chối bỏ. Thày muốn con tiến lên cao hơn và nhận ra là như một sinh thể thăng thiên, thày đã nhập một với Sinh thể cao, mà từ sinh thể đó đã đầu thai như Abraham. Ý niệm bản ngã đã đầu thai như Abraham và những nhân vật kia không còn nữa. Thày HƠN NỮA. Thày đã vươn lên trên mọi ý niệm bản ngã thế gian. Thày đã trút bỏ các bộ áo tuồng. Thay đã đứng trần truồng trước hồ nước chữa lành và đã bước đi qua bờ bên kia. TA LÀ một sinh thể tái sinh, như con cũng có thể tái sinh, con yêu dấu.

Con hãy đi theo niềm hân hoan của mình! Con hãy xem điều gì mang lại cho con niềm vui lớn nhất, vì con sẽ thấy là điều cho con niềm vui lớn nhất là ý niệm là một với cai Ta bên trong của con, với ngọn Lửa Thượng đế của con, với Bản thể tâm linh cao hơn mà từ đó con sinh ra. Con hãy dùng niềm vui đó như thước đo để quyết định làm điều này hay điều kia ở giai đoạn này của cuộc đời của con.

Điều cho con niềm vui lớn nhất là điều mang con đến gần hơn sự hợp nhất với Bản thể cao hơn của con. Nếu có điều gì hạ năng lượng của con xuống, lấy mất sự chú tâm của con, khiến con cảm thấy mình phải làm sao để xứng đáng với một hình ảnh nào đó, mình phải đóng một vai tuồng nào đó, thì con hãy bước lui lại và nói: “Việc này không phải là việc của tôi!”

Những người phái nữ hiện nay đang hòa điệu hơn với con người tâm linh và sứ vụ thiêng liêng của họ hơn là người phái nam. Con cảm nhận là khi một người nam tới gần con và có thể có nhiều thiện ý – nhưng trong tâm người đó có một hình ảnh là con phải như thế nào nếu con chấp nhận đề nghị của y – con cảm thấy là người đó đang tước đi niềm hân hoan của con.

Con hãy bước lui lại và tìm xem đâu là niềm hân hoan của con, và con hãy theo nó – như nhiều người trong các con đã làm. Thày chỉ đơn giản giúp con chú tâm có ý thức là con có thể nhận biết rõ hơn về điều đó, con có thể cảm nhận có ý thức trong tim đâu là niềm hân hoan, cái gì mở rộng bản thể mình, ý niệm bản thể của mình, niềm vui của mình.

Có nhiều cách để thực hiện điều này. Con có thể đạt được qua sự sùng kính, như nhiều người đã làm qua nhiều thời đại, sùng kính Thượng đế, Giê-su, Mẹ Mary, đức Phật, Khrisna hay những vị đại diện tâm linh chân chính khác. Như Ấn giáo mô tả, có nhiều đường dẫn tới Thượng đế, nhiều hình thức yoga. Con hãy theo phương pháp đem lại cho con niềm vui lớn nhất, và đừng xem những người đang theo niềm hân hoan của họ là sai.

Con yêu dấu, thày nói với con là thày là đại diện của Ý chí của Thượng đế vì thày sùng kính vô điều kiện Ý chí của Thượng đế. Thày thương yêu Ý chí của Thượng đế. Thày thương yêu Uy lực của Thượng đế, biểu lộ cùng với tình thương vô điều kiện muốn nâng mọi sự sống lên.

Làm sao con có thể nhập một cách tối hậu với ý chí và uy lực của Thượng đế? Con có thể nào chiếm uy lực của Thượng đế bằng vũ lực của cái ta tách biệt chăng? Không đâu, con chỉ có thể thương yêu ý chí và uy lực – ý chí muốn nâng mọi sự sống lên. Khi con không còn động cơ nào khác, thì uy lực của Thượng đế sẽ tuôn chảy xuyên qua con để nâng mọi sự sống lên.

Con yêu dấu, con hãy được niêm trong tình thương của thày – yêu Ý chí của Thượng đế và yêu con. Ý muốn của Thượng đế là con có quyền tự quyết, và con có thể nghĩ là nếu con lấy chọn lựa “sai” thì thày sẽ không thương yêu con. Nhưng Thượng đế đã cho con quyền tự quyết và do đó – bất kể chọn lựa nào con đã lấy – thày vẫn thương yêu con vô điều kiện.

Lẽ dĩ nhiên, tình thương của thày không ngăn thày là một vị thày nghiêm nghị, không tìm cách khiển trách con, nhưng muốn cho con một thước cùng-đo – mà tâm rắn không thể tranh cãi, bóp méo và bẻ quẹo. Tình thương của thày bất di dịch, như Tảng đá của Ki-tô. Khi con chân thật, con sẽ tìm sự bất di dịch của Tảng đá của Ki-tô để có thể phân biện đâu là thật đâu là giả.

Con yêu dấu, TA LÀ thật. Con có chịu nhìn nhận chăng là con cũng thật? Nếu vậy, con hãy được niêm trong Ngọn lửa của Thực tại.

Hãy để tình thương tuôn chảy!

Bài giảng của chân sư thăng thiên Elohim Heros và Amora qua trung gian Kim Michaels, ngày 2/1/2009. Bài này được xếp thành Chương 6 của quyển Làm sao giáo tiếp từ trái tim (How to Communicate from the Heart, Kim Michaels, 2014).

Các thày đến đây như một với cái Duy nhất, thày được gọi là Heros và Amora, là Elohim của Tia sáng Thứ ba, để cống hiến các con một chút hiểu biết và, nếu các con chấp nhận, kinh nghiệm trực tiếp tình thương liên hệ ra sao với giao tiếp từ trái tim.

Tại sao thày lại muốn con đọc bài thỉnh cầu Chiến thắng Quá khứ trước khi nghe bài truyền đọc về tình thương này? Con nhớ là trong bài thỉnh cầu đó con xác định lòng tha thứ triệt để, vô điều kiện, tha thứ mọi chuyện đã xảy ra trong quá khứ giữa con và người khác, giữa con và Thượng đế, và giữa con và Ánh sáng Mẫu-Vật. Khi con neo chặt trong tình thương vô điều kiện thì quá khứ không biến đi nhưng nó không còn ảnh hưởng hiện tại của con – và do đó nó không ành hưởng tương lai của con. Con yêu dấu, vì sao lại như vậy? Đó là vì khi con là Một với ngọn lửa, với Dòng Sông Sự Sống của tình thương vô điều kiện thì con biết là con hơn, hơn vô kể những gì con đã thể hiện trong quá khứ trên quả điạ cầu hạn hẹp này.

Con có thể bước ra ngoài và ngắm nhìn tia nắng phản chiếu trên vũng nước bên đường. Tia nắng đó không đồng hóa mình với vũng nước. Nó biết nó là một tia nắng. Dù con có thể nhìn tia nắng qua cửa sổ nhơ bẩn và thấy tia nắng bị nhuộm màu bởi cửa sổ, nhưng tia nắng chỉ bị nhuộm màu trong mắt của riêng con mà thôi, còn chính nó thì nó biết là nó là một phần của Mặt trời. Con cũng vậy đó, con là một phần nối dài của Mặt trời Hiện diện TA LÀ của con, và từ đó của Mặt trời đấng Sáng tạo ra con. Khi con tự cho phép kết nối lại với thực tại đó thì con sẽ cảm thấy tình thương vô điều kiện của đấng Sáng tạo tuôn chảy trong con. Khi đó thì làm sao con có thể đồng hóa mình với tình huống hay điều kiện đã xảy ra trong quá khứ trên địa cầu này? Con sẽ biết là con hơn thế rất nhiều. Con cũng sẽ biết là người khác cũng hơn các thể hiện mà con đã gặp trong quá khứ. Từ đó con sẽ vượt qua khuynh hướng thường gây xung đột nhất trên thế gian, là khuynh hướng giữ chặt hình ảnh về mình, về người khác, và ngay cả về thế gian và Thượng đế dựa trên quá khứ.

Quá khứ trở thành kho dữ liệu

Qua các bài giảng về tuệ giác và trí năng – trong đó các thày đã giảng là trí năng được tạo ra để hoạt động trong thế giới hình tướng bằng cách tìm ra và phân loại sự khác biệt và phân tích nguyên do trong thế giới hình tướng – con nhận ra chuyện đã xảy ra cho tất cả mọi người là họ tạo ra một kho dữ liệu trong tiềm thức của họ. Đa số không nhận ra sự kiện này, nhưng một số đã bắt đầu vén bức màn và nhận ra làm sao họ tạo những hình ảnh này trong quá khứ.

Một khi kho dữ liệu được thành lập thì một biến cố mới xảy ra sẽ ngay lập tức được so sánh với kho dữ liệu. Khi con gặp một người thì ngay lập tức tiềm thức của con dán cho người đó một nhãn hiệu để xếp họ vào thể loại hay ngăn tủ mà con đã thiết lập dựa trên quá khứ. Khi đó, con biết phải đối xử với người đó ra sao dựa trên cách mà con đã đối xử với người cùng thể loại trong quá khứ.

Con có thể nghĩ là khi một người mới gặp một người khác lần đầu, ít ra là trong kiếp sống này, thì họ sẽ nhìn người đó không định kiến và cho người đó cơ hội chứng tỏ con người thật của mình. Nhưng ít ai làm được chuyện này. Ngược lại, họ tức khắc và vô thức xếp người kia vào một thể loại gọn ghẽ nho nhỏ trong kho dữ liệu trong tiềm thức của họ. Một khi tiềm thức cảm thấy có đủ thông tin để xếp loại người khác thì mình không còn đối xử với người đó như một cá nhân duy nhất nữa. Mình sẽ đối xử với người đó như là mình muốn đối xử – thực ra là mình đã đối xử – với những người tượng tự trong quá khứ.

Căn bản xung đột

Hiện tượng trên, khi đi đến tột cùng, dĩ nhiên là lý do tạo xung đột giữa các nhóm người, tỷ dụ giữa người khác màu da, khác giòng giống, hay giữa nam nữ. Ta gặp một một người và tức khắc lượng định: “Đây là người nam hay nữ?” Nếu vậy thì ta cần phải cư xử một cách nào đó. Ta tự hỏi: “Người này da đen hay da trắng?” và liền quyết định phải cư xử một cách nào đó. “Người này là người Do Thái hay thuộc một chủng tộc mà ta đã từng biết?” Nếu vậy thì ta phải cư xử thích ứng.

Trí năng suy luận như sau: nếu người này thuộc nhóm mấy triệu người da đen hay mấy tỷ phụ nữ, thì chắc chắn họ phải cư xử giống như những người cùng nhóm. Như các thày đã giảng hôm qua, trí năng không có khả năng tiếp cận cái vô biên, cái vô điều kiện của Dòng Sông Sự Sống, nó chỉ hiểu được thế giới hình tướng hạn hẹp trong đó mọi thứ đều được phân loại dựa trên tính chất nào đó. Tính chất đó là gì?

Hãy dùng tuệ giác để nhận định người trí thức

Đây là lúc con cần dùng tuệ giác để nhận định những người trí thức trên thế gian này. Họ là những người thuộc chính quyền, tôn giáo hay khoa học tự cho mình có hiểu biết hơn người. Con hãy quan sát họ, và sau đó nghiên cứu kỹ hơn. Con sẽ thấy là nhiều người trí thức rất thông minh và có thiện ý, nhưng họ cũng hoàn toàn tin chắc, dựa trên trí năng suy luận, là khoa học là cách duy nhất để hiểu thực tại, không có gì ngoài thế giới vật chất, và tôn giáo chỉ là một cái gì không thực do trí tưởng tượng dựng nên.

Cũng giống vậy, con sẽ thấy là có người hoàn toàn tin chắc, dựa trên trí năng suy luận, là chỉ có ý thức hệ hay hệ thống chính trị của họ là có giá trị, và nó sẽ đem nước Trời hay một thiên đàng nào khác tới thế gian này. Dĩ nhiên là trong lãnh vực tôn giáo, con cũng sẽ tìm thấy các nhà thần học hoàn toàn tin chắc là chỉ có tôn giáo của họ là có giá trị, tất cả các tôn giáo khác đều sai, khoa học cũng sai, không có giá trị, vân vân và vân vân.

Khi con xem xét thì sẽ nhận ra rằng tất cả mọi người đều có một thế giới quan, một cách nhuộm màu định ra bộ màu của kho dữ liệu của họ. Ai ai đều tin chắc kho dữ liệu của mình không chủ quan, và nó là cách duy nhất nhìn đời đúng đắn. Do đó, họ không bao giờ tự hỏi quan niệm căn bản về cuộc đời của họ có đúng hay không. Quan niệm căn bản này chính là nền tảng của kho dữ liệu, nó nhuộm màu mọi thứ trong đó. 

Rơi vào phản tình thương

Khi một người chấp nhận cái nhìn hạn hẹp như vậy thì họ không tránh rơi vào rung động của phản thình thương. Khi con chấp nhận một cái nhìn hạn hẹp và coi nó là sự thực bất biến – và chỉ có nó là đúng –  thì con sẽ phải đối diện sự kiện có nhiều cái nhìn khác trên thế gian này. Do đó, con sẽ bị rơi vào tranh chấp nhị nguyên vì phải bảo vệ quan điểm của mình trước những quan điểm ngược hoặc khác quan điểm của con. Cũng có thể là con muốn đạp đổ những quan điểm đó, hay đi tới muốn đạp đổ hay giết những người chủ trương hay tin vào chúng.

Cảm xúc bị đe dọa bởi quan điểm khác – định kiến giới hạn khác, hay thế giới quan khác – là chỉ dấu phản thình thương. Đó là chỉ dấu con đã bị các thày giả chủ trương phản tình thương quyến rũ, bị cuốn hút bởi tâm thức phản tình thương, và đã để tâm thức này ảnh hưởng kho dữ liệu, có thể là đã cho nó làm nền tảng của kho dữ liệu của con. Nó đã nhuộm màu cốt lõi thế giới quan của con, cách con nhìn thế gian, Thượng đế và người khác. Nó nhuộm màu cách con nhìn chính mình và liên hệ với thế gian, người khác và Thượng đế, và ngay cả cách con liên hệ với chính mình tức là cách con tự đánh giá mình.

Điều mà thày cố trình bày ở đây là khi con rơi vào trạng thái tâm thức đó thì không thể giao tiếp từ trái tim. Như các thày đã nói trước đây, giao tiếp từ trái tim đặt căn bản trên quan niệm duy nhất, tức là cốt lõi con người mình là một với tất cả mọi sự sống. Nếu con muốn tiếp cận cái duy nhất đó – tức là chấp nhận cái duy nhất, cho nó tuôn chảy trong con và biểu lộ qua con – thì con phải chịu chất vấn kho dữ liệu, thế giới quan của con và tự hỏi: “Nó dựa trên tình thương hay phản tình thương?”. Các con yêu dấu, tình thương thật sự, tình thương chân chính, tình thương sống động, là tình thương vô điều kiện.

Vì sao tình thương bị hiểu lầm

Nếu con nhìn thế gian thì sẽ nhận ra là trong số các khả năng hay đặc tính thì tình thương có lẽ bị ngộ nhận nhất. Vần đề là vì con người muốn hiểu tình thương là gì. Con người xem thế nào là hiểu? Họ coi nó là một hoạt động của trí năng được thi hành bằng cách so sánh với những gì có trong kho dữ liệu. Do đó tình thương sẽ bị nhuộm màu bởi thế giới quan là nền tảng của kho dữ liệu. nhưng tình thương cũng bị nhuộm màu bởi các kinh nghiệm cũ về tình thương, hay là cái gì được coi là tình thương, trên địa cầu.

Thực tế là rất ít người trên địa cầu đã trải nghiệm tình thương vô điều kiện trong cõi vật chất.  Ta cũng có thể nói là hình thái trong sạch nhất của tình thương vô điều kiện không thể bộc lộ trên trái đất vì rung động của trái đất quá thô đặc. Tuy thế, ta vẫn có thể thấy vài hình thái – như là bóng dáng – của tình thương vô điều kiện. Đa số chưa trải nghiệm tình thương này, vì họ chỉ biết tình thương có điều kiện, tức là quan niệm trong kho dữ liệu là tình thương phải được bày tỏ như thế nào, được hình thành dựa trên thế giới quan và kinh nghiệm quá khứ của họ.

Khi một người tìm cách hiểu tình thương là gì, thì một cách đương nhiên và không ý thức, họ sẽ dựa trên kho dữ liệu của họ. Nhưng các con đã nhận ra ý của thày chưa? Kho dữ liệu được thiết kế và hình thành bởi trí năng, mà trí năng thì được thiết kế để giúp con người sống trong thế giới hình tướng trong đó mọi vật đều được phân biện do đặc tính và giới hạn của chúng.

Tình thương không có điều kiện.  Làm sao tình thương có thể bị giam vào kho dữ liệu, là cái gì được thiết kế để giúp con người sống trong thế giới vật chất? Các con có thấy chăng là không thể hiểu tình thương vô điều kiện bằng cách đó được. Hoặc là con người không hiểu tình thương là gì – và có nhiều người đã chịu thua không muốn hiểu – hoặc là họ tưởng họ hiểu tình thương là gì. Nhưng thực sự là họ chỉ hiểu một cái gì do kho dữ liệu chế ra và được họ phóng lên Thượng đế.

Hãy để tình thương tuôn chảy

Nếu con có một người trên địa cầu nhìn mặt trời qua cặp kính màu đỏ và tin chắc là mặt trời màu đỏ, trong khi con thì không đeo kính và thấy rõ mặt trời trên bàu trời như thế nào, thì dĩ nhiên là con thấy rõ người ấy buồn cười quá.  Con có thấy chăng là có rất nhiều người trên trái đất đang nhìn thế gian và tình thương qua kính màu? Họ khẳng định rằng tình thương là như vậy, sự sống là như vậy, Thượng đế là như vậy, người khác là như vậy. Những người này không để hòa điệu cùng tình thương vô điều kiện. Họ không thể nhận được nó, họ không thể kinh nghiệm nó.

Họ cũng không thể cho tình thương vô điều kiện, vì họ không thể để cho nó không có điều kiện, và để nó tuôn chảy và biểu lộ qua họ một cách vô điều kiện. Thày không muốn nói là tình thương vô điều kiện lúc nào cũng giống nhau, nhưng trong mọi hoàn cảnh, nó đều thể hiện qua hành động nâng cao người khác lên, tùy trình độ tâm thức của họ lúc đó.

Trong khi đó thì con người luôn luôn tìm cách biểu lộ tình thương theo hình ảnh mà họ có trong kho dữ liệu. Điều này dĩ nhiên có nghĩa là họ sẽ phải điều khiển tình thương. Và cũng có nghĩa là họ tự cắt rời khỏi Dòng Sông Sự Sống, là dòng tình thương vô điều kiện – là cái gì không điều khiển được, không thể điều khiển được, vì nếu như vậy thì nó đã không còn là vô điều kiện nữa.

Nếu con thực sự muốn giao tiếp từ trái tim, thì con hãy suy ngẫm về tình thương vô điều kiện và so sánh nó với ý kiến của con về tình thương. Con phải chịu chất vấn kho dữ liệu của con và nhận ra là nó đã nhuộm màu quan điểm của con về tình thương ra sao. Chính nó đã ngăn cản không cho con mở tâm đón nhận dòng tình thương vô điều kiện, và cũng không kinh nghiệm là con đang được thương vô điều kiện.

Những gì con làm cho người khác

Ki-tô có nói: “Con hãy làm cho người khác những gì con muốn họ làm cho mình”. Ý nghĩa thực sự của câu này là những gì con làm cho người cho thấy những gì con đã làm cho chính mình – một cách vô ý thức. Khi con thiết lập một kho dữ liệu và dùng nó để phán xét người khác, con có thấy điều đương nhiên là người đầu tiên bị bỏ vào kho dữ liệu chính là con?

Điều tự nhiên là con đã phán xét chính mình trước khi con bắt đầu phóng phán xét này tới người khác. Khi con phán xét người khác thì con đã nhốt mình vào một hộp tư tường khiến con không kinh nghiệm được tình thương vô điều kiện của Nguồn cội của mình. Do đó, con không kinh nghiệm được tình thương vô điều kiện và cứ luôn luôn cố biện minh cho tình thương có điều kiện của mình.

Làm sao vượt qua bế tắc này? Làm sao ngưng cái vòng luẩn quẩn này? Ta có thể bắt đầu bằng cách dùng tâm – không phải là dùng trí năng, nhưng dùng chân tâm – để hiểu vấn đề là gì và nhận ra nhu cầu vượt lên trên kho dữ liệu và tách ra khỏi các phin lọc. Sau đó con cứ tiếp tục tách ra cho tới khi con đứng xa đến độ con có thể nhìn quá các phin lọc, và bắt đầu thấy thế giới thoáng hiện đằng sau các phin lọc, đó chính là thế giới thực.

Lúc đó con sẽ thấy mặt trời như nó thực sự là, thấy chân tâm của con như nó thực sự là, và kinh nghiệm được tình thương vô điều kiện mà chân tâm dành cho con. Con sẽ chợt tỉnh ngộ và nhận ra sự thực tuyệt đối và kỳ diệu là Hiện diện TA LÀ của con không nhìn thế giới qua các phin lọc mà tâm phàm của con đã tạo ra. Đây là một điều không dễ nhận ra ngay, ngay cả khi đã trực diện những điều thày đang giảng. Một người thường cần nhiều năm, có khi là nhiều kiếp, mới có thể tách đủ ra khỏi tự ngã để cái Ta biết của người đó nhận ra là tự ngã không phải lúc nào cũng đúng.

Tự ngã không ảnh hửơng được thực tại

Con hãy nhìn những người đang bị chìm đắm vào một tranh chấp nào đó. Cái Ta biết của họ hoàn toàn đồng hóa với tự ngã và cách tự ngã nhìn cuộc đời. Đối với họ, bảo vệ tôn giáo hay ý thức hệ là một vấn đề sinh tử, và họ có thể đi tới giết người để làm chuyện này.

Con là những người tâm linh nên dĩ nhiên là con đã bắt đầu tách ra khỏi tự ngã, tức là con đã thấy là tự ngã không phải lúc nào cũng đúng. Nhưng con cũng nên thận trọng và nhận ra điểm tế nhị là các người tâm linh cần nhận ra – cần trải nghiệm – các giới hạn của tự ngã như một sự thực tuyệt đối, không thể chối cãi.

Các con hãy nhớ lại thời Trung cổ khi con người tin rằng vũ trụ rất nhỏ và quả đất là trung tâm vũ trụ. Và các con hãy nhìn lại thời nay khi mọi người từ khi bắt đầu khôn lớn đều biết rằng quả đất chỉ như là một hạt bụi nhỏ trong vũ trụ bao la gồm nhiều tỷ thiên hà. Bây giờ các con hãy thấy là hiện nay có nhiều tỷ người trên địa cầu vẫn bị chìm đắm trong niềm tin rằng nếu họ cầu Thượng đế hay làm một số nghi lễ nào đó, họ sẽ điều khiển được Thượng đế và khiến ngài cho họ gì họ muốn.

Đây chính là điều mà con cần nhận ra – đó là tự ngã hoàn toàn không có quyền gì trên thực tại cả. Tự ngã có thể cả quyết cách nó nhìn thế gian là đúng, nhưng đó vẫn chỉ là một ảo tưởng. Bên ngoài vũ trụ song hành mà tự ngã tự tạo ra có một vũ trụ thực hoàn toàn không bị chi phối bởi nó – giống như Mặt trời không bị ảnh hưởng bởi bất cứ chuyện gì xảy ra trên địa cầu. Con có nghĩ rằng Mặt trời bị ảnh hưởng bởi sự việc hôm nay là một ngày mây mù? Chắc hẳn là con cũng nhận ra là tuy chỗ con ở có vài đám mây, nhưng cũng có rất nhiều vùng đất rộng trên địa cầu đang không có mây.

Tình thương vô điều kiện không có điều kiện

Khi con bị chìm đắm vào thế giới quan của con – tức là khi con bị kẹt trong quan điểm tự ngã và kho dữ liệu bé nhỏ của con là trung tâm vũ trụ – thì con không thể trải nghiệm tình thương vô điều kiện. Con yêu dấu, tình thương vô điều kiện không có điều kiện nào hết – tức là nó tỏa xuống tất cả mọi người trên địa cầu 24 tiếng mỗi ngày.

Con thực sự không thể rút vào bất cứ bầu cõi nào – trong thế giới vật chất hay cõi nào khác – mà trong đó không có tình thương vô điều kiện của Thượng đế. Điều này không thể xảy ra được. Làm sao ngăn được cái gì vô điều kiện? Nó xuyên qua tất cả mọi điều kiện! Con có thể nghĩ là con đang tách ra khỏi nó, nhưng con chỉ tách ra vì con nhìn thế gian qua kho dữ liệu đang nói với con: “Tình thương là thế này thế kia, nó không là thế này thế khác.”

Khi con giao tiếp với người khác, lẽ dĩ nhiên là con giao tiếp qua kho dữ liệu của con. Và người kia giao tiếp với con qua kho dữ liệu của họ. Đó là lý do tại sao con thấy những người có kho dữ liệu hoàn toàn khác nhau hay xung đột với nhau. Đó là lý do tại sao con thấy con người hay tụ họp với những người có kho dữ liệu giống họ, đó là để tránh những xung đột tai hại nhất. Nhưng con cũng thấy là khi mình tụ họp với người có cùng ảo tưởng với mình thì mình khó vượt qua các ảo tưởng này. Khi các người tâm linh hay tôn giáo trên thế giới củng cố cho nhau ảo tưởng của họ thì họ ngăn trở tiến bộ tâm linh của họ – vì họ thuyết phục lẫn nhau là quan điểm của họ về thực tại là chân lý duy nhất.

Hãy đừng đứng tách ra

Các thày đã cố ý không muốn phong trào này có một hình ảnh đậm nét. Các thày không muốn các con cảm thấy mình khác các người tâm linh khác, và dĩ nhiên là sẽ nghĩ mình hơn người khác vì mình có một số giáo lý cao siêu. Các thày muốn các con giao tiếp từ trái tim bằng cách hòa điệu với chân ngã và để kinh nghiệm tình thương vô điều kiện biểu lộ, và sau đó trải nghiệm – không bằng trí năng suy luận mà qua kinh nghiệm trực tiếp – là con hơn cái thể hiện vật chất này.

Lúc đó, con sẽ có thể tạo cho mình thói quen, là mỗi khi con gặp người khác, con không phản ứng theo những gì họ nói, họ làm mà cũng không theo rung động bên ngoài hay trạng thái tâm thức của họ. Trái lại, con tạo thói quen hòa điệu với cái ta vô biên của mình. Con cũng có thể nhận ra rằng người kia – bất kể hình tướng bên ngoài và biểu hiện của họ ra sao – cũng có một cái ta vô biên.

Khi con cảm thấy có xung đột với người khác thì con có thể xin cái ta vô biên của mình giao tiếp với cái ta vô biên của họ, và đem tối đa cảm nhận hợp nhất xuống cái ta-ý-thức của họ. Con sẽ thấy là nhiều xung đột sẽ được giải quyết một sớm một chiều khi họ có tâm thức mới. Và dĩ nhiên cũng là vì chính con cũng có tâm thức mới hai bên không là đối thủ của nhau. Mọi người chắc chắn đều liên đới trong thế giới vô biên, dù rằng có vẻ rất tách biệt trong thế giới vật chất và ảo tưởng này.

Kho dữ liệu đánh bẫy con như thế nào

Tác dụng của kho dữ liệu là tâm vô thức của con lúc nào cũng nỗ lực so sánh mọi chuyện với những gì có trong kho dữ liệu. Những gì có trong kho dữ liệu là những gì đã xảy ra trong quá khứ. Do đó, con không kinh nghiệm giây phút hiện tại như nó đang là. Con không kinh nghiệm thực tại với tâm trẻ thơ, như Giê-su đã giảng. 

Con kinh nghiệm thực tại qua phin lọc của quá khứ chứ không kinh nghiệm giây phút hiện tại. Con phóng chiếu lên thực tại một hình ảnh dựa trên những gì có trong kho dữ liệu. Tất cả mọi thứ trong thế giới vật chất đều được tạo ra từ ánh sáng Mẫu-Vật, là một tấm gương vũ trụ phản chiếu những gì phóng chiếu tới nó. Nếu con cho phép quá khứ phóng chiếu tới giây phút hiện tại rằng thế giới có nhiều người không tốt đang muốn hại mình, thì con sẽ thu hút những người sẵn sàng đóng vai đó.

Người đó có thể có một nhu cầu được hình thành bởi quan điểm thế giới có nhiều người muốn làm nạn nhân, hoặc không muốn tự lấy quyết định và cần người khác lay chuyển và bảo phải làm gì. Đây là hiện tượng tương ứng tức là người có nhu cầu điều khiển người khác sẽ thu hút người có nhu cầu bị điều khiển, làm nạn nhân.

Khi nào thì con sẽ được tự do? Con sẽ được tự do khi con chịu nhìn vào kho dữ liệu và nhìn vào từng hồ sơ từng ngăn tủ trong tiềm thức của con. Con có thể vào đó và dọn dẹp, vứt đi các mảnh tài liệu cũ kỹ và nhận ra con không cần phải giữ tờ biên nhận của tiệm chạp phô 15 năm về trước.

Cũng vậy, quyết định mà con lấy dựa trên những gì xảy ra 15 kiếp về trước cũng không cần ở đó nữa.

Hãy sẵn sàng kinh nghiệm tình thương vô điều kiện

Điều cơ yếu mà thày muốn nói ở đây là con chỉ có thể giao tiếp từ trái tim khi con kinh nghiệm được tình thương vô điều kiện và con sẵn sàng gửi tình thương vô điều kiện đó tới người khác. Con sẵn sàng không phán xét họ, không dán nhãn họ, và cho phép họ là gì họ là ngay lúc này. Khi đó, như thày MORE đã giảng, con cũng sẽ cho phép con là gì con là bất kể người kia chọn lựa ra sao, vì con nhận ra mình có thể chọn phản ứng của mình bất kể trạng thái tâm thức của họ.

Nếu con không làm vậy thì con đã mặc nhiên cho phép tất cả các người đã đối xử với con một cách nào đó trong quá khứ quyết định phản ứng của con đối với người trước mặt đang có vẻ đối xử tương tự. Nhưng người này thực ra chỉ biểu lộ trạng thái tâm thức của mình không liên quan gì đến các người kia trong quá khứ. Người đang đứng trước mặt con không liên hệ gì đến những người mà con đã gặp trong quá khứ, quả thật là không có liên hệ khách quan nào. Các người này chỉ có liên hệ trong tâm con, vì con cứ thu hút một loại người vì con không giải quyết được phin lọc trong kho dữ liệu cho rằng thế giới toàn những người như vậy.

Giao tiếp từ trái tim là thể hiện tình thương vô điều kiện. Tình thương vô điều kiện có nghĩa không lệ thuộc quá khứ. Đây không có nghĩa là con không nhớ quá khứ, mà có nghĩa là con không mang vết thương vết thẹo tình cảm và các định kiến khiến con phản ứng một cách nào đó khi con gặp một người nhấn các nút được tạo ra trong quá khứ.

Hãy tiếp xúc hiện tại ngay lúc này

Con không có nút nào hết. Con có thể nói như sau: “Bất kể chuyện gì xảy ra trong quá khứ, ngay lúc này, tôi không sống lại quá khứ. Tôi sống giây phút hiện tại với tâm như một tấm bảng trắng, với tâm ngây thơ của đứa trẻ.” Khi con làm thế thì con tự giải thoát khỏi khuôn nếp phản ứng cũ và tìm ra một phản ứng cao hơn khi con gặp một hoàn cảnh giống như một hoàn cảnh con đã gặp trước đây. Khi con chứng tỏ con muốn chọn một phản ứng cao hơn thì con mở cửa để tình thương vô điều kiện tràn vào, vì con không tìm cách bảo vệ mình và ngăn chặn người khác. Ngược lại con đang tìm cách nâng người khác lên, và đó chính là điều kiện khiến tâm con mở ra đón nhận dòng chảy của tình thương vô điều kiện.

Con có thấy là những gì thày vừa nói có vẻ mâu thuẫn chăng? Thày nói là có một điều kiện để tâm con mở ra đón nhận dòng chảy của tình thương vô điều kiện. Nhưng điều kiện này là con không có điều kiện – tức là con để cho thình thương tuôn chảy và bày tỏ vô điều kiện. Khi con bị các điều kiện của kho dữ liệu và quá khứ giam hãm thì con muốn điều khiển cách tình thương thể hiện qua con. Đó chính là lúc con khóa dòng chảy vì con đã đặt điều kiện là tình thương phải thể hiện ra sao. Tình thương vô điều kiện sẽ rút lại và nói: “Tôi tôn trọng chọn lựa của bạn. Nhưng tôi sẽ có mặt ngay khi bạn quyết định thay đổi chọn lựa, và cho phép tôi tuôn chảy qua bạn.”

Con chỉ có thể có khi con cho

Con có thể phối hợp các điều thày giảng và rút ra hai kết luận quan trọng chăng? Tình thương vô điều kiện muốn được tuôn chảy để nâng mọi sự sống lên. Nếu con ra điều kiện trong tâm con và dùng để phán xét người khác, thì tức là con nói: “Tôi không thể bày tỏ tình thương với một người trừ khi người đó hội đủ một số tiêu chuẩn. Người nào không hội đủ tiêu chuẩn phải bị trừng phạt hay điều khiển.” Như vậy là con đã không cho tình thương một cách tự do và vô điều kiện, và khi con không cho người khác tình thương vô điều kiện, thì tình thương không thể tuôn chảy qua con – và do đó con không kinh nghiệm được tình thương vô điều kiện.

Con có thấy ý nghĩa ẩn dụ trong bài cầu thỉnh: “Vì những gì ta cho, ta chắc chắn sẽ nhận”? Nếu con muốn được tha thứ, hãy tha thứ người khác. Nếu con muốn được tình thương, hãy cho người khác tình thương – nhưng hãy cho vô điều kiện. Tha thứ người khác vô điều kiện thì mình sẽ được tha thứ vô điều kiện. Con có nghe Ki-tô nói: Chớ phán xét, vì mình sẽ bị phán xét. Vì những gì con làm cho người khác thì con sẽ hứng chịu, vì thế giới này chỉ là một tấm gương.

Con hãy sẵn sàng nhận ra là nếu con không kinh nghiệm tình thương vô điều kiện, đó là vì có điều kiện nào đó trong kho dữ liệu của con đang làm nghẽn dòng chảy của nó. Con đang tìm cách điều khiển dòng chảy vì con muốn kềm chế người khác để khiến họ phải quy phục thế giới quan của con, và như thế giúp con cảm thấy thế giới quan của mình không bị đe dọa. Con hãy sẵn sàng chất vấn thế giới quan của con, nhưng thêm nữa con hãy xét xem con có thể rũ bỏ nó luôn chăng. Con hãy quan sát những người đang chìm đắm trong hệ thống tín điều của họ.  Nhiều người không thể đột nhiên rũ bỏ nó, vì làm vậy thì họ sẽ bị khủng hoảng bản sắc, tức là không còn biết mình là ai nữa.

Tâm linh có thật

Ý nghĩa thật của con đường tâm linh là con sẽ dần dần tiến tới chỗ con có thể làm giống như Giê-su khi trên cây thập tự.  Giê-su đột nhiên bừng thấy là mặc dù thày đã đạt được tâm Ki-tô tới một mức cao trong kiếp sống này, nhưng thày vẫn còn chờ mong là mọi phải diễn tiến một cách nào đó. Chính những chờ mong này đã trói buộc thày vào địa cầu. Đó là lúc thày quyết định – đây là hành động buông bỏ tối hậu – để cho quá khứ hoàn toàn chết đi, và đó cũng là lúc thày được tái sinh.

Nếu lúc đó Giê-su không để cho quá khứ chết hết đi, thì con nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra? Thày sẽ phải đầu thai trở lại để vượt qua quá khứ đó, cho tới khi thày sẵn sàng chất vấn cách thày nhìn thế giới và nhận ra là nó không có thực.

Có người cho rằng Giê-su vốn là Thượng đế hay là con Thượng đế, và do đó thày được bảo đảm chiến thắng và thăng hoa. Nhưng không có gì bảo đảm cả trong thế giới tự quyết này. Giê-su khi trên thập tự có thể từ chối không rũ bỏ hết quá khứ, và nếu vậy không trở thành Giê-su Ki-tô, tức là tiếp tục là vị mà có người đã gọi là Giê-su người thợ một, tuy rằng thày có thể thổ lộ sự thực là trong kiếp đó Giê-su không hề làm nghề thợ mộc.

Cho mọi người chọn lựa thực

Ta có thể nói mục đích của con đường tâm linh là vượt qua các điều kiện nơi mình để rồi giản dị thấy thế giới như nó là, chấp nhận nó như nó là, chấp nhận là cái gì đang là thể hiện cái không thật, và cái không thật thì không bao giờ thường hằng. Do đó, mỗi lúc con đều cho phép tình thương vô điều kiện thể hiện để mọi người có thể chọn giữa tình thương và phản tình thương.

Con không đi vào rung động của phản tình thương và tìm cách buộc người khác phải chọn lựa một cách nào đó. Con cho họ cơ hội lựa chọn. Con sẵn sàng để tình thương phát biểu rất thẳng thắn – nếu cần – khiến họ phải trực diện chọn lựa đó bằng cách chứng minh rõ ràng  – nếu cần – là họ có thể có chọn lựa khác. Nhưng con không vượt qua lằn ranh và muốn ép buộc họ. Con giữ tự do của mình để con có thể ở trong tình thương vô điều kiện bất kể lựa chọn của họ.

Dĩ nhiên là con có thiện ý muốn giúp người khác –  và con có thể đã bỏ ra nhiều công sức giúp người đó nhận ra điều gì – nhưng nếu họ không chịu nhận ra thì con sẽ cảm thấy như thế nào? Nếu con có tình cảm tiêu cực hay dính mắc thì con đã không hoàn toàn ở trong tình thương vô điều kiện, và con cần làm việc chỉnh sửa tâm mình. Con cần phải xem lại kho dữ liệu của mình và nhận ra tại sao con đã tạo hình ảnh là người quanh mình – mà con biết là Thượng đế đã cho họ quyền tự quyết – phải phản ứng một cách nào đó, phải chọn lựa một cách nào đó khi con nói hay làm điều gì.  Vì sao con đã cho phép mình cất vào kho dữ liệu, vào thế giới quan của mình, các yếu tố phản tình thương này?

Nếu con không chờ mong thì con không thể bị thất vọng, bất kể người kia làm gì hay không làm. Con có thấy chăng là chỉ khi nào con không bị thất vọng hay bị ảnh hưởng một cách tiêu cực bởi người khác thì con mới thật sự có tự do. Chỉ khi đó con mới ở trong tình thương vô điều kiện. Con yêu dấu, làm sao con có tự do? Chỉ có cách duy nhất là ở trong tình thương vô điều kiện. Chỉ ở nơi không điều kiện thì con mới được thật sự tự do.

Hãy nhận Hiện diện của thày

Thêm vào lời nói, thày đã neo chặt Hiện diện của thày là hai yếu tố nam nữ, hai thể hiện nam nữ, của Tia sáng Thứ ba của Tình thương của Thượng đế. Con đã có cơ hội cảm nhận nó, nếu con chấp nhận nó. Nếu con không cảm nhận nó thì con nên biết là Hiện diện của thày vượt qua giới hạn của thế giới vật chất. Bất cứ lúc nào trong tương lai, con đều có thể cảm nhận Hiện diện của thày nếu con chịu mở tâm đón nhận. Nếu con chưa mở tâm được lúc này thì đừng nản chí, đừng để kho dữ liệu chế ra một phán xét. Con hãy nhìn nhận là con cần làm việc tảy rửa các điều kiện đang ngăn chặn con không nhận được tình thương vô điều kiện, và chấp nhận là con xứng đáng được nhận nó. Sau đó, con hãy ra sức làm việc, và nhận ra rằng khi con đã quét dọn đủ số các ngăn tài liệu thì Mặt trời của tình thương vô điều kiện sẽ chiếu sáng xuyên qua đám mây, và con sẽ cảm nhận được nó.

Con yêu dấu, thày LÀ một đấng vượt thời gian và không gian. Con cũng vậy, con vũng vượt thời gian và không gian. Con hiện đang chọn coi mình là một sinh thể bị thời gian và không gian giới hạn – và chọn lựa này hoàn toàn chấp nhận được – nhưng con nên biết đây không phải là chọn lựa duy nhất của con.

Thày niêm con trong ngọn lửa của Tình Thương Vô điều kiện của TA LÀ. Thày niêm các phong trào các người tâm linh đang đi tìm một trạng thái tâm thức cao hơn. Khi con tiếp tục hướng về tình thương vô điều kiện, thì ông hoàng thế gian sẽ tìm đến nhưng sẽ không nắm được gì nơi con. Mặc dù đại diện của hắn có thể gia nhập, nhưng họ sẽ không phá đổ được phong trào này. Họ sẽ ngừng được vòng xoắn đi lên đã hình thành và có tiềm năng gia tốc để trở thành vùng ánh sáng huy hoàng xóa tan màn đêm đang bao phủ quả đất. Đây là ánh sáng soi đường tới một thực tại mới, một cách hội tụ mới, một cách giao tiếp mới đựa trên tình thương vô điều kiện. Thày niêm các con trong tình thương đó.

Nhiều hơn là hiểu biết bằng trí năng

Bài giảng của chân sư thăng thiên Elohim Apollo qua trung gian Kim Michaels, ngày 1/1/2009. Bài này được xếp thành Chương 4 của quyển Làm sao giáo tiếp từ trái tim (How to Communicate from the Heart, Kim Michaels, 2014).

Tên ta là Apollo, TA LÀ và mọi người biết ta là Elohim của Tia Sáng thứ 2 của sự Minh Triết của Thượng đế. Ta đến đây để giúp các con hiểu ý nghĩa của Tia Sáng thứ 2 trong sự giao tế từ con tim.

Cái khó khăn con phải đương đầu là làm sao giữ được mình LÀ giữa cái tăm tối Không Là đầy dãy trên hành tinh này. Cái Không-Là này đã có mặt trên hành tinh này lâu đến độ các lực đằng sau nó tưởng rằng họ làm chủ hành tinh này và có quyền sở hữu luôn cả hành tinh này.

Họ không ngờ rằng đang có một nhóm người nhỏ vượt ra khỏi tầm kiểm soát của họ và chứng minh cho thế giới thấy rằng nhóm người này muốn là tình thương vô điều kiện dù hoàn cảnh bên ngoài có như thế nào chăng nữa.

Sự lạm dụng tôn giáo

Dù rằng con người sẽ đau đớn khi phải đối mặt với các vấn đề cá nhân của mình, con cần nhận ra rằng muốn cho nhân loại tiến lên và vượt qua các giới hạn, thì phải có những người chịu tiên phong làm mũi giáo dẫn đường và chứng minh rằng họ sẵn sàng giải quyết các vấn đề cá nhân của họ và như thế họ có thể tạo cảm hứng cho người khác làm theo.

Từ bấy lâu nay, các thầy đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần – trong những cảnh huống khác nhau và dùng những từ ngữ khác nhau – các thầy đã nói nhiều lần là trong một thời gian rất là dài những người thầy giả đã dùng tôn giáo để lừa dối con nghĩ rằng con có thể đi vào nước Trời mà không cần phải nhận ra cái xà nhà trong mắt con, không cần phải nhìn thẳng vào tự ngã của con.

Có nguyên cả một tâm thức như thế đè lên trên hành tinh này như một đám mây đen kịt. Có những người tâm linh hàng đầu cũng bị dụ dỗ tin rằng họ có thể tìm ra tôn giáo tối hậu hay người thầy tối hậu sẽ làm hết mọi việc cần làm dùm cho họ.

Hoặc họ tin rằng họ có thể tìm ra một công thức thần sầu giúp cho họ đi vào nước Trời mà không cần phải nhọc công làm cái công việc nhìn vào tự ngã của mình, vứt đi những quyết định cũ sai lầm, lấy những quyết định mới tốt hơn vì họ nhận ra được là những quyết định cũ của họ đã giới hạn họ – dù là chuyện nhận ra mình sai lầm cũng đã làm cho họ đau đớn.

Chỉ khi nào con chịu nhìn vào các lựa chọn cũ của mình trong thái độ trên thì con mới nhận ra được là con to lớn hơn cái bản sắc mà con đã tạo ra qua những lựa chọn cũ này. Con có thể vượt lên trên chúng, bỏ chúng lại đằng sau, vứt chúng vào đống lửa của cái Ta Là của con.

Trái tim đầy những gì?

Thày More đã xây một nền tảng vững chắc khi Thày nói tới ý chí của Thượng đế trong sự giao tiếp bằng trái tim. Thực ra có nhiều người trên thế gian này không muốn giao tiếp bằng trái tim. Ngay cả chuyện nối kết với cái Một của trái tim, họ còn không muốn nữa.

Chúng ta có thể mở rộng sự hiểu biết và nhớ lại lời dạy của Ki-tô. Thày nói rằng cái gì nó đầy ắp trong con tim sẽ tràn ra ngoài cửa miệng. Thật vậy, con tim có thể bị pha màu sắc của sự giận dữ hay tình cảm tiêu cực khác

Lẽ dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là con tim đã dính chặt với cảm xúc tiêu cực đó. Nên nhớ rằng con tim là cái cốt lõi của mình. Không có cái gì trên thế gian này chế ngự được cái cốt lõi. Điều này không có nghĩa là con cứ tiếp tục để cho luân xa trái tim của con bị nhét đầy cái nhìn tiêu cực và những rung động thấp kèm theo.

Con có thể thấy được những người trên thế gian này với con tim biểu lộ sắc thái phản-tình thương. Con tim họ mang cái nhìn cơ bản của họ về cuộc đời và thái độ cơ bản của họ đối với cuộc đời.

Họ có khuynh hướng phản ứng lại với cuộc đời một cách tiêu cực. Hoặc là họ phóng chiếu cái tiêu cực lên người khác. Đó là lúc cái miệng sẽ tuôn ra điều tiêu cực mỗi khi họ ở trong hoàn cảnh không đúng sự mong chờ của họ.

Lẽ dĩ nhiên là sự mong chờ này đến từ cái nhìn cuộc đời của họ. Họ đã chọn lựa nhìn cuộc đời như thế và họ cho rằng cách họ nhìn cuộc đời là sự thật tối hậu. Họ không thấy ra được là đây chỉ là một ảo tưởng không thật của tâm nhị nguyên mà họ tự nguyện cho đó là sự thật. Sau đó họ đã tự ý phóng chiếu cái ảo tưởng này lên trên ánh sáng Mẫu-Vật.

Một khi con tim đã bị pha màu sắc biểu lộ tiêu cực, những người này sẽ không chịu nhìn nhận là nó là ảo tưởng và không nhìn nhận rằng chính mình đã lựa chọn ôm lấy ảo tưởng này.

Ngược lại, họ sẽ phóng chiếu ra hình ảnh cho rằng mọi chuyện thật sự là như vậy. Bởi vì họ đang sống trong một thế giới song song của riêng họ với đầy sợ hãi, giận dữ hay bất cứ cảm xúc tiêu cực nào mà đã họ chọn làm thái độ căn bản của khi tiếp xúc với cuộc đời.

Hãy nhìn vào chính trái tim của con

Các con minh triết hơn vì các con đã bắt đầu trong lọc tim của mình. Các con đã bắt đầu vượt lên cao. Nhưng một số các con vẫn còn một phần nào yếu tố phản-tình thương trong luân xa trái tim khiến các con pha màu cái nhìn về cuộc đời của mình.

Điều Thày muốn giúp con hiểu ở đây là ánh sáng từ Hiện diện TA LÀ của con đầu tiên hết đi vào cái phòng bí mật trong tim của con rồi từ đó đi vào luân xa trái tim. Như vậy nếu trong luân xa tim của con có một yếu tố ảo tưởng không-thật, cái không-thật này sẽ pha màu ánh sáng ngay trong sự biểu hiện đầu tiên của nó trong con người thấp của con.

Đó là lý do tại sao rất khó mà thấy được những yếu tố ảo tưởng trong luân xa trái tim vì con cứ tin chắc rằng mọi chuyện nó phải là như vậy thôi. Con không muốn ngừng lại và nghĩ: “Có thể chăng, đây chỉ là một ảo tưởng?”

Con sẽ nghĩ là con không cần phải đặt vấn đề. Con cho rằng con đã giải quyết nhiều chuyện trong tâm lý của mình, con đã buông bỏ nhiều dính mắc, con đã buông bỏ nhiều ảo tưởng, cho nên cái yếu tố này trong con người con không cần phải tra vấn nó đâu.

Con cho rằng yếu tố này dựa trên sự thật. Con cho rằng trong nó có sự thật vì nó được thẩm thấu bởi ánh sáng đến từ Hiện diện TA LÀ. Con thấy được sức mạnh của ánh sáng nhưng lại không thấy được ánh sáng đã bị pha màu bởi cái ảo tưởng nhị nguyên mà con đã chấp nhận là sự thật.

Làm sao con có thể nhìn xuyên suốt và nhận ra được là chúng là những ảo tưởng cốt lõi trong con? Con nhận ra được sự thật khi con gặp một vị thầy sống. Ý của ta là người thày đó không nhất thiết phải là một vị có danh tiếng, chức tước, thẩm quyển hay học vấn cao.

Ý ta muốn nói là con gặp được một vị thày sống giả dạng dưới nhiều hình thái khác nhau. Thày More đã từng nói: “Nếu vị thày là một con kiến, thì hãy theo con kiến đó”, phải không con? Con còn nhớ câu chuyện cổ tích xưa về y trang mới của Hoàng đế trong đó đứa bé nhỏ xíu thốt lên: “Ủa sao hoàng đế đâu có mặc quần áo gì đâu?” 

Khiêm nhường là một đức tính cốt yếu trên con đường tu

“Con có sẵn sàng để cho người chung quanh con nói cho con biết điều mà con không thấy được?” Con có sẵn sàng để thấy một yếu tố ảo tưởng đã ăn sâu trong cốt lõi của con người thấp của con mà con không thấy nó là ảo tưởng và con nghĩ rằng con không cần phải đặt vấn đề với nó?

Những người đi tìm tâm linh muốn biểu hiện trọn vẹn tiềm năng của mình cần có can đảm phơi bày ra công chúng những dính mắc của mình và chứng minh cho mọi người thấy là họ sẵn sàng nhìn vào bất cứ khía cạnh nào của tự ngã của họ và họ sẵn sàng vượt lên trên chúng, vứt chúng lại đằng sau.

Làm như vậy sẽ tạo cảm hứng cho nhân loại tiến cao hơn. Họ sẽ thấy được rằng cái ảo tưởng cho rằng mình sẽ được cứu rỗi tự động mà không cần phải thấy cái xà nhà trong mắt của mình, cái ảo tưởng này quả thực chỉ là một ảo tưởng mà thôi. Đây là một sự dối trá, một con đường giả không đưa tới cứu rỗi, kéo họ ra khỏi con đường chân chính mà Ki-tô, Phật, Lão tử và bất cứ vị thày tâm linh khác đã chứng minh. Các vị thày này đã thật sự nối kết được và hiểu được mọi sự sống là một.

Nhận từ con tim

Khi con muốn người khác giúp con và nói cho con biết điều mà một mình con không thấy được, lúc ấy con cần bước lên bước kế tiếp. Con cần hiểu ra rằng chỉ có một cách giúp cho con nhìn thấy điều mà bây giờ con không thấy được là con phải vượt lên trên cái trí vỏ ngoài của con. Con phải cho phép người khác giao tiếp với con bằng con tim của họ và con cũng đón nhận họ từ con tim của mình. Giao tiếp là một tiến trình hai chiều, phải không con?

Ít ra thì phải hai chiều nếu muốn thành công. Thày muốn nói với con rằng giao tiếp bằng trái tim chỉ xảy ra nếu có dòng chảy từ Alpha tới Omega, dòng chảy của sự cho và nhận. Người kia  có thể đang muốn nói cho con một điều từ con tim của họ, khi họ đang kết nối với con tim của họ, nhưng nếu chính con không kết nối với trái tim mình và không chịu tiếp nhận từ trái tim mình, thì sự giao tiếp này không đem lại kết quả cho con thấy điều mà con không thấy được.

Lúc đó, con không lên cao được. Con sẽ đi xuống thấp hơn, con sẽ có phản ứng sợ hãi và tìm cách bênh vực cho cái mà mình không thấy được, bênh vực cái ảo tưởng mà mình tưởng là sự thật. Con đã từng thấy điều này lập đi lập lại ngoài đời khi người ta cứ khăng khăng bênh vực ảo tưởng của họ, tranh cãi là nó là sự thật hay cho rằng họ không có nhu cầu đặt vấn đề về các ảo tưởng này. Có khi họ còn đi tới cái cực đoan là tấn công những kia mà họ cho rằng đang tấn công họ hay tấn công ảo tưởng của họ, thế giới quan của họ, tôn giáo yêu dấu của họ hay ý thức hệ chính trị của họ.

Hãy khôn ngoan hơn tự ngã của con

Con cần khôn ngoan hơn. Con cần dùng sự minh triết của Tia sáng thứ 2 và nói: “Con sẽ cao hơn những người bênh vực ảo tưởng của họ. Con sẽ đi vào trái tim của mình. Con sẽ không đi vào cái trí phân tích và tìm cách bênh vực ảo tưởng của mình khi có người đang cố gắng nói cho con biết điều gì từ trái tim của họ.” Đôi khi có những người đang cố gắng nói một điều gì về con mà họ chưa hoàn toàn an trụ nơi trái tim họ. Họ có thể hơi bực bội, hay nóng giận vì họ đã phải chịu đựng con trong một thời gian nào đó. Họ đã chán quá rồi và bây giờ thị họ muốn nói ra. Vì họ bực bội hay nóng giận nên nhiều người vịn vào đó để không chịu lắng nghe họ.

Nhưng thày nói với con, nếu con khôn ngoan thì con sẽ nói, nếu có ai nói điều gì với con, con sẽ bỏ qua những thiếu sót của người đó. Con sẽ bỏ qua sự rung động của họ lúc đó. Con sẽ vượt lên trên các lời nói. Con sẽ đi vào trong tim mình và hỏi: “Có điểm gì trong đây là thật, là điều mình cần nhìn thấy? Người này nói có lý không? Người này có thấy được điều gì bên trong mình mà mình cần phải sửa đổi không, dù là cái thấy của người này không hoàn hảo?”

Con nên khôn ngoan mà nhìn ra một cái bẫy khác của tự ngã. Tự ngã có khuynh hướng dùng cái trí phân tích để tranh luận bênh vực hay chống lại các tin tưởng của con, để tranh luận bênh vực hay chống lại điều gì người khác nói. Con nên có sự minh triết và áp dụng những bài pháp mà các thày đã dạy con về tâm nhị nguyên [Xem các cuốn sách, Giải thoát khỏi Ảo tưởng của Tự ngã, Giải thoát khỏi Trò chơi của Tự ngã, Giải thoát khỏi Bi kịch của Tự ngã]. Con cần nhận ra rằng tâm nhị nguyên có thể chứng minh bất cứ cái gì là đúng. Bởi vì tâm nhị nguyên đặt nền tảng trên khả năng phân tích của trí, là cái trí năng.

Con phải nhận ra sự hạn chế của trí năng. Thày không có ý nói là trí năng là một cái gì xấu mà con phải né tránh. Nó là một phần cần thiết trong tâm con người. Nhưng nó được đặc biệt tạo dựng để xử lý thế giới hình tướng. Như các thày đã giảng dạy rất sâu sắc trong các cuốn sách của Mẹ Mary và Maitreya, thế giới hình tướng có đặc tính là mọi sự vật trông khác nhau, cái này nhìn khác hẳn cái kia khi so sánh chúng với nhau.

Cái trí phân tích được tạo dựng để xử lý những sự khác biệt này. Nó phân tích và phân loại những đặc tính khiến cho hình tướng này khác với hình tướng kia. Nó giúp cho con xét đoán để biết được cái gì tích cực hay không tích cực, cái gì giúp con và mọi sự sống mở rộng ra và cái gì hạn chế con và mọi sự sống. Cái trí có thể làm được một phần nào việc này, đặc biệt là khi nó nằm dưới sự hướng dẫn của con tim.

Lẽ dĩ nhiên, giống như trường hợp mọi khả năng khác, cái trí có thể cho mình là cứu cánh. Con đã từng thấy những người chưa bao giờ kết nối với trái tim của họ. Họ tin rằng cái trí cao cấp và không cần chịu sự điều khiển của trái tim vì cái trí hoàn toàn có khả năng biết được chân lý một mình nó. Như thày đã nói, cái trí được tạo dựng để giúp con phân biệt những vật trong thế giới hình tướng.

Cái trí không thể khám phá ra chân lý tối hậu, sự thật tối hậu. Nó còn không hiểu nổi các khái niệm này. Con đã từng thấy nhiều người bị giam hãm trong cái trí. Họ có thể tranh cãi hàng giờ đồng hồ về một ý tưởng hay thế giới quan, dù là sâu thẳm trong họ, họ biết là chẳng có chân lý tối hậu nào cả và cũng chẳng có một luận cứ tối hậu nào cả. Rốt cuộc thì họ cũng thấy rằng khi dùng cái trí, bất cứ ý kiến nào cũng có thể cãi ngược lại với một ý kiến khác và họ đi đến chỗ tin rằng chẳng có chân lý tối hậu nào cả.

Biết chân lý tối hậu

Làm sao con có thể kết nối được với chân lý tối hậu? Con yêu dấu, chỉ qua con tim của con mà thôi. Như thày More đã nói, chỉ có con tim mới kết nối được với sự thật tối hậu là mọi sự sống là một. Lẽ dĩ nhiên khi con nhận ra điều này, con đã có cái biểu lộ tối hậu của minh triết. Con thấy được là một mặt con có cái biết của cái trí, rất giỏi trông thấy các chi tiết nhưng rất dở không thấy được bức tranh tổng thể, vì chỉ có trái tim mới thấy được cái tổng thể. Lẽ dĩ nhiên là cái trí luôn luôn chú tâm vào những điểm khác biệt, nó đã được tạo dựng để phân tích và phân loại những điểm khác biệt. Do đó, nó không thể thấy, không thể nhìn sâu sắc để nhận ra sự thật bên dưới là mọi sự sống là một.

Những người bị giam hãm trong cái trí thấy họ tách biệt khỏi mọi người, tách biệt khỏi Thượng đế. Rồi thì, sự hiện hữu của Thượng đế và bản thể của Thượng đế trở thành một đề tài tranh luận của trí năng.

Thay vì tìm cách nối kết với Thượng đế, trải nghiệm trực tiếp Thượng đế trong tim mình, thì cái trí tranh cãi xem hình ảnh nào của Thượng đế là hình ảnh tối hậu của vị Thượng đế xa xăm ở bên ngoài con người. Đây là điều mà các nhà trí thức thần học đã làm trong mấy ngàn năm qua. Họ không bước được một bước nhỏ tới sự trải nghiệm trực tiếp về cái duy nhất của Cái Là của Thượng đế.

Vượt lên trên chờ đợi

Câu hỏi mấu chốt là: “Con có muốn giao tiếp với mọi người từ con tim hay không?” Câu trả lời của con sẽ đưa con tới mức minh triết tương ứng. Hoặc là con tiếp tục thấy mình tách biệt với người khác. Hoặc là con thấy hay bắt đầu thấy là bên dưới là mọi sự sống là một. Con có muốn nâng cao tự ngã của mình? Con có muốn bênh vực cho tự ngã tách biệt của mình? Con có muốn bảo vệ cho mình không bị tổn thương? Hay là trong mọi tình huống, con đều tìm cách nâng cao mọi sự sống?

Thày khuyên con nên đọc đi đọc lại nhiều lần những lời giảng của thày More bởi vì trong đó có những chìa khóa tâm linh mà ít ai nhận ra được lần đầu. Thày khuyên con quán các lời của thày More với trái tim của con cho tới khi con nhận ra sự thật bên dưới những lời nói của thày. Khi nào con thật sự trải nghiệm sự thật và sự minh triết của quyền tự quyết, thì con hiểu rằng không có bất cứ lý do gì, không có cái gì biện minh được cho sự chờ đợi rằng mọi sự phải xảy ra như thế này hay như thế kia trên trái đất này. Khi con có minh triết, con cũng hiểu rằng nói như trên không có nghĩa là con sống và nhắm mắt chấp nhận tất cả mọi thứ đang xảy ra mà không có sự phân biện tâm linh.

Thật vậy, làm sao mọi sự có thể thay đổi được nếu không có những người tiên phong muốn có cái gì cao hơn, muốn vượt lên trên những gì đang được biểu hiện ngay bây giờ? Con cần nhận ra rằng con không thể nào thay đổi được mọi chuyện trên trái đất này, nếu con có một chuẩn mực, rồi con so sánh người khác và hành động của họ với chuẩn mực của con, con phê phán họ với cái tâm phê phán phàm phu và con kết luận họ sai trái vì họ không đạt được tiêu chuẩn của con đặt ra cho họ. Những sinh thể sa ngã cũng đã muốn thay đổi trái đất, một số tin rằng họ sẽ cứu rỗi nhân loại qua sự kiểm soát, và áp lực mọi người phải hành động theo một hướng nào đó. Họ cho rằng nếu mọi người sống theo chuẩn mực bên ngoài, họ sẽ được vào cõi Trời.

Tạo cảm hứng thay vì áp lực

Lẽ dĩ nhiên sự thực là chỉ có một cách đi vào nước Trời là nhận ra rằng con chưa bao giờ tách biệt khỏi nước Trời vì mọi sự đều là nước Trời và chỉ có nước Trời mà thôi. Cách duy nhất để trái đất này thay đổi tốt lành hơn không thể dùng áp lực mà phải tạo cảm hứng cho mọi người lấy những quyết định tốt hơn. Những người cho mình là thày là những vị thày giả vì họ đã tách họ ra khỏi cái một của mọi sự sống.

Do đó, họ tìm cảch kiểm soát, áp lực người khác và tước đoạt quyền tự quyết của người khác. Con chỉ có thể bước vào nước Trời bằng sự tự quyết của con. Con chọn đi vào nước Trời, ngược lại với con chọn không muốn đi vào nước Trời. Con yêu dấu, con không thể nào áp lực người khác lấy chọn lựa đó. Con có thể áp lực người khác làm một hành động nào đó, con có thể áp lực họ chấp nhận một số tin tưởng nào đó. Nhưng con không thể áp lực họ là người như thế này hay người như thế kia.

Họ phải lấy quyết định tự do là họ muốn là người như thế đó. Nếu con nghĩ rằng con làm việc cho ánh sáng, cho các chân sư, làm việc để nâng cao toàn thể nhân loại, mà con có cái ý niệm vi tế muốn áp lực người khác chấp nhận một số tin tưởng, thậm chí áp lực họ đi theo một tôn giáo nào đó, thì thực ra con không làm việc cho ánh sáng, con đang chống lại ánh sáng.

Đây là trường hợp của nhiều người có ý hướng tốt trong thế giới tâm linh nhưng lại bị kẹt trong cái ảo tưởng về sự cứu rỗi tự động vỏ ngoài. Các con là những người có trí tuệ, các con phải giải thoát trái tim mình ra khỏi mọi yếu tố của ảo tưởng này để con không bao giờ tìm cách áp lực người khác. Ngược lại, con tìm cách cho họ cảm hứng để chọn lựa hay hơn.

Tại sao thế giới đang như thế này?

Tại sao thế giới đang như thế này? Thế giới này là kết quả của những chọn lựa của tập thể. Chọn lựa của từng cá nhân gộp chung lại với nhiều cá nhân thành chọn lựa tập thể đã tạo ra các điều kiện sống hiện nay. Làm sao thay đổi đây? Chỉ khi nào đủ túc số một nhóm đông đảo cá nhân chọn lựa khác đi vì họ có được sự minh triết lấy một chọn lựa mới tốt hơn. Tuy nhiên con không thể áp lực họ thấy được sự minh triết đó. Con chỉ có thể tạo cảm hứng cho họ qua sự truyền dạy của con. Con dạy như thế nào? Con dạy bằng gương sống của con, con là, con là một với sự minh triết đó.

Con dạy bằng cách con làm gương cho người khác thấy là con sẵn sàng nhìn vào các ảo tưởng, các ảo tưởng trong thế giới chung quanh con (điều này dễ làm và an toàn vì đây là ảo tưởng do người khác tạo ra) và các ảo tưởng bên trong con. Con nhận ra rằng con đã chấp nhận một số ảo tưởng từ bên ngoài tới nhưng chính con cũng đã tạo ra ảo tưởng.

Tại sao con tạo ra một số ảo tưởng? Con tạo ra chúng để con có cái cớ để không tiến lên cao hơn, cái cớ để kềm giữ ánh sáng của mình. Thật ra, con xuống thế gian này để là một ngôi Mặt Trời tỏa rạng ánh sáng đặc thù của con về tình thương vô điều kiện của Thượng đế. Khi tình thương của con cứ bị bác bỏ liên tục bởi những người đã quên mất là họ là những đứa con của tình thương, con mới quyết định kềm giữ lại ánh sáng của con đối với người phàm phu.

Con phải có lý do tại sao chuyện con kềm giữ ánh sáng là cần thiết và thích ứng. Để làm được chuyện này con đã tạo ra một số ảo tưởng nay đã thâm nhập cốt lõi của tâm phàm của con nơi luân xa trái tim. Như vậy nó đã pha màu cách con nhìn đời, và ngay cả cách con nhìn chính mình.

Không chịu cho

Nếu con ngần ngại và không chịu cho – ở đây thày nói tới tinh thần cho rộng rãi và vô điều kiện – thì con đã tạo ra một ảo tưởng biện minh tại sao con không cho, tại sao con không phải cho, tại sao không thể nào cho được, tại sao cho là không đúng.

Có hàng loạt những ảo tưởng như vậy, nhưng chúng là thế đấy: chúng là ảo tưởng, hỡi con yêu dấu. Con không xuống đây để kềm giữ ánh sáng của mình. Con xuống đây vì con thấy hành tinh này tăm tối bởi vì đa số đã kềm giữ ánh sáng của họ. Con xuống đây để tạo một sự thay đổi! Con không tạo sự thay đổi bằng cách làm y như mọi người là kềm giữ ánh sáng của mình. Thày tin rằng con thấy được điều này. Làm sao con tạo được sự thay đổi? Bằng cách làm điều mà người khác không làm.

Bằng cách con cho vô điều kiện, không có nghĩa là con cho một cách vô minh, mà con cho với sự minh triết. Con không cho người khác ánh sáng và năng lượng của con vì con thương cảm, để giúp người đó tiếp tục ở lại trong trạng thái tâm thức giới hạn của họ. Con cho để nâng cao người kia lên trên trạng thái tâm thức hiện thời của họ. Thậm chí có vài trường hợp trông có vẻ như con đang kềm giữ ánh sáng để tránh không khuyến khích người kia. Nhưng khi con quán chiếu lại với sự minh triết rộng lớn hơn, con hiểu rằng thực sự con đã không kềm giữ ánh sáng của mình.

Đây là trường hợp con định hướng ánh sáng của con, khi con cho, con dùng phương cách thích hợp để tạo cơ hội tối ưu để nâng người đó lên cao bằng cách con tạo cảm hứng cho người đó thấy được là cuộc đời của họ có thể tốt lành hơn, rộng lớn hơn hiện tại. Thực vậy, có những trường hợp con không hạ thấp con xuống cùng mức độ và tâm thức của người kia và đồng cảm với họ. Ngược lại con cho họ ánh sáng của con bằng cách làm gương cho họ thấy là có một trạng thái tâm thức cao hơn. Con sẽ không hạ thấp con xuống cùng mức tâm thức của họ, con nhất định không làm như vậy, dù là họ cố gắng kéo con xuống thấp để họ có cái cớ không phải thay đổi chính họ.

Cho trong minh triết

Có một sự khác biệt vi tế giữa giữ lại và cho trong minh triết mà thày sẽ cố giúp cho con thấy. Giữ lại có nghĩa là con ngừng dòng chảy. Cho trong minh triết nghĩa là con điều khiển dòng chảy theo hướng đem lại kết quả tốt nhất. Làm sao con biết chuyển hướng dòng chảy như thế nào? Nếu con dùng trí phân tích vỏ ngoài thì con không sao biết được. Con biết được khi con nối kết với trái tim và con để cho chân tâm của con điều khiển dòng ánh sáng xuyên qua con. Con yêu dấu đây là cách điều khiển dòng ánh sáng.

Con không tìm cách kiểm soát người khác, đó là điều mọi người làm khi họ sợ. Con luôn luôn tìm cách làm chủ và để cho Thượng đế làm chủ chính tâm của con. Như vậy trong mọi hoàn cảnh, con có thể chọn không phản ứng với một phản ứng lập trình có sẵn, giống như thày MORE đã nói. Con có thể chọn nối kết với trái tim mình và từ đó con đáp ứng với một đáp ứng cao hơn. Đáp ứng đó có mục đích nâng cao tâm thức người kia, dù là khi cần thiết, con cũng có thể chất vấn người đó để họ thấy được là họ cần thay đổi. Một lần nữa, con không xét đoán vấn đề với trí vỏ ngoài. Cái trí này có thể phê phán vi tế và từ đó ngăn chặn dòng chảy.

Đôi khi con nghĩ: “Người này phải thay đổi và người này phải thấy điều này ngay bây giờ và tôi phải cứng rắn với người này.” Những lúc khác, con lại nghĩ: “Ồ, người này đang buồn bực. Tôi không thể nào cứng rắn với người này lúc này. Tôi không thể nói cho họ biết sự thật. Tôi phải lui về và không làm gương cho họ thấy tôi ĐANG LÀ trong trạng thái tâm thức cao.” Con thấy không, một lần nữa, là trong nhị nguyên luôn luôn có hai phân cực ngược nhau và ngay cả cái ảo tưởng của lối suy nghĩ xám đứng giữa. Con phải minh triết thấy ra điều này và lùi về. Lần nữa, con không cần phân tích. Con chỉ nối kết với trái tim và để cho chân tâm biểu lộ xuyên qua con.

Mặt Trời nhiều hơn là một hiện tượng vật lý

Mặt Trời vật lý mà con thấy trên trời thật ra nhiều hơn là một hiện tượng vật lý. Nếu những nhà trí thức khoa học tin rằng họ biết hết mọi chuyện, hay ít ra họ cho rằng chẳng có gì khác ngoài vũ trụ vật chất này, nếu họ dùng khoa học để đo lường tổng số năng lượng phát ra từ Mặt Trời vật lý và sau đó đo lường tổng số những tiến trình nội tại xảy ra bên trong Mặt Trời, họ sẽ thấy giữa hai con số có sự thiếu hụt. Năng lượng sản xuất từ các tiến trình vật lý của Mặt Trời không đủ để giải thích tổng số năng lượng mà Mặt Trời phát ra. Thật ra, Mặt Trời vật lý giản dị chỉ là cánh cửa mở cho ánh sáng từ cõi tâm linh tuôn chảy xuống cõi vật chất. Con cũng vậy, con được tạo dựng ra để là cánh cửa mở như thế.

Con có thể điều khiển ánh sáng đến từ Hiện Diện TA LÀ. nhưng đừng rơi vào cái bẫy tìm cách điều khiển nó với trí phân tích vỏ ngoài, thường dễ rơi vào thói quen phán xét của tâm phàm phu. Ngược lại, con chú tâm vào việc nâng cao mọi sự sống thay vì phán xét là người này phải làm như thế này hay như thế kia. Hãy để ánh sáng tuôn chảy và quan sát xem nó tuôn chảy như thế nào. Hãy quan sát chính mình. “Tôi có đang buông bỏ không? Tôi có đang phán xét người kia một cách vi tế không và sự phán xét này đã ngăn cản không cho ánh sáng biểu lộ xuyên qua tôi với tiềm năng cao nhất của nó?” Rồi từ lần con minh triết hơn khi con vượt lên trên sự thông minh của cái trí và luôn cả sự thông minh của các người thày giả. Họ đã đầu độc mọi khía cạnh của cuộc sống trên trái đất này với lý luận nhị nguyên “tinh vi” của họ.

Con hãy vượt lên trên nhị nguyên – cái mà một số người còn lầm tưởng gọi là minh triết. Con hãy minh triết với sự minh triết của trái tim. Sự minh triết này tuôn chảy từ chân tâm cao của con mà cái Ta Biết của con hiểu được nhưng trí vỏ ngoài của con thì không thể hiểu được.

Kho dữ liệu của con

Nhiều lần những người bị kẹt trong cái trí thấp có thể nghĩ ra những luận cứ để bênh vực điều này hay kiều kia hay điều mới nào khác, những luận cứ mà họ cho rằng không thể nào đả phá nổi. Con có thể thấy chuyện này xảy ra với những thày thông giáo và Pha-ri-si chất vấn Ki-tô và những người Bà là môn chất vấn Phật. Vị nào đã đi vào trong tim và nối kết với cái duy nhất trong mọi sự sống có thể trả lời phá tan mọi luận cứ của những bộ óc ưu tú nhất trên hành tinh này, và không những thể còn làm chấn động luôn cái trí. Kết quả là nó mở trái tim ra để đón nhận một kinh nghiệm trực tiếp, vượt lên trên bất cứ cái gì mà cái trí có thể phân tích và phân loại.